ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN KIM ANH NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VỀ NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM HIỆN NAY Ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN KIM ANH
NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ VỀ NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ
CỦA TRẺ EM HIỆN NAY (Nghiên cứu lớp Cao cấp lý luận và Cử nhân chính trị tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN KIM ANH
NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ VỀ NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ
CỦA TRẺ EM HIỆN NAY (Nghiên cứu lớp Cao cấp lý luận chính trị và Cử nhân chính trị tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Mã ngành: 60 31 03 01
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THÙY LINH
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả Luận văn của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Kim Anh
Trang 4Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, Trường ĐH Khoa học xã hội & Nhân văn trong truyền tải những kiến thức chuyên ngành và trong suốt quá trình học tập để tôi có được nền tảng kiến thức vững chắc
Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình, trách nhiệm và năng lực của mình, tuy không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và bạn bè Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Nguyễn Kim Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
3 Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn 12
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cư ́ u 13
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 13
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 14
7 Phương pháp nghiên cứu 14
8 Khung phân tích 16
NỘI DUNG CHÍNH 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1 Các khái niệm công cụ 17
1.1.1 Khái niệm nhận thức 17
1.1.2 Khái niệm trẻ em 18
1.1.3 Khái niệm quyền trẻ em 18
1.1.4 Khái niệm quyền được bảo vệ của trẻ em 19
1.1.5 Khái niệm cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý 20
1.2 Lý thuyết nghiên cứu 23
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội 23
1.2.2 Lý thuyết xã hội hóa 25
1.2.3 Tiếp cận quyền con người trong nghiên cứu quyền trẻ em 27
1.4 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền trẻ em 28
1.4.1 Quan điểm của Đảng về quyền trẻ em 28
1.4.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền trẻ em 30
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VỀ NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA
TRẺ EM 31
2.1 Mô tả mẫu điều tra 31
2.2 Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 34
2.2.1 Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về Công ước quốc tế về quyền trẻ em 34
2.2.2 Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ được quy định trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em 42
2.2.3 Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về quyền trẻ em theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam 51
2.2.4 Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ được quy định trong Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam 52
2.2.5 Một số hình thức giáo dục con cái của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý khi con mắc lỗi 62
CHƯƠNG 3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VỀ NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ CỦA TRẺ EM HIỆN NAY 74
3.1 Nhóm yếu tố về văn hóa, phong tục tập quán ở Việt Nam 74
3.2 Nhóm yếu tố về pháp luật 78
3.3 Nhóm yếu tố về xã hội 82
KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Khối công tác, cấp làm việc của cán bộ, cán bộ LĐ, QL 33 Bảng 2.2: Quan niệm của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về quyền trẻ em theo Công ước QT 39 Bảng 2.3: Tương quan tuổi của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về quyền trẻ em theo Công ước QT 41 Bảng 2.4: Các quyền thuộc nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em trong Công ước QT 43 Bảng 2.5: Tương quan giới tính của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em 45 Bảng 2.6: Tương quan khối công tác của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em 48 Bảng 2.7: Các quyền thuộc Luật BV,CS&GD trẻ em của việt Nam 52 Bảng 2.8: Tương quan trình độ học vấn của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ 55 Bảng 2.9: Tương quan cấp làm việc của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với nhóm quyền được bảo vệ 58 Bảng 2.10: Tương quan cấp làm việc của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với quan niệm bạo hành trẻ em 72 Bảng 3.1: Nhóm yếu tố pháp luật 81
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Độ tuổi của cán bộ, cán bộ LĐ, QL 32
Biểu đồ 2.2: Cán bộ, cán bộ LĐ, QL biết đến Công ước QT về quyền trẻ em 35
Biểu đồ 2.3: Nguồn thông tin cán bộ, cán bộ LĐ, QL biết đến Công ước QT 36
Biểu đồ 2.5: Hình thức giáo dục của cán bộ, cán bộ LĐ, QL khi con mắc lỗi63 Biểu đồ 2.6: Trình độ học vấn của cán bộ, cán bộ LĐ, QL với hình thức giáo dục khi con mắc lỗi 66
Biểu đồ 2.7: Quan niệm của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về bạo hành trẻ em 69
Biểu đồ 3.1: Nhóm yếu tố văn hóa, phong tục tập quán 75
Biểu đồ 3.2 Nhóm yếu tố về xã hội 82
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ ngày thành lập Đảng và Nhà nước cho đến nay, Đảng và Nhà nước
ta luôn nhất quán coi nhiệm vụ BV,CS&GD trẻ em là một nội dung cơ bản của chiến lược con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước Bởi vì, trẻ em có vai trò hết sức quan trọng đối với gia đình và xã hội
Năm 1990, Việt Nam đã ký Công ước QT về quyền trẻ em, trở thành nước đầu tiên ở châu Á, nước thứ hai trên thế giới chính thức cam kết cùng cộng đồng quốc tế ra sức BV,CS&GD trẻ em
Qua hơn hai mươi năm thực hiện Công ước QT, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật đẩy mạnh công tác BV,CS&GD trẻ em, đặc biệt là việc ban hành, bổ sung, sửa đổi Luật BV,CS&GD trẻ em, đảm bảo việc thực hiện quyền trẻ em không chỉ mang ý nghĩa đạo lý sâu sắc mà còn mang tính pháp lý chặt chẽ Việc thực hiện quyền trẻ em ở nước ta bước đầu đã đạt được những thành quả quan trọng, được nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế đánh giá cao Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, giải quyết nhằm đảm bảo cho trẻ em có điều kiện tốt nhất để phát triển toàn diện Bởi lẽ, mỗi đứa trẻ sinh ra là kết quả tình yêu của cha mẹ, là hạnh phúc, tương lai của mỗi gia đình và toàn thể xã hội Một đứa trẻ sẽ phát triển toàn diện khi được sống trong gia đình có sự yêu thương, chăm sóc, đùm bọc và che chở của cha mẹ Trẻ em ngày nay được chăm sóc rất tốt, được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu để phát triển một cách toàn diện nhất Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ những đứa trẻ đang phải sống trong tình cảnh hết sức khó khăn, bị cha mẹ hành hạ, sử dụng bạo lực
Vì thế, xã hội cần đặc biệt chú trọng đến các nhóm trẻ này, đặc biệt là nhóm trẻ có hoàn cảnh khó khăn như: trẻ em thiệt thòi, trẻ em khuyết tật, trẻ em là
Trang 11nạn nhân của bạo lực gia đình, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em mồ côi không nơi nương tựa
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường đã đưa Việt Nam hội nhập cùng Thế giới Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá dần phát triển kéo theo mức sống của người dân ngày một ổn định hơn Tuy nhiên, điều đó cũng khiến cho khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng chênh lệch Khi nông thôn bước vào quá trình đô thị hoá đem lại nhiều cơ hội lao động cho một bộ phận dân cư nhưng đồng thời kéo theo một lượng lớn người dân có nguy cơ bị thất nghiệp cao, gia đình rơi vào khủng hoảng dẫn đến những biến động lớn trên mọi mặt Nhiều gia đình phải rời bỏ nông thôn lên đô thị tìm kế sinh nhai nhưng cuộc sống của họ gặp rất nhiều trắc trở Chính vì thế mà xung đột gia đình xuất hiện cộng thêm sự khủng hoảng kinh
tế gia đình đã dẫn đến các cuộc bạo lực gia đình, tranh chấp tài sản, đánh đập con cái hay ly hôn… Và hậu quả của những cuộc tranh cãi, ly hôn đó đã đẩy những đứa trẻ ngây thơ, bé bỏng trở thành những trẻ em mồ côi lang thang đường phố, không nơi nương tựa
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ; đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Bên cạnh đó, Học viện còn
là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cán bộ LĐ, QL trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của hệ thống chính trị; trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý
Đối tượng được đào tạo tại Học viện Trung tâm là cán bộ, cán bộ LĐ,
QL ở cấp TW; tỉnh, thành phố; quận, huyện, các Bộ, ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, bao gồm: Vụ trưởng, phó vụ trưởng và
Trang 12tương đương trở lên của các bộ, ban, ngành, đoàn thể, đảng ủy trực thuộc Trung ương; tỉnh ủy viên, thành ủy viên, trưởng, phó các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, thành phố trở lên; cán bộ chủ chốt cấp huyện (Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân) và tương đương; cán
bộ được quy hoạch vào các chức danh này
Đánh giá một cách đầy đủ và khoa học về nhận thức của cán bộ, cán bộ
LĐ, QL về vấn đề quyền được bảo vệ của trẻ em sẽ mang đến cái nhìn mới mẻ
và toàn diện hơn về vấn đề này Họ có nhận thức như thế nào về quyền được bảo vệ trẻ em? Họ cần phải làm gì để triển khai thực hiện quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay với cương vị là những người cán bộ, cán bộ lãnh đạo đạo,
quản lý Qua đó, đề tài "Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay" sẽ mang đến một góc nhìn mới
mẻ hơn về vấn đề này
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần sự quan tâm rất lớn của Đảng, Chính phủ và các tổ chức xã hội Việt Nam là nước phê chuẩn Công ước QT
về quyền trẻ em từ năm 1990, trải qua 25 năm áp dụng trong thực tiễn cũng như việc sửa đổi, bổ sung Luật BV,CS&GD trẻ em cho thấy công tác trẻ em ngày càng được coi trọng nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu để trẻ phát triển
một cách toàn diện nhất
Khái quát tình hình nghiên cứu về quyền trẻ em ở Việt Nam thời gian qua, có thể nhận định rằng, đã có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về các vấn đề của trẻ em nói chung và quền trẻ em nói riêng được triển khai và đem
lại những giá trị, ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010 của tác giả Võ Kim Hương giới thiệu đã
mang lại cái nhìn mới Dựa trên cách tiếp cận về quyền con người, báo cáo đã
có một phân tích tương đối toàn diện về tình hình của trẻ em dưới 18 tuổi hiện
Trang 13đang sống ở Việt Nam và tập trung vào những đối tượng khó khăn nhất trong việc tiếp cận như: trẻ em dân tộc thiểu số đang sống ở vùng nông thôn xa xôi; trẻ có hoàn cảnh đặc biệt (trẻ lang thang, trẻ di cư, trẻ vi phạm pháp luật); và các trẻ khác Bên cạnh đó, báo cáo cũng lưu ý đặc biệt đến các hành vi và giá trị có liên quan đến gia đình, truyền thống và văn hóa Việt Nam có ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền trẻ em Phân tích tình hình trẻ em Việt Nam 2010 là kết quả nghiên cứu của UNICER, được xây dựng với sự cộng tác chặt chẽ của chính phủ Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận dựa trên quyền con người và có tính cập nhật và toàn diện cho các bên tham gia trong công tác thúc đẩy an sinh cho trẻ em, cũng như hỗ trợ việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chiến lược nhằm thực hiện tốt hơn quyền của trẻ em Việt Nam Thông điệp quan trọng nhất của nghiên cứu này là kêu gọi giảm sự bất bình đẳng về khả năng tiếp cận các dịch vụ đối với trẻ em [13, tr.75]
Bàn về công tác nâng cao trách nhiệm của gia đình và xã hội trong công tác BV,CS&GD trẻ em, PGS.TS Cao Duy Hạ nhấn mạnh trẻ em là niềm
hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc Công tác BV,CS&GDTE là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội và của mọi gia đình Việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác BV,CS&GDTE đã đạt được những thành tựu quan trọng Bên cạnh đó, bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, hiện nay trong xã hội vẫn còn xảy ra nhiều hiện tượng đau lòng khi bạo hành trẻ em diễn ra ở không ít gia đình, ở một số nơi thuê mướn việc làm, thậm chí ngay cả trong lớp học và
cơ sở nuôi dạy trẻ Một khảo sát vào tháng 3-2006 do Ủy ban Dân số, Gia đình và trẻ em và tổ chức Plan tại Việt Nam thực hiện ở 5 địa điểm: Hà Nội,
Trang 14Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên và Quảng Bình cho thấy có đến 58,3% số trẻ em nói rằng, người lớn dùng các phương pháp quát mắng, chửi, sỉ nhục, đánh tát, phạt úp mặt vào tường để răn dạy các em mắc lỗi [10, tr.62-63]
Trong những năm gần đây, các vụ hạo hành, xâm hại đối với trẻ em được phát hiện và phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, khiến cho cộng đồng xã hội rất quan tâm và lo ngại Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, trong giai đoạn hiện nay, công tác BV,CS&GD trẻ em muốn đạt được kết quả tốt cần phải thực hiện các biện pháp cơ bản sau đây Một là, tăng cường sự quan tâm lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện của các cơ quan Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị xã hội Hai là, Nhà nước phải đầu tư thỏa đáng cho một số hoạt động chính của công tác trẻ em Ba là, các tổ chức xã hội, gia đình và cá nhân phải thực hiện nghiêm túc các điều luật, chính sách và pháp lệnh của Nhà nước về công tác BV,CS&GDTE Bốn là, công tác trẻ em phải được tổ chức thành phong trào quần chúng sâu rộng và thường xuyên[10, tr.18]
Bên cạnh đó, tình trạng trẻ em thất học, bị ngược đãi, không được chăm sóc đầy đủ, lao động sớm, bị lạm dụng tình dục, bị bạo lực trong gia đình… vẫn chưa được ngăn chặn, sự tham gia của trẻ em vào các quyết định liên quan trực tiếp đến bản thân còn chưa được tôn trọng Hai nguyên nhân chính của các bất cập này là do điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung, của các địa phương, cộng đồng và gia đình nói riêng còn thấp, chưa đủ để thực hiện đầy đủ một số quyền trẻ em và do nhận thức của nhiều người lớn, gia đình, cộng đồng, người làm công tác BV, CS&GD trẻ em về quyền trẻ em còn nhiều hạn chế… [16]
Luận văn "Hoạt động của các câu lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em ở tỉnh Lào Cai hiện nay" của tác giả Đỗ Thị Thu Thủy đã cho thấy thực trạng của
các câu lạc bộ trẻ em về quyền trẻ em cũng như những tác động của câu lạc
bộ đến trẻ em và các đối tượng có liên quan Theo kết quả khảo sát của đề tài
Trang 15đã chỉ ra, tại Thành phố Lào Cai và huyện Bát Xát có 180 câu lạc bộ, định hướng hoạt động của các câu lạc bộ nhằm nâng cao nhận thức của các em về quyền trẻ em và tạo sân chân bổ ích cho các em tham gia sinh hoạt, học hỏi, được rèn luyện nơi đông người đồng thời đề tài cũng chỉ ra nội dung các buổi sinh hoạt của câu lạc bộ là tổ chức tập huấn, tuyên truyền về quyền trẻ em, đưa ra các tình huống về vi phạm quyền trẻ em để các em cùng tham gia thảo luận và giúp các em cách phòng tránh những nguy cơ bị xâm phạm Nghiên cứu cũng chỉ rõ, tác động của câu lạc bộ Quyền trẻ em đến các em trong quá trình sinh hoạt câu lạc bộ được tiếp cận kiến thức về bảo vệ quyền trẻ em cũng như vai trò của giáo viên, các bậc phụ huynh và chính quyền địa phương trong việc tham gia các câu lạc bộ trẻ em tại địa phương[25]
Tác giả Đinh Thị Thoa với đề tài nghiên cứu "Người dân huyện Phú Xuyên - Hà Nội và thực hiện nhóm quyền tham gia của trẻ em được quy định trong công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc hiện nay" đã cho
thấy quyền được tham gia là một trong bốn nhóm quyền được quy định trong Công ước Trẻ em được tham gia vào các hoạt động xã hội theo khả năng, sở thích, nguyện vọng và được nêu ý kiến của mình trong các cuộc họp về vấn
đề liên quan đến quyền trẻ em và sự phát triển Tác giả cũng cho rằng đây là các quyền cơ bản để trẻ em được rèn luyện đưa quyết định trước những vấn
đề của cuộc sống Qua nghiên cứu, tác giả cho thấy vấn đề thực hiện quyền tham gia của trẻ em trong các gia đình người dân huyện Phú Xuyên vẫn chỉ ở giai đoạn bước đầu của sự tham gia do ông bà, cha mẹ chưa tạo điều kiện cho trẻ em tham gia và các đoàn thể tổ chức ít các hoạt động dành cho trẻ em để khuyến khích trẻ em tham gia [22]
Tiếp cận dưới góc độ tai nạn thương tích trẻ em: Thực trạng và vấn đề,
tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa thuộc Viện Nghiên cứu Thanh niên đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của trẻ em bị tai nạn thương tích như đặc điểm giới
Trang 16tính và lứa tuổi, hoàn cảnh gia đình cũng như nghề nghiệp của cha mẹ cũng ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề tai nạn thương thích của trẻ em Nếu cha mẹ hoặc các thành viên lớn tuổi khác trong gia đình có sự quan tâm đầy đủ đến con em của họ thì việc đảm bảo an toàn cho trẻ sẽ rất cao Ngược lại, cha mẹ
và người lớn vô tâm, thiếu trách nhiệm trong chăm sóc, quan tâm đến con trẻ
sẽ dễ dẫn đến hậu quả, trẻ có thể gặp tai nạn thương tích ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh khác nhau Kết luận của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trẻ em bị tai nạn thương tích chủ yếu ở lứa tuổi từ 12 đến 14 Ở lứa tuổi này, tâm lý của các em thường hay tò mò, hiếu động, suy nghĩ của các em chưa chín chắn và hành động còn rất nông nổi Trong khi đó, nhiều bậc cha mẹ mải mê mưu sinh, có rất ít thời gian hoặc chưa thực sự quan tâm chăm sóc đến các em Tỷ
lệ tai nạn thương tích ở trẻ em có bố mẹ làm nghề nông, có hoàn cảnh kinh tế nghèo hay trung bình cao hơn trẻ em có bố mẹ làm các nghề khác như: kinh doanh, nghề thủ công, công chức hay gia đình có hoàn cảnh kinh tế khá giả[11, tr.18]
Các nghiên cứu đề cập ở trên đã cung cấp cái nhìn đa chiều về tình hình trẻ em cũng như quyền trẻ em Nhưng vấn đề nhận thức của cán bộ, cán bộ
LĐ, QL về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em còn bỏ ngỏ Do đó, đề tài
"Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay" sẽ cung cấp thêm cái nhìn mới về vấn đề này
3 Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc vận dụng một số khái niệm, lý thuyết xã hội học như lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết xã hội hóa Qua đó, sẽ gợi mở phần nào vấn đề nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ, QL
về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay
Trang 173.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần: Mô tả thực trạng nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ, QL về vấn đề quyền được bảo vệ của trẻ em qua đó các tổ chức, cá nhân có thể hoạch định chính sách ở đơn vị, địa phương để thực hiện tốt công tác này…; Lồng ghép vào giảng dạy tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Là tài liệu tham khảo cho học viên và giảng viên trong
và ngoài Học viện nghiên cứu về vấn đề này
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cƣ ́ u
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL về nhóm quyền được bảo vệ trẻ em và những nhân tố tác động tới nhận thức của họ
Từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao nhận thức của cán
bộ, cán bộ LĐ,QL về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em và tạo cơ sở để
họ có nhận thức đúng đắn về vấn đề này
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm liên quan: nhận thức, trẻ em, quyền trẻ em, quyền được bảo vệ của trẻ em, cán bộ, cán bộ LĐ,QL
- Mô tả thực trạng nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL về nhóm quyền được bảo vệ trẻ em hiện nay
- Những nhân tố tác động tới nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL trong việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay
- Đề xuất những giải pháp , khuyến nghi ̣ nhằm nâng cao nhâ ̣n thức , thái
đô ̣ và trách nhiê ̣m của cán bộ , cán bộ LĐ,QL trong việc đảm bảo thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiê ̣n nay
5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay
Trang 185.2 Khách thể nghiên cứu
Cán bộ, cán bộ LĐ,QL đang theo học tại lớp Cao cấp lý luận chính trị
và Cử nhân chính trị tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Tại các lớp cao cấp lý luận chính trị và cử nhân chính trị học tại trung tâm Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2015 đến tháng 6/2015
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL về quyền trẻ em, nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em được quy định trong Công ước QT và Luật BV,CS&GD trẻ em hiện nay là như thế nào?
- Những nhân tố nào tác động tới nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL trong việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số cán bộ đều có nhận thức tốt về Công ước QT về Quyền trẻ em,
nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em và Luật BV,CS&GD trẻ em
- Những yếu tố: trình độ học vấn, khối công tác, cấp làm việc ít nhiều ảnh hưởng tới nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL về nhóm quyền được bảo
vệ của trẻ em hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu chung như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê … đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
- Phương pháp phân tích tài liệu:
Trang 19Trước khi tiến hành khảo sát thực địa, áp dụng phương pháp phân tích tài liệu để tìm hiểu về thực trạng nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ, QL Kết quả phương pháp này là xác định được tổng quan của vấn đề nghiên cứu Mặt khác trên cơ sở phân tích tài liệu sẽ giúp cho việc chọn mẫu được tiến hành một cách chính xác hơn
- Phương pháp phỏng vấn sâu (5 cuộc): qua đó sẽ nghiên cứu sâu hơn
về những vấn đề cần khảo sát
7.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Phương pháp này thu thập những thông tin định lượng để đo lường thực trạng nhận thức của đội ngũ cán bộ, cán bộ LĐ, QL về nhóm quyền được bảo vệ trẻ em hiện nay Toàn bộ cuộc khảo sát sẽ phát 285 phiếu trưng cầu ý kiến cho các nhóm đối tượng là cán bộ các lớp cử nhân chính trị và cao cấp lý luận chính trị tại Học viện trung tâm
Trang 20LĐ, QL
về Nhóm quyền được bảo vệ của trẻ
em
Quyền trẻ em theo Công ước quốc tế, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam
Nhóm quyền được bảo
vệ theo Công ước quốc
tế, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Việt Nam
Trang 21NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm nhận thức
Theo các tác giả cuốn Từ điển hiện đại về Xã hội học: “Nhận thức là quá trình trong đó cá nhân nhận biết và lý giải môi trường sống của mình Nhận thức bao gồm tất cả các quá trình mà nhờ nó cá nhân tìm kiếm được tri thức, bao gồm quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ghi nhớ, tìm tòi, tưởng tượng, khái quát và phán xét” [2, pg.56]
Cùng với các quá trình nhận thức về cảm giác, tri giác, tư duy còn có quá trình nhận thức về giá trị kiểu “thông hiểu” mà Weber đã phân tích kỹ Weber cho rằng con người có thể nhận biết hay có tri thức về người khác bằng cách “nhập vai”, “đóng vai”, hay “đặt mình vào địa vị của người khác” hoặc bằng cách đơn giản là tiếp xúc, giao tiếp, tương tác với họ Khái niệm
“nhận thức” được dùng với nghĩa là quá trình mà cán bộ lãnh đạo, quản lý hiểu biết những tri thức về trẻ em, về bạo hành trẻ em Từ góc độ xã hội học, khái niệm nhận thức nói đến quá trình nhận thức về xã hội
Tóm lại, nhận thức là quá trình hiểu biết, quá trình nắm bắt những tri thức nhất định hay đạt được những kiến thức nhất định về những sự vật, hiện tượng nhất định Để đánh giá được trình độ nhận thức cần phải dựa vào kết quả của quá trình nhận thức tức là “kiến thức”, “hiểu biết”, “tri thức” Nhưng nếu xét kỹ hơn, mỗi một đơn vị tri thức hay kiến thức cũng phản ánh trình độ nhận thức với tư cách là một quá trình nhận thức Nói cách khác, việc phân biệt nhận thức và kiến thức, tri thức là cần thiết nhưng không được tuyệt đối hóa sự khác biệt giữa hai khái niệm này Do vậy, đề tài đi nghiên cứu kiến thức hay tri thức về trẻ em, bạo hành trẻ em của cán bộ, cán bộ LĐ, QL và xem xét cả cách nhận thức, cách tiếp thu các kiến thức về trẻ em, về bạo hành
Trang 22trẻ em Với cách tiếp cận như vậy mới có thể giúp phát hiện ra nguyên nhân
và yếu tố tác động vào quá trình nhận thức để tạo ra những tri thức hay kiến thức khoa học, đầy đủ và chính xác hơn về quyền trẻ em nói chung và nhóm quyền được bảo vệ trẻ em nói riêng
1.1.2 Khái niệm trẻ em
Khái niệm trẻ em đã được nhắc tới trong Tuyên bố Giơnevơ năm 1924
và tại Điều 1 phần 1 Công Ước QT về Quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới mười tám tuổi”[28, tr.23], trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn Trong Luật BV,CS&GD trẻ em có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005: “Trẻ
em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [31, tr.4] Căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội, truyền thống và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, độ tuổi tối đa của người được coi là trẻ em có thể khác nhau, nhưng nhìn chung là không quá 18 tuổi Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động, lứa tuổi 16-18 vẫn cần được coi là trẻ em Vì đây là lứa tuổi thuộc nhóm vị thành niên mà công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cần đặc biệt quan tâm
Trong đề tài này, trẻ em được hiểu là nhóm dưới 16 tuổi, chưa trưởng thành về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ, chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời
Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng
là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
1.1.3 Khái niệm quyền trẻ em
Quyền trẻ em là quyền con người của trẻ em Quyền trẻ em là sự bảo đảm
và bảo vệ bằng pháp luật để trẻ em được sống, trưởng thành, phát triển toàn diện,
Trang 23lành mạnh Công ước QT về quyền trẻ em có hiệu lực quốc tế từ ngày 02/9/1990, quy định bốn nhóm quyền cơ bản là:
1- Nhóm quyền được sống: trẻ em còn non nớt về cả thể chất và tinh
thầntrẻ em phải có quyền được sống và được hưởng nhiều nhất sự chăm sóc
về thể chất, được bảo vệ, phát triển đầy đủ về thể lực
2- Nhóm quyền được phát triển: trẻ em có quyền được giáo dục, đào
tạo ở các cấp bậc khác nhau, được tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển cả
về thể lực và trí lực
3- Nhóm quyền được bảo vệ: trẻ em phải được bảo vệ cả trước và sau
khi sinh, được bảo vệ trong việc hưởng mọi quyền lợi
4- Nhóm quyền được tham gia: trẻ em có quyền tự do biểu đạt, bày tỏ ý
kiến, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo, tự do kết giao và tự
do hội họp hoà bình, tự do tìm kiếm, nhận và phổ biến mọi loại thông tin và
tư tưởng, không kể biên giới dưới bất kỳ hình thức nào, phương diện nào
Tóm lại, quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn
1.1.4 Khái niệm quyền được bảo vệ của trẻ em
Khái niệm bảo vệ trẻ em không dừng lại ở việc ngăn ngừa những sự xâm hại về thể chất, tinh thần với trẻ mà còn bao gồm cả việc ngăn ngừa và khắc phục những điều kiện bất lợi đối với cuộc sống của trẻ em Theo Công ước QT về quyền trẻ em, “nhóm quyền này bao gồm các quyền của trẻ em được bảo vệ khỏi các hình thức bóc lột, lạm dụng, sao nhãng, bỏ mặc khỏi sự phân biệt đối xử và bảo vệ trong các trường hợp đặc biệt như bị mất môi trường gia đình, trong các hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai…” [23, tr.31]
Hay nói cách khác, Công ước QT về quyền trẻ em quan tâm đến việc trẻ em được bảo vệ khỏi:
Trang 24- Sự bỏ rơi: Bao gồm cả sự bỏ rơi của bố mẹ hoặc toàn xã hội mà có thể tước đi sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
- Các tình huống nguy hiểm và chiến tranh: Bao gồm những đe dọa khẩn cấp đối với sự sống còn và phát triển của trẻ em Trẻ em tị nạn, trẻ em sống trong bối cảnh xung đột vũ trang và trẻ em làm trái pháp luật là những đối tượng thuộc nhóm này
- Sự bạo lực, lạm dụng, ngược đãi và bóc lột: bao gồm tất cả các hình thức xâm hại, đối xử gây tổn hại về mặt thể chất và tinh thần đối với trẻ em, làm ảnh hưởng đến sự phát triển một cách toàn diện của các em Khái niệm bạo hành ngày nay không chỉ là dùng bạo lực làm tổn thương thân thể, gây thương tích, tàn tật mà còn là sự lăng nhục về tinh thần, là sự xúc phạm danh
dự và nhân phẩm người khác đến mức có thể gây ra những “sang chấn tâm lý” - tức là bạo hành bằng tinh thần cũng có thể cấu thành tội phạm hình sự
Dù trẻ em bị lạm dụng ở bất kỳ hình thức nào kể trên đều để lại những vết sẹo trong tâm hồn, và đôi khi những vết sẹo này để lại dấu ấn trong suốt cuộc đời
- Sự phân biệt đối xử: Công ước QT quy định bảo vệ trẻ em gái, trẻ em tàn tật, trẻ em bị nạn, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em bản xứ khỏi bất cứ hình thức phân biệt đối xử nào của các em [30, tr.23]
1.1.5 Khái niệm cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành rất nhiều tâm huyết cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ Theo người, cán bộ “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [7, tr.269] Thực tế là mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do cán bộ nghiên cứu đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay không đều phụ thuộc vào cán
Trang 25bộ Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân, mà hạt nhân chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, chính là quan điểm về con người với tính cách vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Đó là biểu hiện cụ thể của quan điểm “lấy dân làm gốc” của chủ tịch Hồ Chí Minh
Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức động viên thực
hiện chúng [6, tr.540] Lãnh đạo thường nhấn mạnh đến chức năng định hướng về tư tưởng, sắp xếp về cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của một hệ thống xã hội nào đó Hay có một định nghĩa khác về lãnh đạo: lãnh đạo là việc khuyến khích, ảnh hưởng và thúc đẩy người khác đạt được mục tiêu nhất định và người lãnh đạo là người có đặc điểm, phẩm chất và năng lực thực hiện hoạt động lãnh đạo Từ quan điểm trên cần trả lời câu hỏi xã hội học hiểu như thế nào về lãnh đạo?
Từ góc độ xã hội học có thể định nghĩa: lãnh đạo là một kiểu quan hệ giữa con người và xã hội trong đó diễn ra quá trình định hướng, tác động, ảnh hưởng đến nhóm xã hội, cộng đồng xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định [12, tr.33]
“Cán bô ̣ lãnh đa ̣o” là những người đứng đầu , phụ trách một tổ chức , đơn vi ̣, phong trào nào đó do bầu cử hoă ̣c chỉ đi ̣nh Cán bộ lãnh đạo có trách nhiê ̣m đề ra những phương hướng , chủ trương, trước hết là nhữn g quyết đi ̣nh
có tính chất quan trọng nhất “Cán bô ̣ lãnh đa ̣o” được phân làm nhiều cấp: cấp
vĩ mô toàn quốc, cấp ngành, cấp đi ̣a phương và cấp cơ sở “Cán bô ̣ lãnh đa ̣o”
ở các cấp khác nhau thì tầm quan trọng có khác nhau Yêu cầu của “cán bô ̣ lãnh đạo” về phẩm chất cá nhân là người có uy tín , là người đại diện cho số đông, cho tâ ̣p thể “Cán bô ̣ lãnh đa ̣o” phải là người có khả năng thu phu ̣c nhân tâm, nhân tài, có khả năng sử dụng “đúng ngườ i, đúng viê ̣c”; là người có tri
Trang 26thức, có kinh nghiệm ở lĩnh vực phụ trách , có tầm nhìn, biết quy tu ̣ “nhân tài,
vâ ̣t lực”
Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu
nhất định [6, tr.540] Quản lý ở một góc độ nhất định thường nhấn mạnh đến chức năng điều hành, tổ chức những công việc hoặc những hoạt động cụ thể Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý, hướng khách thể quản lý đến những mục tiêu đã được xác định trước
Nhìn từ góc độ xã hội học có thể định nghĩa: quản lý là một kiểu quan
hệ giữa con người và xã hội trong đó diễn ra quá trình ra quyết định, tổ chức, chỉ đạo, khuyến khích, động viên, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội của con người [12, tr.35]
Cán bộ quản lý là người mà hoa ̣t đô ̣ng nghề nghiê ̣p của ho ̣ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với viê ̣c thực hiê ̣n chức năng về quản lý ; là người điều hành, hướng dẫn, và tổ chức thực h iê ̣n những quyết đi ̣nh của cán bộ lãnh đa ̣o Họ được trao quyền đánh giá mô ̣t cách đô ̣c lâ ̣p , chỉ đạo hoạt động, công viê ̣c của người khác, hay của mô ̣t đơn vi ̣ tổ chức, mô ̣t khâu trong mô ̣t quá trình nào đó Cán bộ quản lý được phân loa ̣i theo nghề nghiê ̣p, theo năng lực, theo chức vu ̣ Cán bộ quản lý vừa là người điều hành vừa là người quản lý đòi hỏi phải giỏi chuyên môn, phải có năng lực phẩm chất điều khiển, phải có khả năng tổ chức công viê ̣c và đoàn kết cộng đồng [17, tr.76-77]
Cả cán bộ QL và cán bộ LĐ đều đòi hỏi các nhóm phẩm chất sau: phẩm chất chính tri ̣, phẩm chất năng lực, và phẩm chất cá nhân Tuy nhiên, tùy từng điều kiê ̣n, hoàn cảnh cụ thể, thứ tự yêu cầu về các loa ̣i phẩm chất có thể khác nhau
Trang 27Còn khái niệm cán bộ LĐ , QL theo Luật Công chức ở Việt Nam là những người giữ cương vị cấp trưởng, cấp phó của các cơ quan Đảng, chính
quyền, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị hiện nay
Trong đề tài này khái niệm cán bộ, cán bộ LĐ,QL được hiểu là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước có chức vụ, quyền hạn hoặc đang được quy hoạch một chức vụ nào đó được xã hội gán cho nhằm thực hiện vai trò, chức năng của mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao Những cán bộ, cán bộ LĐ,QL hiện đang học tại học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là những trưởng phó phòng ban của tỉnh, là lãnh đạo chủ chốt hay quy hoạch chức danh chủ chốt của một tỉnh nơi họ đang công tác Do vậy, họ có ảnh hưởng nhất định đến việc đưa ra các chủ trương, chính sách lãnh đạo ở các tỉnh, và cũng là những người kiểm tra, giám sát việc thực hiện những chủ trương chính sách ấy nhằm đảm bảo an sinh xã hội, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội, trật tự an ninh… của địa phương nơi họ đang công tác
1.2 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
M Weber (1864 - 1920) là nhà kinh tế học, nhà sử học, nhà xã hội học bách khoa toàn thư người Đức, xây dựng thuyết hành động xã hội vào khoảng đầu thế kỷ XX Hành động xã hội được M Weber định nghĩa là hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác trong đường lối, quá trình của nó [5, tr.117] Hành động xã hội đòi hỏi có động cơ chủ quan của cá nhân (hay nhóm) và sự định hướng đến người khác
Hành động xã hội được định hướng như thế nào? Câu trả lời được tìm thấy trong cách Weber phân loại hành động xã hội với bốn mẫu sau đây:
Thứ nhất, một số hành động của con người được thúc đẩy do cảm xúc
hay còn gọi là hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái xúc cảm
Trang 28hoặc tình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động
Thứ hai, hành động mang tính truyền thống: là loại hành động tuân thủ
những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác
Thứ ba, hành động hợp lý về giá trị (hành động duy lý giá trị) được
định hướng theo giá trị như là một sự cứu vớt linh hồn: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động, có giá trị nào đó quyết định hành động Hành động đó được thúc đẩy bởi ý thức của chủ thể về giá trị mà hành động
đó mang lại cho mình, có sự cân nhắc của chủ thể về giá trị của hành động Hành động cân nhắc đến giá trị thì đó là hành động tích cực, được đánh giá cao
Hành động theo giá trị khác với hành động theo truyền thống Những hành động theo truyền thống không phải suy tính nhiều, hành động theo giá trị thì phải suy nghĩ, cân nhắc, thậm chí diễn ra cả xung đột nội tâm
Thứ tư, hành động duy lý công cụ hay hành động hợp lý công cụ: là
hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất Nó là loại hành động có tính chủ động cao, động cơ thúc đẩy mạnh mẽ
Cách chia hành động xã hội như trên chỉ là tương đối, có thể có hoạt động vừa hướng tới mục đích, vừa hướng tới giá trị Theo Weber, bốn hình mẫu trên đây của hành động không tồn tại độc lập hoàn toàn với nhau mà
có sự tác động và thâm nhập vào nhau Theo quan niệm của Weber, con người khi hành động luôn luôn có nội dung, ý nghĩa chủ quan
Vận dụng lý thuyết hành động vào trong nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nhận thức của cán bộ, cán bộ LĐ,QL về quyền trẻ em nói chung và nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em nói riêng qua đó họ có sự tìm hiểu, cân nhắc,
Trang 29kiểm chứng thông tin tạo nền tảng cơ sở cho cán bộ nói chung và cán bộ LĐ,QL nói riêng đưa ra quyết định của mình trong từng hoàn cảnh cụ thể
1.2.2 Lý thuyết xã hội hóa
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về xã hội hóa Nhà khoa học người Nga G.Andreeva cho rằng: “Xã hội hóa là quá trình hai mặt Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội”[18, tr 258-259]
Quá trình xã hội hóa diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người Có nhiều nhân tố tác động vào quá trình xã hội hóa nhưng chủ yếu là ba nhân tố sau: gia đình, nhà trường và xã hội Ngoài ra còn một số nhân tố khác tác động đến quá trình xã hội hóa cá nhân như: nhà nước, tôn giáo, dư luận xã hội, nơi làm việc…nhưng trong phạm vi đề tài, tôi tập trung vào ba nhân tố chính nêu trên:
Gia đình: gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên và quan trọng với
cá nhân Đối với hầu hết các cá nhân, gia đình là môi trường đầu tiên dạy cho trẻ em những kinh nghiệm xã hội, các giá trị, tiêu chuẩn văn hóa và dần dần trẻ em kết hợp nó vào ý thức cá nhân Theo đó, mỗi gia đình là một tiểu văn hóa với những lối sống, truyền thống riêng…Mỗi cá nhân trong gia đình sẽ tiếp nhận giá trị, cách cư xử từ ông bà, bố mẹ, các thành viên trong gia đình mình
Nhà trường: Trường học là nơi học sinh được cung cấp những kiến
thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, văn hóa làm nền tảng cho cuộc sống sau này của mỗi cá nhân Thời kỳ này giúp cá nhân hình thành những tương tác và những mối quan hệ xã hội Trong nhà trường mỗi cá nhân có mối quan hệ giữa trò với trò, thầy với trò và thầy với thầy Qua đó thể hiện tính đa dạng xã hội ở nhà trường thường tạo ra nhận thức rõ ràng hơn về vị trí của mình trong
Trang 30cấu trúc xã hội đã hình thành trong quá trình xã hội hóa ở gia đình Nhà trường cũng giúp cá nhân định hướng lại những tác động từ nhóm bạn bè hay những ảnh hưởng khác từ quá trình học hỏi phi chính thức Trường học không chỉ là một thiết chế xã hội hóa hay một thiết chế giáo dục mà còn là một cơ chế sàng lọc, lựa chọn và định hướng cá nhân phát triển theo những con đường phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân
Theo đó, nhà trường của trẻ là một thiết chế xã hội hóa chính và ngày càng trở nên quan trọng trong xã hội hiện đại Trong quá trình tham gia học tại nhà trường, trẻ em không những được học kiến thức mà còn được rèn luyện kỹ năng sống, sự tự tin và sự hình thành con người
Xã hội: ở môi trường này mỗi cá nhân sử dụng truyền thông đại chúng
như là một phương tiện cung cấp thông tin chủ yếu cho mình Truyền thông mang lại cho con người những kinh nghiệm xã hội, những mẫu văn hóa mang tính tiêu chuẩn dưới cách nhìn phổ biến Theo đó, các thành viên trong xã hội đều chịu ảnh hưởng ở mức độ khác nhau do những gì mà các phương tiện thông tin đại chúng coi trọng hoặc xem nhẹ, đánh giá tích cực hay tiêu cực
Nó cũng là một kênh quan trọng để phổ biến văn hóa, giúp cá nhân hiểu được những mẫu văn hóa, phông văn hóa khác nhau Ngoài ra trong mối quan hệ với bạn bè, nhóm bạn cùng lứa tuổi là những người khá quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân Trong nhóm bạn, vai trò độc lập của cá nhân góp phần hình thành các kinh nghiệm trong quan hệ xã hội cũng như ý thức về bản thân khác với những gì có trong gia đình Nhóm bạn cũng tạo ra cơ hội cho các thành viên chia sẻ, thảo luận về các mối quan tâm mà trong đó có những cái thường không làm được điều tương tự với bố mẹ hay các thầy cô giáo Vai trò của nhóm bạn quan trọng nhất ở lứa tuổi thiếu niên và thanh niên, đặc biệt là khi các thành viên bắt đầu sống xa gia đình
Trang 31Thông qua cách tiếp cận này có thể nhận thấy, mỗi cá nhân tự chủ động hay thụ động có được những hiểu biết về quyền trẻ em Từ đó, có thể thấy rằng mức độ tác động của truyền thông cụ thể là phương tiện thông tin đại chúng đến cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của
họ trong việc nhìn nhận về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em Như vậy, thông qua các quá trình xã hội hóa kể trên có thể sẽ có những tác động, tuy ở mức độ khác nhau, qua các kênh thông tin khác nhau đã phần nào chi phối nhận thức về quyền trẻ em nói chung và nhóm quyền được bảo vệ nói riêng
và hoạt động của cán bộ, cán bộ LĐ, QL trong công việc cũng như trong mối
quan hệ với con cái trong gia đình
1.2.3 Tiếp cận quyền con người trong nghiên cứu quyền trẻ em
Trước hết phải khẳng định rằng, quyền trẻ em là một bộ phận quan trọng của quyền con người Vì trẻ em cũng là một thực thể con người, là thành viên của xã hội, có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, tương lai của dân tộc và nhân loại Không một xã hội nào có thể phát triển được nếu không BV,CS&GD trẻ em Trẻ em đồng thời là công dân của một quốc gia, do đó sẽ có quyền công dân Hơn nữa, đây lại là những công dân còn non nớt về thể chất, chưa trưởng thành về tinh thần và trí tuệ, cho nên quyền trẻ em cần được quan tâm hơn so với việc đảm bảo thực hiện quyền của người lớn và cũng có những điểm khác với quyền của người lớn Những công dân đặc biệt này không thể tự thực hiện và bảo vệ các quyền của mình, mà chủ yếu phụ thuộc vào gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội
Ở Việt Nam, quan điểm truyền thống về trẻ em là xem trẻ em như một đối tượng mà Nhà nước, gia đình và xã hội cần phải hỗ trợ và bảo vệ, chứ không phải là chủ thể của quyền Do đó, vai trò của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với trẻ em chủ yếu như là người cung cấp dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu của trẻ em và như là một thiết chế để trẻ em khỏi bị thiệt thòi, xâm
Trang 32hại Mặc dù bản thân điều này là tích cực, nhưng quan niệm đó lại không bao gồm những khía cạnh quan trọng khác của quyền trẻ em như nguyên tắc phổ biến, không thể chia cắt, tham gia, trao quyền hay sự chịu trách nhiệm của Nhà nước Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Những vấn đề xã hội mới phát sinh từ quá trình chuyển đổi theo hướng một xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong việc chăm sóc trẻ em sẽ không thể giải quyết được, nếu Nhà nước và xã hội tiếp tục giải quyết những vấn đề đó theo cách tiếp cận truyền thống [24, tr.48]
Nét quan trọng của cách tiếp cận này là được thể hiện ở hai khía cạnh Thứ nhất, trẻ em là chủ thể của các quyền; Thứ hai, quyền trẻ em được dựa trên mối quan hệ cơ bản giữa trẻ em, với tư cách là người được hưởng quyền và có quyền yêu cầu với tất cả những người lớn trong bộ máy Nhà nước, cộng đồng và gia đình có trách nhiệm thi hành pháp lý các đòi hỏi đó Cách tiếp cận này khẳng định trẻ em là chủ thể của các quyền,
có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ, giáo dục, chứ không đơn giản chỉ là đối tượng của sự quan tâm chăm sóc
Cách tiếp cận quyền con người trong nghiên cứu trẻ em là cơ sở đánh giá kết quả thực hiện quyền trẻ em và tìm hiểu về nhận thức của cán bộ, cán
bộ LĐ,QL trong việc thực hiện nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em hiện nay
1.4 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền trẻ em
1.4.1 Quan điểm của Đảng về quyền trẻ em
Đảng và Nhà nước Việt Nam có các quan điểm và chính sách nhất quán
về quyền trẻ em; theo đó công tác BV,CS&GD trẻ em phải được coi là một trong những nhiệm vụ trung tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ trung ương xuống địa phương, là một vấn đề ưu tiên trong chiến lược và mọi chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Ngay từ những năm
40 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc xóa đói, xóa
Trang 33mù, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhân dân nói chung và trẻ em nói riêng Bản Hiến Pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946 đã trịnh trọng ghi nhận
sự bảo vệ trẻ em (Điều 14,15) Quan điểm nhất quán về chăm lo và bảo đảm quyền trẻ em được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp 1959, 1980,
1992 (và sửa đổi năm 2001) Quan điểm của Đảng về BV,CS&GD trẻ em nói chung và quyền trẻ em nói riêng được thể hiện đậm nét trong chỉ thị 55-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa VIII ngày 28/6/2000 Có thể tóm lược những quan điểm chính sau đây:
Thứ nhất, chăm lo đến con người, phát triển toàn diện năng lực cá nhân
là bản chất của chế độ xã hội ta, là động lực và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Thứ hai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất
nước, là lớp người sẽ tiếp tục sự nghiệp của tổ tiên, gánh vác việc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thực hiện quyền
trẻ em là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn bộ hệ thống chính trị
Thứ tư, quyền trẻ em là một bộ phận không thể tách rời của quyền con người Thứ năm, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, tôn trọng và bảo đảm
quyền trẻ em là trách nhiệm hàng đầu thuộc về gia đình, Nhà nước và toàn xã hội
Thứ sáu, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cần được coi là
nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài, là ưu tiên thường xuyên đối với các cấp Đảng, chính quyền và có sự phối hợp hành động giữa các ngành, cũng như toàn xã hội
Thứ bảy, giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục thế hệ trẻ là một
mục tiêu trọng yếu của công tác chăm lo đến sự phát triển con người của toàn Đảng và toàn dân [23, tr.61]
Trang 341.4.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền trẻ em
Thứ nhất, mọi trẻ em đều có quyền bảo vệ, chăm sóc và giáo dục với sự
quan tâm đặc biệt của Nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội
Thứ hai, bình đẳng và không phân biệt đối xử đối với mọi trẻ em
Thứ ba, Nhà nước quan tâm đặc biệt tới nhóm trẻ em thuộc đối tượng
chính sách, trẻ em khuyết tật, trẻ em nạn nhân chất độc da cam, trẻ mồ côi, không nơi nương tựa…
Thứ tư, bình đẳng dân tộc và đại đoàn kết dân tộc Chính sách này tạo
cho mọi trẻ em đều có quyền bình đẳng về cơ hội trong việc tiếp cận chăm sóc, bảo vệ, giáo dục và phát triển
Thứ năm, thực hiện chính sách nhân đạo, khoan dung và giáo dục, xử
lý chuyển hướng đối với trẻ em làm trái pháp luật [23, tr.63]
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA CÁN BỘ, CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VỀ NHÓM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ
CỦA TRẺ EM 2.1 Mô tả mẫu điều tra
Năm học 2014 – 2015, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ
chức 13 lớp Cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung, học tại Trung tâm Học
viện, mỗi lớp có từ 30 – 35 học viên Khi tiến hành nghiên cứu này, đề tài đã
khảo sát 6 lớp theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Bên cạnh đó, đề tài
cũng tiến hành khảo sát 3 lớp Cử nhân chính trị, mỗi lớp từ 30 – 40 học viên, bao gồm 02 lớp cử nhân tổ chức và 01 lớp cử nhân tôn giáo Số phiếu phát ra 285
phiếu; Số phiếu thu về 285
Trong 285 phiếu phát ra thì nam giới với 191 phiếu, chiếm tỷ lệ 67%,
nữ giới chiếm 94 phiếu, chiếm tỷ lệ 33% Điều này cho thấy, tỷ lệ cán bộ là
nữ đi học cử nhân chính trị và cao cấp lý luận chính trị ở Học viện còn tương
đối thấp, dù trong thời gian qua Học viện đã có những chính sách ưu tiên đối
với cán bộ là nữ
Về độ tuổi của người được phỏng vấn được chia thành ba nhóm: độ
tuổi từ 25 đến 35 chiếm 52%, từ 36 đến 45 tuổi chiếm 44,5% và trên 46 tuổi
chiếm 4,5% Kết quả cho thấy, cán bộ, cán bộ LĐ, QL đa phần nằm trong độ
tuổi từ 25 đến 35 và độ tuổi tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là cán bộ, cán bộ LĐ,
QL trên 46 tuổi Điều này cho thấy, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới
việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ
Trang 36Biểu đồ 2.1: Độ tuổi của cán bộ, cán bộ LĐ, QL
Đơn vị:%
52 44.5
4.5
25-35 tuổi 36-45 tuổi Trên 46 tuổi
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)
Về trình độ chuyên môn cho thấy: cán bộ, cán bộ LĐ, QL đang theo học
các hệ lớp được tiến hành khảo sát có trình độ cử nhân và thạc sĩ trở lên, cụ thể: Cử nhân: 176 phiếu, chiếm 61,8%; Thạc sĩ trở lên: 109 phiếu, chiếm 38,2%
Về Khối công tác: kết quả nghiên cứu cho thấy, cán bộ, cán bộ LĐ, QL
theo học tại các hệ lớp chủ yếu công tác tại 4 khối khác nhau trong đó cán bộ công tác ở khối chính quyền chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,1%, thấp nhất là cán
bộ khối doanh nghiệp với 10,9%
Về cấp làm việc: kết quả khảo sát cho thấy, cán bộ tham gia học tập tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ yếu ở 3 cấp làm việc: Trung ương; Tỉnh, Thành phố và Quận, huyện Trong đó cán bộ công tác ở cấp tỉnh, thành phố chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,6%; cấp quận, huyện với 40% và thấp nhất là cấp TW với 15,4% Phải nói thêm rằng, tùy thời điểm tổ chức lớp học
mà tỷ lệ cơ cấu ở các cấp này là khác nhau
Trang 37Bảng 2.1 Khối công tác, cấp làm việc của cán bộ, cán bộ LĐ, QL
Đảng Chính
quyền
Đoàn thể
Doanh nghiệp TW Tỉnh, TP
Quận, huyện
87 30,5 100 35,1 67 23,5 31 10,9 44 15,4 127 44,6 114 40
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)
Chức vụ trước khi đi học: cán bộ tham gia học tập tại lớp cao cấp lý luận
chính trị và cử nhân chính trị có chức vụ khác nhau Kết quả nghiên cứu thu
về cho thấy tỷ lệ như sau: Trưởng ngành tỉnh, thành phố: 18 phiếu, chiếm 6,3%; Phó trưởng ngành tỉnh, thành phố: 21 phiếu, chiếm 7,4%; Trưởng ngành quận, huyện: 16 phiếu, chiếm 5,6%; Phó trưởng ngành quận, huyện: 28 phiếu, chiếm 9,8%; Trưởng phòng, ban: 55 phiếu, chiếm 19,3%; Phó trưởng phòng, ban: 95 phiếu, chiếm 33,3%; Chuyên viên, nghiên cứu viên: 52 phiếu, chiếm 18,3%
Tình trạng hôn nhân của cán bộ, cán bộ LĐ, QL đang học tại Học viện
hầu hết đã kết hôn, tỷ lệ cán bộ chưa kết hôn, ly thân, ly hôn không đáng kể:
đã kết hôn: 269 phiếu, chiếm 94,4%, chưa kết hôn: 13 phiếu, 4,6%, ly hôn: 2 phiếu, chiếm 0,7%, ly thân: 1 phiếu, chiếm 0,4%
Về số con: Kết quả nghiên cứu thu về cho thấy, hầu hết các cán bộ đã
có 2 con chiếm tỷ lệ rất cao, cụ thể: chưa có con: 13 phiếu, chiếm 4,6%, có 1 con: 100 phiếu, chiếm 35,1%, có 2 con: 163 phiếu, chiếm 57,2%, trên 2 con:
9 phiếu, chiếm 3,2%
Trang 382.2 Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
2.2.1 Nhận thức của cán bộ, cán bộ lãnh đạo, quản lý về Công ước quốc tế về quyền trẻ em
Công ước QT ra đời là một bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi nhận thức
về địa vị của trẻ em từ “lĩnh vực tư” gia đình đã trở thành mối quan tâm của
cả xã hội và nhân loại Trẻ em được khẳng định là chủ thể của quyền chứ không phải là đối tượng của các chính sách xã hội Mục tiêu của Liên hợp quốc hướng đến là nhằm xác lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế, tạo điều kiện cho việc bảo vệ và phát triển toàn diện trẻ em [23, tr.18]
Để làm tốt công tác mà Công ước QT hướng đến thì nhận thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cá nhân quyết định hành động của mình Theo đó, nhận thức thường gắn với một mục đích nhất định, nên nhận thức của con người thường là một hoạt động Đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm…) [30, tr.37] Nó là cách nhìn nhận, đánh giá của con người trước những sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan vì thế ở đây, nếu những cán bộ, cán bộ LĐ, QL đồng thời cũng có vai trò làm cha, làm mẹ nhận thức tốt về Công ước và Luật BV,CS&GD trẻ em sẽ giúp cho họ có những hành động đúng trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và thực hiện tốt nhóm quyền được bảo vệ của trẻ trong gia đình Ngược lại, nếu họ không biết hoặc không nhận thức đúng về các nhóm quyền của trẻ được quy định trong Công ước thì sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo và tôn trọng quyền của các em
Thực tế cho thấy, điều này còn ảnh hưởng đến kết cấu gia đình, hạnh phúc gia đình nếu như các em đã biết về quyền của mình thông qua môi
Trang 39trường giáo dục được các thầy cô giảng trên lớp hay các phương tiện thông tin
đại chúng Và điều tác động ngược trở lại là, khi về nhà các em có những
phản ứng lại người lớn, các em cho rằng mình có những quyền như vậy và
những quyền này đã được Công ước QT công nhận Nhưng vấn đề đặt ra là,
cha mẹ các em có biết đến sự tồn tại của các quyền đó hay không, hay họ cho
rằng phản ứng đó là sự chống đối lại, là không nghe lời
Kết quả khảo sát cho thấy: có 278 cán bộ cho biết họ đã từng được
nghe về Công ước QT về quyền trẻ em, chiếm tỷ lệ 97,5% Bên cạnh đó, vẫn
còn 7 cán bộ tương đương với 2,5% cán bộ cho biết họ chưa nghe đến Công
ước QT về quyền trẻ em
Biểu đồ 2.2: Cán bộ, cán bộ LĐ, QL biết đến Công ƣớc QT
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)
Có thể thấy rằng, công ước QT về quyền trẻ em năm 1990 là điều ước
quốc tế đa phương phản ánh tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em
cũng như sự quan tâm của các quốc gia đối với thế hệ trẻ Lần đầu tiên, Công
ước về quyền trẻ em đã khái quát được các khía cạnh về quyền trẻ em và xác
định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em và
mối quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con người nói chung, công tác nhân
Trang 40quyền đặc biệt là quyền trẻ em được hết sức chú trọng Lý giải cho hiện tượng này có thể thấy, hành động duy lý truyền thống đã ít nhiều thay đổi, khi mà trước đây trong xã hội Việt Nam, mọi hoạt động ứng xử đều đi theo khuôn mẫu và chuẩn mực nhất định, con người trong xã hội ấy ít khi tự tìm hiểu và khám phá những điều mới mà thường chấp nhận những khuôn mẫu ứng xử
cũ, những giá trị cũ chi phối trong hoạt động thường ngày Việc chủ động tiếp cận với những luồng thông tin mới mẻ trong xã hội, những thông tin, những quy định được cộng đồng quốc tế thừa nhận và áp dụng ngày một rộng khắp
đã cho thấy sự thay đổi của tư tưởng này
Nguồn thông tin cán bộ, cán bộ LĐ, QL biết đến Công ƣớc QT
Khi được hỏi: “Đồng chí biết đến Công ước quốc tế về quyền trẻ em từ nguồn thông tin nào?”, Kết quả khảo sát cho thấy:
Biểu đồ 2.3: Nguồn thông tin cán bộ, cán bộ LĐ, QL biết đến
(Nguồn: Kết quả xử lý phiếu điều tra)