Mục tiêu của đề tài - Tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về các chủ trương, chính sách củaĐảng, Nhà nước trong xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng và nhân rộng mô hình
Trang 1LIÊN MINH HTX VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG QUAN
Đề tài:
Nhân rộng mô hình hợp tác xã điển hình tiên tiến, góp phần xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới, thí điểm tại Phú Thọ.
Chủ nhiệm đề tài: TS Phan Vĩnh Điển Thư ký đề tài: ThS Đỗ Bích Hường
Trang 2Năm 2014MỤC LỤC
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hiệu quả hoạt động của các
hợp tác xã, HTX nông nghiệp điển hình tiên tiến, góp phần xóa
đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
1.3 Xây dựng mô hình HTX điển hình tiên tiến, HTX tham gia
xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới 301.4 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của các HTX nông nghiệp
321.5 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về phát triển HTX
1.6 Kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu HTX nông nghiệp của
Chương 2 : Thực trạng hiệu quả hoạt động và công tác tham
gia xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới của các HTX
nông nghiệp điển hình tiên tiến ở tỉnh Phú Thọ.
47
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến
sự phát triển HTX nông nghiệp tỉnh Phú Thọ 472.2 Tình hình về nông nghiệp, nông dân, nông thôn của tỉnh
Trang 32.5 Thực hiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển
HTX của tỉnh Phú Thọ
63
2.6 Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo
của tỉnh Phú Thọ đối với các HTX
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu, phương hướng, giải pháp
nhân rộng mô hình HTX nông nghiệp điển hình tiên tiến góp
phần xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới của tỉnh
Phú Thọ
79
3.1 Quan điểm, mục tiêu, phương hướng nâng cao hiệu quả của
sản xuất nông nghiệp và xây dựng HTX nông nghiệp điển hình
tiên tiến của tỉnh Phú Thọ
Trang 4DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1 Mô hình tổ chức của HTX nông nghiệp điển hình
tiên tiến
96
Sơ đồ 2 Mô hình nhiệm vụ dịch vụ, sản xuất, kinh doanh của
HTX nông nghiệp điển hình tiên tiến
100
Sơ đồ 3 Mô hình của các HTX nông nghiệp điển hình tiên tiến
chuyên canh, chuyên ngành hiện nay
101
Sơ đồ 4 Mô hình Liên hiệp Hợp tác xã nông nghiệp điển hình
tiên tiến
102
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SỐ LIỆU
Bảng 1 Trình độ của thành viên và người lao động trong các
HTX của tỉnh Phú Thọ
56Bảng 2 Trình độ của cán bộ quản lý HTX tỉnh Phú Thọ 58
Bảng 3 Tổng hợp chung về nguồn vốn của các Hợp tác xã tỉnh
Phú Thọ
59
Bảng 4 Tổng hợp kết quả sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của 100
HTX của tỉnh Phú Thọ trong 5 năm (2009 – 2013)
62
Bảng 5 So sánh, tỷ lệ các dịch vụ của HTX tỉnh Phú Thọ và
Bảng 6 Hỗ trợ của các cấp chính quyền đối với HTX nông
nghiệp của tỉnh Phú Thọ và Nam Định
64
Bảng 7 Hỗ trợ của Liên minh HTX tỉnh Phú Thọ và Nam Định
đối với các HTX nông nghiệp
64Bảng 8 Công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục và đào tạo 65
5
Trang 5của tỉnh Phú Thọ đối với các HTX
Bảng 9 Công tác thi đua khen thưởng, tham gia xóa đói, giảm
nghèo và xây dựng nông thôn mới
67
Bảng 10 Những đóng góp của HTX nông nghiệp đối vơi các địa
phương của tỉnh Phú Thọ và Nam Định
Bảng 13 Cơ sở vật chất, trụ sở, nhà kho, nhà xưởng của HTX của
HTX điển hình tiên tiến
95
Bảng 14 Dự toán nguồn thu của HTX dịch vụ nông nghiệp trong
1 năm (của 5 năm giai đoạn I)
98
Bảng 15 Dự toán nguồn chi của HTX dịch vụ nông nghiệp trong
1 năm (của 5 năm giai đoạn I)
Trang 6CNTB Chủ nghĩa tư bản
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HTX DVNN Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
LMHTXVN Liên minh hợp tác xã Việt Nam
UBTƯMTTQVN Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
CTMTQG Chương trình mục tiêu quốc gia
XDNTM Xây dựng nông thôn mới
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước tình hình khủng hoảng, khó khăn chung của nền kinh tế thế giới vàsuy giảm kinh tế trong nước những năm vừa qua Nền kinh tế nước ta tuy có dấuhiệu phục hồi, song vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Nhất là, trong tháng 5/2014vừa qua Trung Quốc đưa dàn khoan 981 vào đóng trong phạm vi thềm lục điacủa Việt Nam và liên tục có những hành động quấy rối đối với ngư dân, tầucảnh sát biển, làm ảnh hưởng tới tình hình an ninh, chính trị, kinh tế của ViệtNam; sức mua trên thị trường thế giới, trong nước suy giảm, ảnh hướng khôngnhỏ đến sản xuất, thu nhập và đời sống của người dân trong cả nước, trong đó cócác thành viên của các HTX; nhất là, các thành viên trong các HTX Nông
7
Trang 7nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Cả nước còn tới gần 20% hộ dân trong diệnnghèo; cơ sở hạ tầng, đời sống văn hóa của nông thôn và nông dân nước tanhìn chung còn nhiều khó khăn, hạn chế, yếu kém
Nền kinh tế của nước ta trong những năm vừa qua có nhiều tiến bộ; nhiềumặt hàng nông sản xuất khẩu đang đứng ở vị trí cao thế giới về sản lượng như:may mặc, giầy da, lúa gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, cá ba sa, tôm Tuy nhiên, giábán các loại hàng hóa, nông sản của Việt Nam còn thấp so với các nước trongkhu vực, trong khi đó giá cả đầu vào như nguyên liệu, vật tư, phân bón, thuốcbảo vệ thực vật, thức ăn gia súc tăng cao; vì vậy, công nhân, nông dân là nhữngngười trực tiếp sản xuất ra các loại hàng hóa, nông sản xuất khẩu nhưng ít đượchưởng lợi, năng xuất lao động và chất lượng hàng hóa, nông sản nhìn chungcòn thấp Kể từ sau khi Luật hợp tác xã (HTX) năm 1996, Luật HTX năm 2003
và Luật HTX được sửa đổi năm 2012 có hiệu lực thi hành, các HTX của nướcta; nhất là, các HTX nông nghiệp được đánh giá là đã được chuyển đổi, nângcao hiệu quả hoạt động của HTX Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều HTX hiệu quảhoạt động còn thấp, việc làm, đời sống của thµnh viªn vµ người lao động cònnhiều khó khăn
Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương,đường lối, chính sách thúc đẩy sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nóiriêng; nhất là, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng nông thôn, nâng cao hiệu quả của sảnxuất nông nghiệp và đời sống của người nông dân như:
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và XI của Đảng
- Kết Luận số 56–KL/TW, ngày 21/2/2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnhthực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày18/3/2002) về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể
- Nghị quyết 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7, Ban chấphành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
- Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị “Về việc tiếp tụcđổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết
và nhân điển hình tiên tiến”
- Ngày 21/5/2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược toàndiện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo” Đây là chiến lược đầy đủ, chi tiếtphù hợp với mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) của Liên hiệp quốc côngbố;
- Căn cứ vào Quyết định số 2406/QĐ-TTg, ngày 18/12/2011 của Thủtướng Chính phủ: “Ban hành Danh mục các chương trình mục tiêu quốc gia giaiđoạn 2012 – 2015” Trong phần 2 Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèobền vững: có “Dự án 4: Nhân rộng mô hình xóa đói, giảm nghèo”; Nghị quyết
8
Trang 8số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ: Định hướng giảmnghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ:
“Phê duyệt Chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giaiđoạn 2010 – 2020” và Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Để thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong xóađói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; đồng thời nâng cao hiệu quả của nềnkinh tế, sản xuất nông nghiệp và đời sống của nông dân, rất cần thiết phảinghiên cứu để nhân rộng mô hình các hợp tác xã điển hình tiến tiến, góp phầnxóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
2 Mục tiêu của đề tài
- Tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về các chủ trương, chính sách củaĐảng, Nhà nước trong xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng
và nhân rộng mô hình HTX điển hình, tiên tiến;
- Đánh giá thực trạng mô hình các HTX điển hình tiên tiến; chủ yếu là cácHTX nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ về tình hình tổ chức, dịch vụ sản xuất, đờisống kinh tế, văn hóa, xã hội của các thành viên và địa phương;
- Xây dựng mô hình nhân và rộng các HTX điển hình tiên tiến (chủ yếu làcác HTX nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ);
- Đề xuất một số giải pháp nhân rộng mô hình HTX nông nghiệp điểnhình tiên tiến, góp phần xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới thí
điểm ở tỉnh Phú Thọ
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về môhình HTX điển hình tiên tiến, góp phần vào việc xóa đói, giảm nghèo và xâydựng nông thôn mới trong HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng tạiViệt Nam Một số đề tài tiêu biểu đã được triển khai trong thời gian qua về HTXnội dung chủ yếu liên quan tới hoạt động tài chính và huy động vốn góp thànhviên đã được thực hiện như:
- Đề tài “Đánh giá thực trạng các lọai hình HTX tỉnh Bình Định giai đoạn2001-2005 và đề xuất định hướng 5 năm đến 2010”, do KS Hoàng Đức Lân -Trường Trung học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Định làm chủ nhiệm đã làm rõ vaitrò của vốn góp thành viên và cũng chỉ ra việc huy động vốn góp của các HTXnông nghiệp thấp, từ 50.000 - 100.000đ và mức góp vốn của xã viên như nhau,
ở mức tối thiểu đã ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của HTX và mức lợinhuận HTX nông nghiệp luôn ở mức thấp nên đã hạn chế khả năng thu hútthành viên góp vốn và sử dụng dịch vụ của HTX
9
Trang 9- Năm 2006, Liên Minh HTX Việt Nam nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiệncông tác tổ chức kế toán HTX nông nghiệp”, trong đó đề tài tập trung vào việcgiải quyết nội dung về công tác tổ chức hoạt động kế toán và phân tích cácnguồn vốn của HTX
- Năm 2010, Liên minh HTX Việt Nam đã triển khai đề tài: “Nghiên cứu
cơ sở lý luận, thực tiễn việc chuyển đổi, tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quảhoạt động của HTX nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ” với mục tiêu chính làphân tích, đánh giá được thực trạng hoạt động chuyển đổi của các HTX nôngnghiệp tại vùng đồng bằng Bắc Bộ Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh của HTX nông nghiệp chuyển đổi
- Một đề tài nghiên cứu khác do Trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật TW– Liên minh HTX Việt Nam thực hiện năm 2012, đó là: “Rủi ro trong HTXnông nghiệp: thực trạng và giải pháp”, đã đề cập tới vai trò quan trọng của vốngóp trong việc kiểm soát và hạn chế các rủi ro tài chính trong HTX Tuy nhiên,
đề tài chưa đi sâu vào nghiên cứu cơ chế hoạt động và đưa ra những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX, góp phần xóa đói, giảm nghèo vàxây dựng nông thôn mới
- Một nghiên cứu của Thạc sỹ Dương Tuấn Cương, năm 2013 về “Nghiêncứu, đề xuất giải pháp huy động vốn góp của xã viên trong các HTX nôngnghiệp chuyển đổi tại khu vực phía Bắc”
Ngoài ra, một số đề tài nghiên cứu khác liên quan tới hoạt động kinhdoanh, dịch vụ, an ninh lương thực hay về tài chính của HTX nông nghiệp,nhưng thường chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về hoạt động huy động vốn từnguồn vốn bên ngoài HTX (cá nhân, các tổ chức tín dụng…), quỹ tín dụng nội
bộ HTX hay đưa ra được giải pháp phát triển HTX thông qua việc tăng cườngkhả năng huy động vốn thành viên của HTX mà ít đề cập tới những giải phápnhân rộng mô hình các HTX điển hình tiến tiến, góp phần xóa đói, giảm nghèo
và xây dựng nông thôn mới
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp điều tra xã hội học;
- Phương pháp thảo luận nhóm;
- Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia;
- Phương pháp chuyên gia
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
10
Trang 10Đề tài tập trung nghiên cứu hình thức tổ chức, cơ chế quản lý, hiệu quảhoạt động của các HTX nông nghiệp điển hình tiên tiến, góp phần xóa đói, giảm
nghèo và xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Phú Thọ.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả hoạt động mô hình HTX nông nghiệpđiển hình tiến tiến tại tỉnh Phú Thọ; phân tích, so sánh với một số HTX trungbình và yếu kém Bên cạnh đó, đề tài thực hiện một số nghiên cứu đối với một
số HTX nông nghiệp ở một tỉnh khác, là những điển hình hoạt động có hiệu quả,
có nhiều đóng góp trong công tác xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thônmới để làm luận cứ so sánh
- Thông tin phục vụ đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh,dịch vụ của HTX nông nghiệp chuyển đổi được thu thập từ năm 2009 cho đếnnay
- Giải pháp nhân rộng mô hình HTX điển hình tiến tiến, góp phần xóa đóigiảm nghèo và xây dựng nông thôn mới thí điểm ở Phú Thọ đến năm 2020 vàtần nhìn đến năm 2030;
- Đề tài không đi sâu vào nghiên cứu các mô hình HTX phi nông nghiệp;
vì HTX phi nông nghiệp có rất nhiều loại mô hình khác nhau, phụ thuộc rấtnhiều vào điều kiện tự nhiên, xã hội, khả năng đầu tư rất khác nhau và rất phứctạp Trong phạm vi hạn chế về thời gian, nguồn lực của đề tài không thể nghiêncứu rộng hơn
6 Những đóng góp về khoa học của đề tài
6.1 Về lý luận
- Góp phần tổng kết và làm rõ thêm những vấn đề lý luận và kinh nghiệm
về mô hình HTX điển hình tiên tiến, góp phần vào việc xóa đói, giảm nghèo vàxây dựng nông thôn mới trong HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêngtại Việt Nam
6.2 Về thực tiễn
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hoạt độngxóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới của các HTX nông nghiệp điểnhình tiến tiến ở tỉnh Phú Thọ từ năm 2009 cho đến nay
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhân rộng mô hình HTX nôngnghiệp điển hình tiến tiến, góp phần xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thônmới thí điểm ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 và tầm nhiền đến năm 2030
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kếtcấu thành 3 chương, 9 tiết:
11
Trang 11Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn hiệu quả hoạt động của cỏc HTX,
HTX nụng nghiệp điển hỡnh tiờn tiến, gúp phần xúa đúi, giảm nghốo và xõy dựngnụng thụn mới
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động và công tác tham gia xúa đúi
giảm nghốo, xõy dựng nụng thụn mới của cỏc HTX nụng nghiệp điển hỡnh tiếntiến ở Phỳ Thọ
Chương 3: Quan điểm mục tiêu, phơng hướng, giải phỏp nhõn rộng mụ
hỡnh HTX nụng nghiệp điển hỡnh tiến tiến, gúp phần xúa đúi giảm nghốo và xõydựng nụng thụn mới thớ điểm ở Phỳ Thọ
Chương 1
CƠ SỞ Lí LUẬN, VÀ THỰC TIỄN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC HTX, HTX NễNG NGHIỆP ĐIỂN HèNH TIấN TIẾN, GểP PHẦN XểA
ĐểI, GIẢM NGHẩO VÀ XÂY DỰNG NễNG THễN MỚI
1.1 Lý luận cơ bản của cỏc học thuyết về kinh tế, hợp tỏc xó và HTX nụng nghiệp
1.1.1 Một số học thuyết về kinh tế, hợp tỏc xó trờn thế giới
Lịch sử phỏt triển của cỏc học thuyết kinh tế trờn thế giới đó trải qua nhiềugiai đoạn và cỏc học thuyết kinh tế khỏc nhau Trong đú, cú chủ nghĩa trọngthương và chủ nghĩa trọng nụng hay trường phỏi trọng nụng là một trong những
12
Trang 12trường phái kinh tế tiêu biểu Từ năm 1492 với những cuộc thám hiểm nhưcủa Christopher Columbus, những cơ hội thương mại mới mở ra với Tân thếgiới và Châu Á Những nhà quân chủ hùng mạnh muốn tập trung quyền lực vàcủng cố sự thống nhất nhà nước để tăng cường quyền lãnh đạo của họ Chủnghĩa trọng thương trở thành một phong trào chính trị và một học thuyết kinh tếủng hộ việc sử dụng sức mạnh quân sự của nhà nước để giành giật các thịtrường và bảo vệ những nguồn tài nguyên cướp bóc được Những người trọngthương tin rằng thương mại quốc tế là những giao dịch có tổng bằng không Vìtiền bạc và vàng là những nguồn duy nhất cho sự giàu có và số lượng tài nguyên
có thể chia sẻ giữa các quốc gia là giới hạn Cho nên, các loại thuế được sử dụng
để khuyến khích xuất khẩu (có nghĩa là mang về nhiều tiền bạc hơn cho đấtnước) và hạn chế nhập khẩu (tức là chi tiêu ra nước ngoài) Karl Marx đưa ranhững phê bình trọng yếu với kinh tế học cổ điển dựa trên học thuyết giá trị laođộng Giống như cụm từ "chủ nghĩa trọng thương" chỉ trở nên nổi tiếng bởinhững người chỉ trích nó, như Adam Smith, cụm từ "chủ nghĩa tư bản" được sửdụng bởi những người chỉ trích, đáng kể nhất là Karl Marx Karl Marx (1818–1883) đó là, và trên nhiều phương diện vẫn đang là nhà kinh tế học trụ cột củakinh tế học xã hội chủ nghĩa Sự kết hợp học thuyết chính trị của ông, được trìnhbày trong Tuyên ngôn Cộng sản và chủ nghĩa duy vật biện chứng được tạo cảmhứng từ Friedrich Hegel mang tới những phê bình mang tính cách mạng với chủnghĩa tư bản theo đánh giá của Marx trong thế kỷ 19 Phong trào xã hội chủnghĩa mà ông tham gia xuất hiện như lời đáp lại tình trạng cùng khổ của ngườicông nhân trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa và kinh tế học cổ điển đi kèmvới cuộc cách mạng công nghiệp đó Marx viết kiệt tác Tư bản luận tại thư việncủa Bảo tàng quốc gia Anh cùng với Marx, Friedrich Engels là đồng tác giảTuyên ngôn cộng sản và tập hai của Tư bản luận
Chủ nghĩa trọng nông thì cho rằng: nguồn gốc thuần túy của sự giầu cócủa mỗi quốc gia là từ sản xuất nông nghiệp hay các dạng phát triển đất đaikhác Các nhà kinh tế học theo chủ nghĩa trọng nông sử dụng thuật ngữ tiếngPháp laissez faire với nghĩa: chỉ có giá trị nông nghiệp là dạng hợp pháp của thunhập quốc dân Học thuyết này được hình thành ở Đức, Ba Lan, Thụy sĩ vànhiều nước khác; tuy nhiên, chỉ có ở Pháp là phát triển và trở thành một trườngphái hoàn chỉnh nhất trong nửa sau của thế kỷ XVIII Người mở đầu cho họcthuyết này là Francois Quesnay (1694 - 1774)1, và những đại biểu có ảnh hưởnglớn trong trường phái này là Victor de Mirabau (1715 - 1789), Pierre Samuel duPont de Nemours (1739 - 1817), Anne-Robert-Jacques Turgot (1727 - 1781).Đây là một trong những tư tưởng kinh tế tiền thân của trường phái kinh tế học
1 http:vi.wikipedia.org.
13
Trang 13hiện đại đầu tiên, trường phái kinh tế học cổ điển, ra đời với tác phẩm TheWealth of Nations (Sự giầu có của các quốc gia) của Adam Smith năm 1776.Đóng góp đáng kể nhất của những nhà kinh tế học theo trường phái trọng nông làtạo nên một hệ tư tưởng về sản xuất tư bản chủ nghĩa Khác với trường phái ra đờisớm hơn, trường phái trọng thương cho rằng: sự giầu có gắn liền với tích lũy vànghay kết quả khả quan của cán cân thương mại, trường phái trọng nông chuyển đốitượng nghiên cứu từ lĩnh vực giao thương sang lĩnh vực sản xuất, đặt nền móngcho phân tích khoa học về vấn đề tái sản xuất và phân phối xã hội Điểm yếu cơbản của chủ nghĩa trọng nông, theo quan điểm của kinh tế học hiện đại là chỉ coilao động nông nghiệp là có giá trị Các nhà kinh tế học trọng nông nhìn nhận sảnxuất hàng hóa và dịch vụ như là sự tiêu thụ các giá trị thặng dư trong nôngnghiệp, trong khi các nhà kinh tế học hiện đại coi chúng là hoạt động sản xuấttăng thêm giá trị thu nhập quốc gia.
1.1.2 Chủ nghĩa Mác - Lê nin bàn về nông nghiệp và hợp tác xã
Khi bàn về vai trò của sản xuất của cải vật chất là cơ sở của sự tồn tại vàphát triển của xã hội loài người, Ph.Ănghen đã khẳng định: “Trước hết conngười phải cần có ăn, uống, ở, mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoahọc, nghệ thuật và tôn giáo )2 Đúng vậy, xã hội ngày càng phát triển thì nhucầu của con người về sản phẩm thiết yếu được sản xuất ra từ nông nghiệp ngàycàng đa dạng, phong phú Vì vậy, phải đặc biệt quan tâm phát triển sản xuấtnông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
HTX xuất hiện trong đời sống nhân loại cách đây hàng trăn năm Tuy đãtrải qua nhiều giai đoạn khác nhau nhưng vẫn là một loại hình kinh tế ngày càng
có vị trí quan trọng và có tính chất quốc tế HTX là sản phẩm của lịch sử, nó cótrước khi chủ nghĩa Mác ra đời Từ giữa thập kỷ 60 của thế kỷ XIX, khi chú ýđến thực tiễn lịch sử về sự hình thành các “HTX công nhân” sau cách mạng tưsản dân chủ ở châu Âu (1848 - 1849), Mác và Ăngghen đã thấy được triển vọngcủa chế độ HTX trong tương lai Mác và Ăngghen xuất phát từ những tiền đềkinh tế nảy sinh trong lòng xã hội tư bản đó là các HTX mang tính chất của Chủnghĩa xã hội Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, để có thể đứng vững, nhữngngười sản xuất nhỏ cần phải hợp sức, hợp vốn với nhau dưới hình thức tổ chứcHTX Theo lý luận của C Mác: Người ta không thể sản xuất được nếu khôngkết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạtđộng với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có mối quan hệ nhất định vớinhau và quan hệ của họ với giới hạn tự nhiên, tức là với việc sản xuất chỉ diễn ratrong khuôn khổ và những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó 3
2 http://sites.google.com
3 C Mác và Ph, Ăngghen (1984), Tuyển tập, tập VI, NXB Sự thật Hà Nội (tr.34; 552)
14
Trang 14Sau cách mạng tháng Mười Nga 1917, trong nông thôn Xô Viết với khẩuhiệu “người cầy có ruộng” và sắc lệnh ruộng đất do V.L Lê Nin ký; nông dânvui mừng vì được chia và làm chủ ruộng đất nên kiên quyết ủng hộ và bảo vệchính quyền cách mạng Khi bàn về chế độ HTX dưới chế độ XHCN Lê Nin
cho rằng: Kế hoạch Error! Bookmark not defined.xã hội chủ nghĩa đối với
nền kinh tế tiểu nông cá thể bằng cách hợp tác hoá tự nguyện; một bộ phận của
kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội của Lê nin V.I (V I Lenin), được đề ratrong các tác phẩm "Bàn về chế độ hợp tác", "Bàn về thuế lương thực" v.v dựa
trên những luận điểm quan trọng nhất của C Mác Error! Bookmark not defined.(K Marx) và P Enghen (F Engels) là không được tước đoạt kinh tế
tiểu nông, vì làm như thế có hại, mà cần phải thuyết phục và dẫn dắt tiểu nông đilên con đường xã hội chủ nghĩa Kế hoạch hợp tác hoá xuất phát từ yêu cầu cầnthiết và ý nghĩa quan trọng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân và giaicấp nông dân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội HTX là con đườnghợp lí và dễ hiểu nhất để đưa đông đảo quần chúng nông dân đi lên chủ nghĩa xãhội Tự nguyện là nguyên tắc quan trọng nhất để thực hiện hợp tác hoá Thuyếtphục và dùng thực tế chỉ ra chỗ lợi của lao động tập thể, là phương pháp đúngđắn để thu hút nông dân lao động tự nguyện tham gia xây dựng chủ nghĩa xãhội Kế hoạch hợp tác hoá quy định phát triển tất cả các loại hình hợp tác xã: từhình thức giản đơn nhất như các loại hình tổ hợp tác, đến các loại hình hợp tác
xã từ thấp đến cao; từ các hợp tác xã trong lĩnh vực lưu thông và hợp tác xã muabán, đến các hình thức hợp tác xã sản xuất Quá trình kinh tế nông dân đi vàocon đường hợp tác hoá không diễn ra một cách tự phát Nhà nước xã hội chủnghĩa phải có chính sách và những biện pháp chỉ đạo thích hợp và phải có sựgiúp đỡ toàn diện, kể cả giúp đỡ về tài chính, để phát triển nông nghiệp tập thể.Những luận điểm của Lênin trong kế hoạch hợp tác hoá có ý nghĩa quốc tế tolớn nhưng không đưa ra một loại hình cứng nhắc Tuỳ theo điều kiện và đặcđiểm của mỗi nước, các nước xã hội chủ nghĩa đã có chính sách và biện pháp cụthể vận dụng những luận điểm đó trong quá trình thực hiện việc cải tạo kinh tếnông dân theo chủ nghĩa xã hội4
1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp và hợp tác xã
Ngay sau khi cách mạng Tháng 8 thành công trên cương vị đứng đầu nhànước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu chương trình hành động đầu tiên của Chínhphủ là cứu đói và tăng gia sản xuất; tấm bằng khen đầu tiên được giành cho thànhtích giữ đê chống lụt, những sắc lệnh đầu tiên là bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuếđò; những văn bản đầu tiên phục vụ cho sự nghiệp kiến quốc là: “Sẵn sàng gửi 50thanh niên Việt Nam ưu tú sang học hỏi kỹ nghệ canh nông ở Hoa Kỳ ” Về mối
4 Nguồn: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn
15
Trang 15quan hệ và vai trò của phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với các ngành kinh
tế khác của nền kinh tế quốc dân đã được chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Phảilấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý các mặt côngnghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáodục, y tế các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm”5 Điềunày đòi hỏi mọi chủ trương, đường lối, phương châm, kế hoạch, mục tiêu pháttriển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lấy nông nghiệp, nông thônlàm đối tượng phục vụ, phải có chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với nông nghiệp,nông thôn Người nói: “Nông thôn tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm thì ngàycàng giầu có Nông thôn giầu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất
ra Đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp vàthành thị Như thế là nông thôn giầu có giúp cho công nghiệp phát triển Côngnghiệp phát triển lại thúc đẩy cho nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa Côngnghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giầu, nước mạnh” Như vậy, Người khôngchỉ nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa ngành công nghiệp với nông nghiệp màcòn chỉ rõ vấn đề có tính quy luật trong quá trình điều hành của Nhà nước, thểhiện ý chí của Đảng, nguyện vọng của nhân dân, là cơ sở để đoàn kết khối liênminh công nông
Về sự cần thiết phải xây dựng và phát triển hợp tác hóa trong nôngnghiệp, nông thôn Theo người, nước ta với điểm xuất phát là một nước nôngnghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) không qua giai đoạn
phát triển tư bản chủ nghĩa; vì vậy, “làm HTX sẽ có lợi như quy luật tất yếu là:
một cây làm chẳng nên non, nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao, đồng bào nông gia hăng hái cùng nhau làm việc đúng”6 Bởi HTX nông nghiệp, nông thôn làchiếc cầu nối đưa nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa (XHCN),đưa nông dân từ chỗ làm ăn phân tán, manh mún lên chỗ làm ăn tập thể, tậptrung thống nhất Phát triển HTX phải triệt để tuân thủ các nguyên tắc: Tựnguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, từ thấp lên cao và có sự giúp đỡ của Nhànước HTX nông nghiệp là điều kiện cần thiết để phát triển và xã hội hóa nôngnghiệp và nông thôn trên con đường làm ăn lớn XHCN
1.1.4 Chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước ta về phát triển kinh tế tập thể:
Ngay từ khi Đảng ta ra đời ngày 03/02/1930 Đảng ta đã đề ra “Sách lược
vắn tắt của Đảng” trong đó đã quan tâm đến thợ thuyền và dân cày: “Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tác xã) khỏi ở dưới
5 http://sites.google.com/tutuonghochiminhvephattrienkinh te
6 http://sites.google.com/tutuonghochiminhvephattrienkinh te
16
Trang 16quyền lực và quyền lực của bọn tư bản quốc gia” 7 Kể từ đó đến nay, nhất là sau
cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp thành công, Đảng, Nhà nước taluôn luôn quan tâm lãnh đạo và có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết chỉ đạo sản xuấtnông nghiệp và xây dựng HTX nông nghiệp Đáng chú ý nhất từ Đại hội VI củaĐảng đã đề ra đường lối đổi mới; nền kinh tế nước ta có sự đổi mới quan trọng,chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN Vì vậy, để củng cố và xây dựng HTX nông nghiệp hoạt động cóhiệu quả, Nhà nước ta đã xây dựng và thông qua Luật HTX ngày 20/3/1996 và cóhiệu lực kể từ ngày 01/1/1997 Sau đó Luật đã được sửa đổi vào năm 2003; sự rađời của Luật HTX đánh dấu sự phát triển và bước chuyển đổi quan trọng trongcông tác tổ chức và quản lý đối với các HTX, trong đó có các HTX nông nghiệp.Năm 2012 Luật HTX mới ra đời và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/1013 thay thế choLuật HTX năm 2003; Luật này, quy định cụ thể hơn về trách nhiệm, nghĩa vụphục vụ thành viên của HTX Trong quá trình phát triển của nông nghiệp và HTXcủa nước ta luôn có sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo cụ thể của đảng, nhà nướcbằng nhiều chủ trương, Nghị quyết, chính sách về phát triển nông nghiệp vàHTX; đặc biệt là ngày 18/3/2002 tại Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương
Đảng (khóa IX) đã ra Nghị quyết số 13 – NQ/TW “Về tiếp tục đổi mới, phát triển
và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể” Ngày 05/8/2008 tại Hội nghị lần thứ 7 Ban
chấp hành trung ương Đảng (khóa X) đã ra Nghị quyết số 26 – NQ/TƯ “Về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn” Chính phủ có Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày
04/06/2010 “Phê duyệt chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 - 2020” Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 13 – NQ/TW
“Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”; đảng đã
chỉ đạo tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Ngày 21/2/2013 BộChính trị ra Kết Luận số 56–KL/TW, về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trungương 5 khóa IX (Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 18/3/2002) về tiếp tục đổimới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Trong Kết luận nêu rõ sau
10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, pháttriển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, khu vực kinh tế tập thể có nhữngchuyển biến tích cực Nhiều hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mới được thành lập,hoạt động đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực Các tổ chức kinh tế tập thể đó từngbước khẳng định là nhân tố quan trọng góp phần bảo đảm an sinh xã hội, ổnđịnh chính trị ở cơ sở và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên,kinh tế tập thể vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém kéo dài Tốc độ tăngtrưởng của khu vực kinh tế tập thể chậm, thiếu ổn định, tỉ lệ đóng góp vào GDPcủa cả nước giảm dần, không đạt được mục tiêu Nghị quyết đề ra Nguyên nhân
7 Đảng cộng sản Việt Nam với phong trào HTX, NXB Chính trị Quốc gia, tập I ; Tr 22.
17
Trang 17chủ yếu dẫn đến những hạn chế, yếu kém trên là do nhận thức về phát triển kinh
tế tập thể của nhiều cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, đặc biệt làngười đứng đầu chưa đầy đủ, chưa thống nhất; ý thức trách nhiệm còn thấp
Đó là những chủ trương, Nghị quyết, Quyết định hết sức quan trọng đểphát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và HTX nông nghiệp của Đảng, Nhànước và Chính phủ, giúp sản xuất nông nghiệp và HTX nông nghiệp có nền tảng
để phát triển một cách hiệu quả và bền vững trong thời kỳ đổi mới và sự nghiệpcông nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
1.2 Một số khái niệm, nguyên tắc và đặc điểm cơ bản về hợp tác xã
1.2.1 Khái niệm về hợp tác xã.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Đại hội liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA)lần thứ 31 tổ chức tại Manchester – Vương quốc Anh đã định nghĩa về hợp tác
xã như sau: "Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết
với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung
về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ".
Trong bản khuyến nghị phát triển hợp tác xã của Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra và tháng 6 năm 2002 tại
Geneve – Thụy Sỹ định nghĩa về hợp tác xã: “Hợp tác xã là một tổ chức tự chủ
của những người tình nguyện liên kết lại với nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua việc thành lập một doanh nghiệp sở hữu tập thể, góp vốn bình đẳng, chấp nhận việc chia sẻ lợi ích
và rủi ro, với sự tham gia tích cực của các thành viên trong điều hành và quản
lý dân chủ”.
Nhiều nước trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa hợp tác xã cho phù hợpvới điều kiện nước mình Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình, đặc điểm kinh tế -
xã hội của đất nước Luật hợp tác xã năm 1996 định nghĩa về hợp tác xã như sau:
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật
để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện
có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Luật hợp tác xã năm 2003 đã kế thừa quy định của Luật hợp tác xã năm
1996, tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế hợp tác xã, là một tổ chức kinh tếmang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc Việc thành lập hợp tác xã dựa trên nhucầu, lợi ích chung của các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể, cùnggiúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất cho
18
Trang 18xã viên và góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước Luật hợp tác xã năm
2003 quy định:
"Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vị vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật".
So với Luật hợp tác xã năm 1996, thì ở Luật hợp tác xã năm 2003 đã mởrộng hơn về đối tượng tham gia hợp tác xã đó là cá nhân, hộ gia đình và phápnhân Điều này cũng tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác xã phát triển về số lượng
và mở rộng thêm nguồn vốn đầu tư, tham gia vào hợp tác xã
Luật Hợp tác xã 2012 quy định: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể,
đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã ”
Các HTX, dù là hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp haythương mại – dịch vụ, đều có chung một số đặc điểm sau:
Các thành viên liên kết với nhau vì ít nhất một lợi ích chung, luôn cố gắngtheo đuổi mục tiêu cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội của mình bằng cách phốihợp, kết hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh Các thành viên cùng sở hữu vàvận hành chung một HTX cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho họ Khi gia nhậpHTX, thành viên phải góp vốn (thông thường mức góp vốn tối đa của mỗi thànhviên được quy định cụ thể trong điều lệ HTX); tài sản chung của HTX đượchình thành từ các nguồn vốn và công sức của thành viên, hỗ trợ của Nhà nước,quà biếu tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nước Mục đích củaHTX là nhằm sử dụng tối đa các nguồn lực chung để phát triển sản xuất, kinhdoanh hoặc có đủ sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho thành viên HTX không phải
là tổ chức xã hội mà chỉ mang tính chất xã hội và càng không phải là tổ chức từthiện
1.2.2 Khái niệm và bản chất HTX nông nghiệp.
Từ khái niệm về HTX qui định tại Điều 1 Luật HTX năm 2003 có thểhiểu HTX nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể, do người nông dân, hộ nông
19
Trang 19nghiệp và pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, hoặcvừa góp vốn vừa góp sức lập ra theo qui định của pháp luật để phát huy sứcmạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả cáchoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình của các xã viên và tổ chức cáchoạt động tín dụng nội bộ, sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâmnghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và các ngành nghề khác ở nông thôn, phục vụ chosản xuất nông nghiệp HTX nông nghiệp có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịutrách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn Điều lệ, vốn tích luỹ vàcác nguồn vốn khác của HTX theo qui định của pháp luật.
Từ cách hiểu trên, chúng ta thấy HTX nông nghiệp có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, thành viên HTX nông nghiệp gồm cả cá nhân, hộ gia đình và
pháp nhân (người lao động, cán bộ, công chức, các hộ sản xuất, kinh doanh,trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế ), cả người có
ít vốn và người có nhiều vốn có nhu cầu tự nguyện cùng nhau góp vốn hoặc cóthể góp sức lập ra và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình theo quiđịnh của pháp luật về HTX HTX không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất, kinhdoanh của các thành viên, mà chỉ làm những gì mỗi thành viên riêng lẻ khônglàm được hoặc làm không có hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên phát triển.Thành viên tham gia HTX vẫn là những “đơn vị kinh tế tự chủ”
Thứ hai, khác với HTX nông nghiệp kiểu cũ, sở hữu cá nhân của người
nông dân không được thừa nhận, sở hữu của các hộ gia đình bị xoá bỏ, chỉ thừanhận chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất; người nông dân vào HTX phảigóp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu Trong HTX kiểu mới, sở hữutập thể và sở hữu cá nhân của thành viên được phân định rõ Sở hữu tập thể (sởhữu của HTX) bao gồm các nguồn vốn tích luỹ tái đầu tư, các tài sản do tập thểmua sắm để dùng cho hoạt động của HTX, tài sản trước đây được giao lại chotập thể sử dụng và tài sản do nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước tài trợ làm tài sản không chia và các quỹ không chia Thành viên khi thamgia HTX nông nghiệp không phải góp ruộng đất và các công cụ sản xuất màđiều kiện tiên quyết là phải góp vốn theo quy định của điều lệ HTX, có thể gópsức khi HTX có nhu cầu; suất vốn góp không hạn chế, song được khống chế một
tỷ lệ nhất định so với tổng số vốn góp của các thành viên (vốn điều lệ của HTX)nhằm bảo đảm tính chất của HTX (theo Luật HTX năm 2012 thì không quá20%) Vốn góp của thành viên được chia lãi hàng năm và được rút khi thànhviên ra HTX Sở hữu thuộc cá nhân thành viên được tôn trọng; thành viên cótoàn quyền sử dụng vốn, các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu riêng để sảnxuất, kinh doanh Những thành viên của HTX vẫn là những chủ thể độc lập, có
20
Trang 20kinh tế riêng Vị trí và vai trò, cũng như quyền tự chủ của kinh tế thành viênkhông bị mất đi mà ngược lại được hỗ trợ thêm từ phía HTX để phát triển.
Thứ ba, quan hệ giữa HTX và thành viên là quan hệ bình đẳng, thoả
thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh.Hoạt động sản xuất, kinh doanh của HTX không bao trùm toàn bộ hoạt động sảnxuất, kinh doanh của thành viên như HTX kiểu cũ, mà chỉ diễn ra ở từng khâucông việc, từng công đoạn, nhằm hỗ trợ phát huy thế mạnh của từng thành viên
và do đó cũng tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của thành viên Ban quảntrị HTX không can thiệp trực tiếp vào quyền chủ động sản xuất, kinh doanh của
hộ xã viên, không điều hành, chỉ huy từng khâu, từng việc hàng ngày như trước
Hộ xã viên được quyền tự quyết định bố trí sản xuất cây trồng, vật nuôi phù hợptheo thế mạnh của từng hộ và theo định hướng chung của vùng, tiểu vùng sảnxuất, tự do mua vật tư để đầu tư vào sản xuất, thuê dịch vụ, bán sản phẩm làm ratheo cơ chế thuận mua vừa bán Quan hệ kinh tế giữa HTX và hộ xã viên làquan hệ bình đẳng thông qua hợp đồng kinh tế giữa hai bên Lợi ích của xã viênđược tôn trọng hơn nên họ rất phấn khởi, có trách nhiệm hơn với HTX
Thứ tư, HTX đã thực sự là một tổ chức kinh tế độc lập, tự chủ có đầy đủ
tư cách pháp nhân trong cơ chế thị trường, bình đẳng trước pháp luật như cácdoanh nghiệp, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ, liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế thuộc mọithành phần kinh tế khác, cũng như phân chia lỗ lãi, bảo đảm hoàn thành nghĩa
vụ đối với Nhà nước và trách nhiệm đối với thành viên
Thứ năm, qui mô và phạm vi hoạt động của HTX không còn bị giới hạn
như trước Mỗi HTX có thể hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau,không giới hạn địa giới hành chính Mô hình HTX linh hoạt, đa dạng về hìnhthức, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng ngành; với nhiều trình độ pháttriển, từ thấp đến cao, từ làm dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho hoạt động sảnxuất, kinh doanh của các thành viên, đến mở mang ngành nghề, vươn lên kinhdoanh tổng hợp và hình thành các doanh nghiệp trực thuộc dưới hình thức công tyTNHH một thành viên; từ HTX phát triển thành các liên hiệp HTX
1.2.3 Tính tất yếu khách quan phát triển HTX nông nghiệp.
Nền kinh tế nước ta đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp nhỏ lẻ, lạc hậunửa thực dân, phong kiến, phụ thuộc vào thiên nhiên khắc nghiệt, điều kiệnruộng đất, canh tác có hạn, lại bị chiến tranh tàn phá kéo dài nên tâm lý tư hữucủa người sản xuất nhỏ đã ăn sâu vào trong tâm tư, tình cảm của người nôngdân Tính liên kết về tình cảm, cộng đồng, tình làng nghĩa xóm thì tốt (duy
tình), “một bồ cái lý không bằng một tí cái tình” hay “hàng xóm tắt lửa tối đèn
21
Trang 21có nhau” Nhưng trong làm ăn kinh tế thì ít có tư duy kinh tế của người làm ăn
lớn, đa số chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, ít có sự hợp tác làm ăn trong kinh tế.Tâm lý và quan niệm của người nông dân phổ biến là muốn làm ăn riêng lẻ, tưhữu, tư nhân Đó là cơ sở cho kinh tế hộ nông dân phát triển hiện nay ở địa bànnông thôn Nhưng kinh tế hộ gặp những trở ngại nhất định khi phải đối phó vớinhững diễn biến phức tạp của thiên nhiên, thời tiết; trong việc ứng dụng nhữngthành tựu mới của khoa học, kỹ thuật và công nghệ; trong việc giải quyết một sốkhâu của quá trình sản xuất và kinh doanh mà kinh tế hộ nông dân không làmđược hoặc làm không có hiệu quả bằng kinh tế hợp tác Do đó, những ngườilao động trong lĩnh vực kinh tế hộ nông dân hiện nay ở nước ta đang có nhu cầuhợp tác để làm ăn tập thể Nhu cầu ấy là một tất yếu, như là quy luật kinh tếkhách quan
Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là một nhu cầu khách quan Đó là conđường phát triển tất yếu của kinh tế hộ nông dân Bởi lẽ, do đặc điểm của sảnxuất nông nghiệp, cây trồng, vật nuôi đều là những cơ thể sống, chịu ảnh hưởngtrực tiếp của ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu và các sinh vật khác Cùng với cácđiều kiện thuận lợi, sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, trở ngại do tácđộng của thời tiết, khí hậu và các yếu tố sâu bệnh, thú dữ phá hoại Từ thời xaxưa, các hộ nông dân đã có nhu cầu hợp tác với nhau để hỗ trợ, giúp nhau vượtqua khó khăn, nâng cao hiệu quả sản xuất
Khi nền sản xuất còn mang nặng tính tự cung, tự cấp thì quá trình hợp tácmang tính chất hợp tác lao động theo mùa vụ, đổi công, cùng làm giúp nhau nhằm đáp ứng yêu cầu thời vụ, hoặc tăng thêm sức mạnh để giải quyết nhữngcông việc mà từng hộ gia đình không có khả năng thực hiện, hoặc làm riêng rẽkhông có hiệu quả như phòng chống thiên tai, thú dữ, sâu bệnh, đào kênh dẫnnước Quá trình hợp tác này còn mang đặc điểm tình cảm, tâm lý truyền thốngcộng đồng đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn trong sản xuất và đờisống Đặc điểm cơ bản của hợp tác kiểu này là hợp tác theo vụ, việc, hợp tác ngẫunhiên, không thường xuyên, chưa tính đến giá trị ngày công Đây là các hình thứchợp tác xuất hiện từ trước chủ nghĩa tư bản
Khi nền nông nghiệp hàng hoá phát triển, nhu cầu dịch vụ cho quá trìnhtái sản xuất ngày càng tăng cả về qui mô và chất lượng dịch vụ, như dịch vụ vềgiống, phòng trừ sâu bệnh, chế biến và tiêu thụ nông sản, thuỷ lợi Trong điềukiện này, từng hộ nông dân tự đảm nhiệm tất cả các khâu cho quá trình sản xuất
sẽ gặp khó khăn, hoặc không đủ khả năng đáp ứng, hoặc hiệu quả kinh tế thấpkém hơn so với hợp tác Từ đó nảy sinh nhu cầu hợp tác ở trình độ cao hơn, đó
là hợp tác thường xuyên, ổn định, có tính đến giá trị ngày công - giá trị dịch vụ,
22
Trang 22dẫn đến hình thành HTX Như vậy, sự ra đời của HTX trong nông nghiệp là nhucầu khách quan, gắn với quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, cùng với quá trình phân côngchuyên môn hoá sẽ nảy sinh các chuyên ngành, như sản xuất lương thực, hoa,rau, quả, cây công nghiệp như chè, cà phê Đồng thời, cũng xuất hiện nhiềuloại dịch vụ chuyên ngành phục vụ cho nông nghiệp như: cung ứng vật tư, vậnchuyển, chế biến tiêu thụ nông sản
Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, không phân biệt chế độchính trị, xã hội, xuất phát từ mục tiêu kinh tế, nông dân đều có nhu cầu hợp tác
từ hình thức giản đơn đến phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành Lực lượng sảnxuất càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngàycàng sâu rộng, do đó tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thứckinh tế hợp tác ở trình độ cao hơn
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự hình thành và phát triển HTX củacác hộ, trang trại gia đình nông dân còn xuất phát từ nhu cầu liên kết để làmtăng sức mạnh giúp đỡ lẫn nhau chống lại sự chèn ép, lũng đoạn của tư bản độcquyền lớn nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ và trang trại giađình nông dân Đây là tầng lớp người có khó khăn hơn và chịu nhiều thiệt thòi,rủi ro hơn trong xã hội tư bản Xét từ góc độ này, kinh tế hợp tác của nông dâncòn được coi là loại hình kinh tế mang bản chất xã hội - nhân đạo Nó là hìnhthức kinh tế cần thiết cho những người nghèo có tiềm lực kinh tế yếu hơn trong
xã hội nhằm chống lại xu hướng chèn ép, “cá lớn nuốt cá bé” trong nền kinh tế
thị trường cạnh tranh gay gắt
Xuất phát từ nhu cầu khách quan và vai trò, vị trí của HTX trong lĩnh vựcnông nghiệp, ở nhiều nước trên thế giới, HTX nông nghiệp đã có lịch sử hìnhthành và phát triển hơn 100 năm Đồng thời, Chính phủ của các nước này đều đãdành sự quan tâm giúp đỡ đáng kể cho khu vực kinh tế HTX Nhiều nước trên thếgiới, Nhà nước đã ban hành rất sớm các Pháp lệnh, Luật về HTX Có nước cònqui định tính hợp hiến của HTX trong hiến pháp nhằm mục đích hướng dẫn, giúp
đỡ nông dân Khi họ thực sự có nhu cầu thì tự nguyện liên kết với nhau thànhHTX để vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất
Đến nay, ở hầu khắp các nước trên thế giới, nhiều loại hình HTX trongnông nghiệp vẫn được duy trì, phát triển và có hiệu quả rõ rệt Ở Hà Lan, HTXnông nghiệp đã ra đời hơn 100 năm Trên cơ sở các nông trại, các HTX ở HàLan được hình thành phổ biến là các HTX chuyên ngành theo từng sản phẩmnông nghiệp Đa số hộ nông dân tham gia từ 2 - 4 HTX khác nhau Ngày nay, hệthống các loại hình HTX ở Hà Lan vẫn phát triển và có vị trí quan trọng đối với
23
Trang 23lĩnh vực cung cấp sản phẩm nông nghiệp cho xã hội Thí dụ, với sản phẩm bộtkhoai tây, khu vực kinh tế HTX đã cung cấp 100% số lượng sản phẩm trên thịtrường Tương tự, với sản phẩm bơ là 94%, pho mát 92%, thức ăn gia súc 90%,sữa 87% v.v
Tại Mỹ, hệ thống các HTX nông nghiệp đã hình thành trên 100 năm vàngày nay đã trở thành một tổ chức kinh tế cần thiết đối với các chủ trang trại.Ngay từ năm 1914, Nhà nước đã thành lập Cục HTX để hỗ trợ cho khu vực kinh
tế này, kể cả việc đảm nhận công tác đào tạo cán bộ quản lý HTX Chính phủliên bang cũng như ở từng bang đều dành một khoản kinh phí nhất định cho hoạtđộng của Cục HTX Ngày nay, các Cục HTX do các chủ nông trại tự nguyệnthành lập và hoạt động hiệu quả có vai trò to lớn trong nền nông nghiệp hiện đạicủa Mỹ
Ở Nhật Bản, đại đa số nông trại đều tham gia HTX Từ năm 1947, Chínhphủ Nhật bản đã ban hành Luật HTX nông nghiệp Đến năm 1967, Nhật Bảnthông qua chính sách cơ bản về hợp tác hoá nhằm phát triển nông nghiệp Nhờvậy, phong trào hợp tác hoá đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc Hầu hếtnông dân Nhật Bản hiện đã tham gia HTX và tiêu thụ sản phẩm qua HTX: gạotrên 95%; rau, hoa quả, sữa tươi, thịt bò gần 60% Tỷ lệ nông dân mua phân bónqua cửa hàng của HTX đạt 94,5%, hoá chất nông nghiệp - 70%, thức ăn gia súc
- 35,5%
Ở một số nước trong khối ASEAN như Inđônêxia, Thái Lan, v.v , HTXcũng xuất hiện khá sớm Chính phủ các nước này cũng đã có những chủ trương,biện pháp cụ thể để khuyến khích việc thành lập HTX hay “hiệp hội” nông dân
để giúp đỡ nhau, phát triển sản xuất Đồng thời, các Chính phủ đều dành sựquan tâm hỗ trợ đáng kể cho khu vực kinh tế HTX và các nông trại Thí dụ,Chính phủ Thái Lan đã thành lập hệ thống “phát triển nông thôn quốc gia” từcấp trung ương đến cơ sở Nhà nước Inđônêxia đã nêu rõ chủ trương nền kinh tếquốc dân phải được xây dựng trên nguyên tắc tương trợ và hợp tác Nhà nước đề
ra những chính sách ưu tiên đối với khu vực kinh tế HTX
Thực tế lịch sử thế giới hơn 100 năm qua đã chứng minh tính đúng đắncủa quan điểm về sự cần thiết khách quan của kinh tế hợp tác trong quá trìnhphát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Trong điều kiện nước ta hiện nay với gần 70% số dân ở nông thôn lại đilên từ một nền sản xuất nhỏ thì việc xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác vàHTX trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá, trước mắt là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thônlại càng trở nên cấp thiết và bức xúc hơn
24
Trang 24Từ sau đổi mới, đất nước ta chuyển sang phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần định hướng XHCN Trong chính sách phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN, Đảng ta khẳng định các thành phần kinh tế kinhdoanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, cùngphát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế Nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trởthành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN vận động theo yêu cầu và các qui luật khách quan vốn có của nó.Một mặt, kinh tế thị trường định hướng XHCN tạo điều kiện phát huy mọinguồn lực, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế Mặt khác, kinh tế thị trườngcũng có những mặt trái của nó như tạo nên sự phân hoá giàu - nghèo, cạnh tranhgay gắt, chèn ép lẫn nhau, gây nên những hiện tượng tiêu cực xã hội khác Kinh
tế hàng hoá, kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì cuộc cạnh tranh giữa cácchủ thể sản xuất trên thương trường sẽ ngày càng gay gắt, đặc biệt trong bốicảnh nền kinh tế nước ta đang từng bước hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tếhàng hoá ở nước ta nói chung và ở nông thôn nói riêng có bước phát triển quantrọng Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta hiện nay vẫn là nền sản xuất nhỏ, nôngnghiệp vẫn là ngành sản xuất chính, gần 70% số dân sống ở nông thôn với hơn
12 triệu hộ nông dân, trong đó có tới 87,9% làm nông nghiệp Về cơ bản, hộnông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, nhưng vẫn là những hộ tiểu nông nhỏ bé,nhiều nơi còn sản xuất tự cung, tự cấp, cơ sở vật chất - kỹ thuật nghèo nàn, lạchậu, lại thường bị thiên tai tàn phá, cơ sở hạ tầng lại rất khó khăn Trong nhữngđiều kiện đó, từng hộ nông dân riêng lẻ khó có thể khắc phục khó khăn để vươnlên, mà phải hợp tác, liên kết lại với nhau nhằm tăng sức mạnh, tăng khả năngcạnh tranh để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường đầy biến động Xuhướng chung là các hộ sản xuất nhỏ, các hộ nông nghiệp, người lao động riêng
lẻ liên kết nhau dưới các hình thức kinh tế hợp tác, HTX để sử dụng tốt hơnnguồn vốn, lao động, máy móc, thiết bị và tài nguyên thiên nhiên, cũng như việccung ứng và tiêu thụ sản phẩm nhằm tăng hiệu quả kinh tế Hiện nay, nhu cầu về
tổ chức và phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, HTX ở nông thôn và tronglĩnh vực nông nghiệp ở nước ta đang đặt ra rất cần thiết Nông thôn, nông dânđang có nhu cầu rất lớn về các dịch vụ thương mại, dịch vụ tài chính, các dịch
vụ kỹ thuật như bảo vệ thực vật, nhân giống, cung cấp giống, dịch vụ điệnnước Việc tiêu thụ nông sản cho nông dân hiện nay cũng rất khó khăn, nôngdân bị tư thương ép cấp, ép giá cả đầu vào lẫn đầu ra Vì vậy, phát triển kinh tếhợp tác, HTX để làm các dịch vụ này phục vụ cho sản xuất của các hộ tốt hơn,
25
Trang 25bảo vệ lợi ích của nông dân để nông dân không bị thua thiệt là yêu cầu cấp báchđối với nông dân
Con đường phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta trong nhữngnăm tới phải dựa trên cơ sở khuyến khích mọi thành phần cùng tham gia, cùngliên kết và hỗ trợ nhau để không ngừng tạo ra sự tăng trưởng của từng thànhphần và tăng trưởng chung của toàn xã hội Trong sự phát triển đó, kinh tế hợptác, HTX trong lĩnh vực nông nghiệp là một bộ phận hợp thành và phát triểnnhư một tất yếu khách quan, được bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển
và gắn kết chặt chẽ với các thành phần khác, là một trong những điều kiện cầnthiết và có hiệu quả để giúp đỡ, hỗ trợ nông dân và những người lao động cá thểtham gia vào sự phát triển và tăng trưởng chung của kinh tế nông nghiệp, nôngthôn nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung, vừa đóng góp vừa hưởnglợi
Nghị quyết số 13 Hội nghị trung ương 5 (Khoá IX) về kinh tế tập thểkhẳng định phát triển kinh tế tập thể, mà nòng cốt là HTX mang tính tất yếukhách quan, để kinh tế tập thể cùng với kinh tế Nhà nước ngày càng trở thànhnền tảng của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN Nghị quyết nhấnmạnh, những năm tới, trong nông nghiệp, nông thôn, kinh tế hộ tự chủ tiếp tụctồn tại lâu dài, phải có sự hợp tác lẫn nhau để nâng cao hiệu quả và khả năngcạnh tranh, giúp hộ đứng vững được trong nền kinh tế thị trường Kinh tế tậpthể, nòng cốt là HTX kiểu mới là hình thức tổ chức kinh tế phù hợp để thực hiệnđiều đó Phát triển rộng rãi các hình thức kinh tế tập thể trong tất cả các ngành,lĩnh vực và địa bàn là cần thiết, trong đó phát triển kinh tế tập thể trong nôngnghiệp, nông thôn phải được xem là một trọng tâm, cần tập trung chỉ đạo nhằmtạo ra một thể chế kinh tế có thể đảm nhận vai trò hỗ trợ, nâng đỡ kinh tế hộ,trang trại phát triển, làm cầu nối để tiếp nhận sự hỗ trợ của Nhà nước cho kinh tế
hộ, kinh tế trang trại Kinh tế tập thể tuyệt nhiên không thay thế hoặc thủ tiêukinh tế hộ, trang trại; gắn phát triển kinh tế tập thể với quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới; thúc đẩy kinh tế tậpthể không ngừng phát triển sức sản xuất, vươn lên cạnh tranh trong quá trình hộinhập kinh tế quốc tế
1.2.4 Vai trò của HTX nông nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá gồm nhiều thành phần, mỗi thànhphần đều có vai trò nhất định đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đốivới phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nói riêng Kinh tế tập thể, mà nòng cốt
là các HTX, có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá,
26
Trang 26hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 18 tháng
03 năm 2002, Hội nghị lần thứ năm BCH trung ương Đảng (khoá IX) "Về đẩy
nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 2010" đã chỉ rõ: "Phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh
-tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh -tế tập thể ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc; phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn"
Trong những năm tới trong nông nghiệp, nông thôn, kinh tế hộ tự chủ tiếptục tồn tại lâu dài, phải có sự hợp tác lẫn nhau để nâng cao hiệu quả và khả năngcạnh tranh, giúp hộ đứng vững được trong nền kinh tế thị trường Kinh tế tậpthể, nòng cốt là HTX kiểu mới là hình thức tổ chức kinh tế phù hợp để thực hiệnđiều đó
Vai trò của kinh tế tập thể, mà nòng cốt là HTX, đối với phát triển kinh tế
- xã hội ở nông thôn được thể hiện ở việc thực hiện các mục tiêu và nội dungcủa công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Điều đó được thểhiện trên các mặt sau:
Một là, sự hình thành và phát triển các HTX nông nghiệp là giải pháp hết
sức quan trọng nhằm huy động tối đa nguồn lực sẵn có ở nông thôn về tàinguyên, nguồn nguyên liệu, phụ phẩm, phế phẩm của nông nghiệp, về lao động,thị trường, cũng như khai thác có hiệu quả vốn trong dân, cơ sở vật chất kỹ thuật
và những kỹ năng, kỹ xảo của người lao động để tăng cường đầu tư, đổi mớithiết bị, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tạo thêm việc làm trong cáclĩnh vực và ngành nghề phi nông nghiệp, qua đó tạo ra ngày càng nhiều sảnphẩm cho xã hội, đặc biệt là lương thực, thực phẩm và một số hàng công nghiệptiêu dùng, góp phần vào việc ổn định và phát triển kinh tế chung của đất nước,cũng như từng địa phương, tăng nguồn tích luỹ cho Nhà nước và nhân dân Tuyhiện nay khối lượng hàng hoá do các HTX nông nghiệp làm ra còn nhỏ bé,nhưng nó đã góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy kinh tế hàng hoá ở nông thônphát triển
Hai là, sự hình thành và phát triển các HTX nông nghiệp sẽ thúc đẩy kinh
tế hộ, bao gồm các hộ sản xuất nông nghiệp và các hộ sản xuất phi nông nghiệp(hộ ngành nghề) phát triển, tạo mối liên kết , hợp tác giữa những cơ sở sản xuấtnhỏ với nhau Các HTX nông nghiệp có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ, tạo
ra quan hệ liên kết, hợp tác giữa những người sản xuất nhỏ để giúp nhau tăngcường sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường, khai thác các nguồn tiềm năng vềvốn, lao động, kỹ thuật để phát triển các ngành nghề, đa dạng hoá kinh tế nôngthôn, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, thực hiện tốt vai trò là
27
Trang 27cầu nối giữa các hộ sản xuất, xã viên với Nhà nước và các tổ chức kinh tế Nhànước Thông qua vai trò hỗ trợ, các HTX nông nghiệp sẽ thúc đẩy cho các hộtiểu nông chuyển nhanh sang các hộ nông dân sản xuất hàng hoá và các trangtrại, mở mang các ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn, đáp ứng yêu cầu của thịtrường, qua đó góp phần quan trọng bảo đảm tốc độ tăng trưởng bền vững, thựchiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và khu vực kinh
tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền móng mới chosản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp truyền thống lạc hậu lên sản xuất lớn,từng bước tham gia hội nhập vào nền kinh tế hiện đại - kinh tế thị trường pháttriển trong nước và quốc tế
Ba là, sự hình thành và phát triển các HTX nông nghiệp, đặc biệt là các
HTX nông nghiệp kinh doanh tổng hợp (đa ngành nghề) sẽ góp phần phát triểnngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn Thông qua đó, các HTXgóp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang nền kinh tế
có công nghiệp và dịch vụ cùng phát triển và ngày càng chiếm tỷ trọng caotrong nền kinh tế quốc dân Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong nền kinh tếgiảm xuống, tăng tương ứng lao động phi nông nghiệp Vai trò phát triển ngànhnghề nông thôn của các HTX nông nghiệp còn được thể hiện dưới hình thức cácHTX tổ chức và phát triển tín dụng nội bộ để cung ứng vốn tín dụng cho các hộnông dân phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản, trồng cây ăn quả, câycông nghiệp và rau màu có năng suất và giá trị cao; cho các hộ ngành nghề đầu
tư mở rộng sản xuất, nâng cao trình độ, trang thiết bị máy móc hiện đại, đổi mớicông nghệ nhằm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, phát triển ngànhnghề mới
Bốn là, sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp sẽ góp phần đưa
tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ thuật hiện đại vào các khâu sản xuấtnông nghiệp và nông thôn Thông qua việc phát triển và mở rộng các hoạt độngdịch vụ và hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công vàkhuyến thương, các HTX sẽ là nơi đưa các tiến bộ khoa học - công nghệ tới các
hộ nông dân để ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp, đồng thời đào tạo, bồidưỡng kiến thức về nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp cho lao độngnông thôn chuyên hoặc kiêm sản xuất ngành nghề và dịch vụ thương mại; tổchức thực hiện việc phổ cập thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin thị trườngđến các xã, thôn Trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh, các HTX nôngnghiệp cũng phải đổi mới công nghệ, đưa các trang thiết bị hiện đại vào sảnxuất, kinh doanh và tổ chức quản lý, điều đó cũng làm cho quá trình đưa tiến bộkhoa học, công nghệ vào nông nghiệp và nông thôn được thúc đẩy và tăngcường
28
Trang 28Năm là, sự mở rộng hoạt động tín dụng nội bộ trong các HTX nông
nghiệp có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân để chovay đầu tư và phát triển thị trường tín dụng nông thôn, tạo ra nguồn vốn đầu tưlớn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá nông nghiệp và nông thôn Ngoài ra, sự hình thành và phát triển các HTXkhông chỉ có tác dụng tập trung các nguồn vốn nhỏ, phân tán, hoạt động ít cóhiệu quả thành một nguồn vốn lớn, nâng cao năng lực về vốn của các HTX, màcòn tạo điều kiện cho các HTX nâng cao khả năng tiếp cận với các nguồn cungcấp tín dụng chính thức của các ngân hàng như: Ngân hàng chính sách xã hội,Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các ngân hàng thương mại, cácQuỹ hỗ trợ phát triển HTX, các Quỹ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,Quỹ giải quyết việc làm , vì so với các hộ sản xuất kinh doanh cá thể, các HTX
có thuận lợi hơn, có uy tín hơn khi tiếp cận các nguồn vốn chính thức cả về mứcvay, thời hạn vay và thủ tục vay
Sáu là, sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp sẽ góp phần nâng
cấp và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn Trong những điều kiện của nước ta,việc xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn không chỉ do Nhà nước bỏ vốn đầu
tư, mà các hộ nông dân còn tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôntheo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm Việc đầu tư của các hộ nôngdân vào xây dựng kết cấu hạ tầng thường do các HTX nông nghiệp đứng ra tổchức và thực hiện Ngoài ra, trong quá trình hình thành và phát triển, các HTXnông nghiệp cũng phải bỏ vốn đầu tư để xây dựng hệ thống điện, nước, đườnggiao thông đi lại, qua đó cũng góp phần đáng kể vào việc phát triển kết cấu hạtầng nông thôn Một bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội khác do các HTX tạo nên làcác công trình phúc lợi xã hội như nhà mẫu giáo, nhà trẻ, nhà văn hoá, trườnghọc mà các HTX đầu tư xây dựng để phục vụ cho xã viên của mình hoặc phục
vụ cho cộng đồng dân cư nơi HTX đóng trụ sở
Bảy là, sự hình thành và phát triển HTX nông nghiệp là biện pháp hữu
hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn, góp phần xoá đóigiảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho nhân dân nông thôn Sựphát triển về số lượng các HTX tự nó đã đòi hỏi không những phải thu hút thêmlực lượng lao động ở gia đình, làng xã mình, mà trong nhiều trường hợp, nhờ
mở rộng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, còn thu hút được nhiều lao động từ cácđịa phương khác đến làm việc Ngoài ra, sự phát triển đa dạng, phong phú củacác loại hình HTX còn kéo theo nhiều ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp ởnông thôn phát triển Ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp được phát triển thìnhiều việc làm sẽ được tạo ra, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn, tận dụngtốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp,
29
Trang 29góp phần thực hiện phân bổ hợp lý lực lượng lao động nông thôn, tạo điều kiệnthu hút vốn đầu tư nhàn rỗi và tiềm năng nghề nghiệp của nông dân Nhờ gópphần thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, đưa tiến bộ khoa học, công nghệ vàosản xuất, các HTX tạo điều kiện cho người dân nông thôn mở mang giao tiếp,trao đổi với thành thị và các vùng kinh tế khác không chỉ về kinh tế mà cả vềvăn hoá, lối sống Do vậy, người dân nông thôn sẽ dần dần dứt bỏ cuộc sống,phong tục lạc hậu để tiếp cận, hoà nhập với cuộc sống văn minh, hiện đại Đócũng là một yếu tố góp phần nâng cao dân trí ở nông thôn Các HTX phát triển
sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc, góp phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn,việc làm, tăng thu nhập và bảo đảm đời sống ổn định cho xã viên và người laođộng, góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội ởđịa phương, tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làtiền đề quan trọng để thực hiện dân chủ hoá và nâng cao văn minh ở nông thôn,nhất là các vùng sâu, vùng xa Xuất phát từ giá trị nhân văn, giàu tinh thần nhân
ái của mình, các HTX còn nêu cao tinh thần hợp tác, phát huy tinh thần tươngthân, tương ái, đoàn kết hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để vượt nghèo, nâng đỡ các giađình khó khăn
1.3 Xây dựng mô hình HTX điển hình tiên tiến, HTX tham gia xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Khái niệm về mô hình HTX điển hình tiên tiến:
Theo Từ điển tiếng Việt “Mô hình là vật cùng hình dạng nhưng làm thu
nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày,nghiên cứu".8 Từ định nghĩa trên ta có thể thấy mô hình HTX điển hình tiên tiếnđược lựa chọn, nghiên cứu từ những HTX tổ chức chặt chẽ theo đúng bản chất,nguyên tắc và Luật HTX; tổ chức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ đạt hiệu quảcao, mang lại thu nhập cao cho thành viên và người lao động; đồng thời làm tốtcông tác xã hội, trợ giúp cho kinh tế hộ phát triển; thành viên và người dân địaphương có đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ấm no, tiến bộ; cộng đồng thôn xómđoàn kết, vui tươi, phấn khởi, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau; không có tệnạn tham nhũng, tiêu cực HTX ngày càng có chiều hướng phát triển, tiến bộ
Đó là mô hình HTX điển hình tiên tiến cần được nhiều HTX học tập, xây dựng,nhân rộng và phát triển
1.3.2 Các dạng đói nghèo và khái niệm về xóa đói, giảm nghèo:
Đói nghèo là được hiểu là sự thiệt hại những điều kiện tối thiểu để đảmbảo mức sống tối thiểu của một cá nhân hay của một cộng đồng dân cư Đóinghèo có hai khái niệm cơ bản:
8 Từ điển tiếng Việt; NXB Đà Nẵng, 2006; Hoàng Phê, Tr 638.
30
Trang 30Nghèo tuyệt đối: là tình trạng thiếu hụt những điều kiện tối thiểu để duytrì cuộc sống, tiếp cận những nhu cầu, các vấn đề về dinh dưỡng, giáo dục vàcác dịch vụ y tế Việc xác định một đối tượng là nghèo hay không ph¶i dựa trêntiêu chuẩn nghèo của quốc gia và của thế giới.
Nghèo tương đối: là trình trạng một bộ phận dân cư, một cá nhân có thunhập thấp hơn mức thu nhập, mức sống trung bình của xã hội, do đó họ thiếu cơhội để tạo thu nhập, thiếu tài sản để tiêu dùng và dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro
Vậy khái niệm về xóa đói, giảm nghèo là tổng thể các chủ trương, chínhsách, biện pháp, của đảng, nhà nước và xã hội hay của chính những đối tượngthuộc diện đói nghèo; nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏitình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sởchuẩn nghèo được quy định theo từng địa phương, khu vực và quốc gia
Nội dung của xóa đói, giảm nghèo được thực hiện trên các nội dung chínhnhư sau:
Tạo điều kiện cho người nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, gia tăngthu nhập bằng các biện pháp: có chính sách ưu đãi về tín dụng cho người nghèo(lãi suất thấp, tín chấp ) giúp họ có vốn sản xuất và từ đó có thể thoát nghèo
Hỗ trợ cho họ đất để sản xuất bằng cách giảm thuế đất hoặc cho thuê đất khôngthu tiền sử dụng đất Thực hiện hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng về đường xá, côngtrình thủy lợi, tạo điều kiện cho người dân tham gia sản xuất, nâng cao năngxuất lao động để thoát nghèo Tạo điều kiện cho người dân có điều kiện học hỏi
kỹ thuật canh tác, sản xuất bằng cách mở các lớp dạy nghề, tập huấn, phổ biếnkiến thức đến từng thôn, bản, xóm ấp để nâng cao lao động cho người nghèo.Dựa trên cơ sở vùng, miền, xác định được thế mạnh, lợi thế so sánh của điaphương, có thế hoạch phát triển các ngành nghề, giúp giải quyết tình trạng thấtnghiệp, tăng thêm thu nhập cho người nghèo Tạo điều kiện cho người nghèo có
cơ hội tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, vệ sinh, nước sạch; hỗtrợ về y tế bằng việc cấp thẻ bảo hiểm y tế, cấp thuốc miễn phí cho ngườinghèo
1.3.3 Hợp tác xã tham gia xây dựng nông thôn mới:
Hiện nay, nước ta có gần 70% dân số sống ở nông thôn với nguồn thunhập chính từ nông nghiệp Cả nước có 20.000 HTX; trong đó, 10.900 HTXnông nghiệp, chiếm trên 50%, nên HTX nông nghiệp có vai trò rất quan trọngtrong việc tham gia xây dựng nông thôn mới Thực tiễn xây dựng nông thôn mới
ở nước ta thời gian vừa qua đã khẳng định, thành phần kinh tế tập thể mà nồngcốt là HTX, nếu phát triển đúng hướng sẽ là yếu tố, động lực cơ bản để đổi mới
31
Trang 31tư duy, nâng cao trình độ sản xuất cho thành viên và nông dân, đem lại hiệu quảkinh tế cao trong các HTX và khu vực nông nghiệp, nông thôn, tạo nền tảngthúc đẩy nhanh quá trình thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới gắn với đẩy mạnh việc củng cố, phát triển kinh
tế tập thể, mà nòng cốt là HTX, là một chiến lược quan trọng và có ý nghĩaquyết định tác động đến việc hoàn thành các tiêu chí khác về xây dựng nôngthôn mới Đây là điều kiện tạo thuận lợi cho khu vực nông thôn phát triển ổnđịnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân Trong quá trình đó,các tổ chức kinh tế hợp tác, mà cụ thể là vai trò của các HTX dịch vụ nôngnghiệp là hết sức quan trọng, vừa hỗ trợ để cụ thể hóa những tiêu chí, vừa làcông cụ phát huy nội lực để thực hiện mục tiêu đó Kinh tế tập thể là một yếu tố
và động lực cơ bản để đổi mới tư duy, nâng cao trình độ sản xuất trên mọiphương diện cho người nông dân và đem lại hiệu quả kinh tế cao tạo nền tảng đểthúc đẩy quá trình xây dựng NTM Hoạt động của các HTX có hiệu quả sẽ cótác dụng thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, tạo ra mối liên kết, hợp tác giữa các hộthành viên trong HTX và giữa các hộ thành viên với các cơ sở sản xuất, kinhdoanh nhỏ và vừa khác, góp phần gia tăng sản lượng hàng hóa nông thôn CácHTX thông qua tổ chức và hoạt động của mình đã huy động có hiệu quả các nguồn lực của xã hội để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, mở rộng sản xuất,phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa, đặc biệt trong nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện các tiêuchí xây dựng NTM ở địa phương
Về xã hội, với tính chất là tổ chức kinh tế - xã hội, các HTX đã tham giatích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như tạo việc làm, tăng thu nhậpcho người lao động; góp phần giúp nhiều hộ thoát nghèo, ổn định cuộc sống.Các HTX còn là nơi giáo dục ý thức cộng đồng, đề cao các giá trị văn hóa, đạođức, phát huy tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết, hỗ trợ giúp đỡ nhau cùnglàm giàu, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Các HTX còn thể hiện
rõ vai trò tích cực của mình trong việc góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật
tự, an ninh quốc phòng, tham gia củng cố hệ thống chính trị cơ sở…
1.4 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của HTX n«ng nghiÖp
1.4.1 Chủ trương, chính sách về xây dựng nông thôn mới:
Bước vào thời kỳ đổi mới, sự đột phá về chủ trương, chính sách của đảng,nhà nước cũng được khởi đầu thực hiện ở lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nôngthôn Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006), Đảng ta nhấn
32
Trang 32mạnh: "Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nôngthôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” Hội nghị lần thứ Bảy, Ban Chấphành Trung ương khóa X ra Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Banchấp hành Trung ương Đảng về "nông nghiệp, nông dân, nông thôn", đề ra chủ
trương, nhiệm vụ hết sức quan trọng là: "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường"9 với mục tiêu đến năm 2020xây dựng được khoảng 50% số xã trên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thôn mới
Để Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, bức tranh đổi mới làng quênông thôn Việt Nam sớm là hiện thực, Chính phủ đã kịp thời triển khai Nghịquyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 về chương trình hành động thực hiệnNghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị BCH Trung ương 7 (khóa X);Thủ tướngChính phủ có Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chíquốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê
duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (viết tắt là
MTQG XDNTM) giai đoạn 2010 - 2020 và Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày8/6/2012 sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trìnhXDNTM; Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/2/2013 sửa đổi một số tiêu chícủa Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày21/3/2013 bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình MTQG XDNTM Các Bộ,Ngành đã kịp thời ban hành các Thông tư hướng dẫn, chỉ đạo các địa phươngthực hiện Chương trình
1.4.2 Các chính sách về xóa đói, giảm nghèo:
Nhiều năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành, chỉ đạo thực hiện nhiềuchính sách năng động, phù hợp với mục tiêu kiên trì xóa đói giảm nghèo nhanh
và bền vững; đồng thời bảo đảm sự công bằng, dân chủ và an sinh xã hội Chínhphủ đã nỗ lực triển khai đồng bộ 8 Chương trình mục tiêu quốc gia, huy độngnhiều nguồn lực của xã hội vào cuộc (bao gồm cả Chương trình 134, 135 giaiđoạn II và quyết liệt thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗtrợ giảm nghèo nhanh, bền vững đối với 61 huyện nghèo) hướng mạnh vào cácvùng nông thôn, huyện nghèo, xã nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng đông dântộc thiểu số để giảm nghèo nhanh ở những vùng nghèo nhất Do đó, ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo đã giảm từ 60% (năm 1997) xuống 47%(đầu năm 2006) và còn 28,7% (năm 2010), bình quân mỗi năm giảm 4% - 5% số
hộ nghèo, có nơi giảm được 7% - 8% Tính chung cả nước, tỷ lệ hộ nghèo giảmdần từ 20% đầu năm 2006 xuống 11,3% vào cuối năm 2009 Tốc độ tăng trưởng
9 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X)
33
Trang 33kinh tế vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đạt hơn 10%, miền Trung 12%,Tây Nguyên 12,5% và Nam Bộ là 12% Cơ cấu kinh tế cũng chuyển dịch theohướng tích cực, đời sống của người nghèo được cải thiện đáng kể.
Thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia, trong 7 năm (2006 - 2013) đã
có khoảng 10,2 triệu lượt hộ nghèo được vay vốn sản xuất; triển khai 60.000 lớptập huấn chuyển giao kỹ thuật; xây dựng 15.500 mô hình trình diễn hướng dẫncách làm ăn cho 5,7 triệu lượt người nghèo; khoảng 300.000 lao động nghèođược đào tạo nghề miễn phí, trong đó, trên 60% đã tìm được việc làm, tăng thêmthu nhập Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo được triển khai ở 218 xã thuộc
35 tỉnh, thành phố, với 27.566 hộ tham gia mô hình trình diễn, đã tự gia tăngthêm 15% ngày công lao động, thu nhập tăng từ 20% - 25% và có 15% số hộthoát được nghèo Khoảng 4.500 công trình hạ tầng phục vụ sản xuất được đầu
tư ở 273 xã đặc biệt khó khăn, bãi ngang ven biển, hải đảo; bình quân đạt 9,15công trình/xã; 62 triệu lượt người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế; 9 triệu lượthọc sinh nghèo được miễn giảm học phí, 3,8 triệu được hỗ trợ sách vở; khoảng900.000 hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở 17 tỉnh, thành phố, 306 quận, huyện với6.931 xã, phường, thị trấn được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Namcông nhận hoàn thành chương trình xóa nhà dột nát, nhà tạm cho hộ nghèo.100% số xã có đường giao thông đến trung tâm (trong đó 75,2% số xã có đườnggiao thông từ trung tâm xã đến thôn, bản đi lại được bằng xe gắn máy); 100% số
xã có trạm y tế và có đủ trường tiểu học và trung học cơ sở (trong đó trường, lớphọc kiên cố 83,6%); 67,5% số xã có công trình thủy lợi nhỏ; 91,8% số xã cóđiện đến trung tâm xã; đầu tư công trình nước sinh hoạt tập trung hoặc phân tán,cung cấp cho 67,8% số hộ dân
Với ba chức năng: phòng ngừa rủi ro; giảm thiểu rủi ro; và khắc phục rủi
ro, các chính sách an sinh xã hội được triển khai trên ba phương diện:
a - Chính sách hỗ trợ tạo việc làm, tham gia thị trường lao động cho lao động nông thôn có thu nhập ổn định cho đồng bào dân tộc thiểu số Thực hiện
Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đồng bào được thụhưởng tín dụng ưu đãi cho vay vốn phát triển sản xuất với mức vay 5 triệu đồng/
hộ, lãi suất 0% Chính phủ ban hành các Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg; số1342/2009/QĐ-TTg hỗ trợ di dân và thực hiện định canh, định cư bảo đảm chođồng bào dân tộc thiểu số ổn định đời sống Đặc biệt là chính sách hỗ trợ giáodục được thực hiện bằng nguồn vốn từ Chương trình 135 giai đoạn II Mặt khác,đối với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số diện nghèo học tại cáctrường phổ thông dân tộc nội trú và trường chuyên nghiệp còn được tăng thêmmức học bổng và được miễn 100% học phí, được cấp tiền mua sách vở, đồ dùnghọc tập tại các trường dự bị đại học; đối tượng học sinh dân tộc thiểu số diệnnghèo học tại các cơ sở giáo dục phổ thông thụ hưởng chính sách hỗ trợ hằngtháng được mở rộng (theo các Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg; Quyết định số
34
Trang 34194/2001/QĐ-TTg và Quyết định số 101/2009/QĐ-TTg) đã tạo cơ hội học tậpcho hàng nghìn học sinh là người DTTS diện nghèo10.
b - Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT): Luật Bảo hiểm Y tế ban hành năm
2008 cho thấy, sự cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước trong việc hỗ trợtoàn bộ hoặc một phần mức đóng BHYT đối với người nghèo, cận nghèo, ngườidân tộc thiểu số, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi, và đối tượng hưởng trợgiúp xã hội
c - Chính sách trợ giúp xã hội: Đối tượng được trợ giúp xã hội (TGXH)
thường xuyên, từng bước được mở rộng Nếu năm 2005, khu vực nông thôn cókhoảng 390 nghìn người được thụ hưởng thì tới năm 2009 tăng lên trên 970nghìn người Mức chuẩn để tính trợ cấp cũng được điều chỉnh tăng lên từ 120nghìn đồng lên 180 nghìn đồng (năm 2010) và được bảo đảm bởi ngân sách nhànước
Nhiều mô hình TGXH được tổ chức phù hợp với nhu cầu của từng nhómđối tượng Phong trào xã hội hóa chăm sóc đối tượng được mở rộng đã bổ sungđáng kể cho nguồn lực còn hạn chế từ ngân sách
1.4.3 Các yếu tố về tâm lý của người nông dân ảnh hưởng tới quá trình xây dựng và phát triển HTX nông nghiệp:
Ở Việt Nam, người nông dân sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều
Họ sống cố định một chỗ, ở dưới một mái nhà với mảnh vườn của mình đượcbao bọc bởi luỹ trẻ làng bảo vệ Trong sản xuất, người nông dân phụ thuộc vàonhiều hiện tượng của tự nhiên như trời, đất, nắng, mưa Bởi vậy mà họ rất tôntrọng, hoà thuận với tự nhiên và phụ thuộc vào nó Sống phụ thuộc vào tự nhiênlàm người nông dân dễ trở nên rụt rè, thụ động Người Việt đã tích luỹ đượcnhững kinh nghiệm hết sức phong phú trong sản xuất Đó là hệ thống tri thứcthu được bằng con đường kinh nghiệm chủ quan, cảm tính Trong quan hệ ứng
xử giữa con người với nhau từ gia đình đến làng xóm đều theo nguyên tắc trọngtình (duy tình) Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau là một môi trườngthuận lợi để người nông dân tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình
nghĩa làm đầu: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình (tục ngữ) Lối sống
trọng tình cảm sẽ tất yếu đẩy cái "lý" (luật pháp) xuống hàng thứ hai
Lối sống trọng tình đã dẫn đến cách ứng xử hết sức linh hoạt và thích ứng
nhanh với điều kiện hoàn cảnh cụ thể: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, Đi với bụt
mặc áo cà sa/ Đi với ma mặc áo giấy (tục ngữ) Với nhu cầu sống hòa thuận trên
cơ sở cái gốc là tình cảm giữa con người với nhau trong làng xóm càng làm cholối sống linh hoạt trở nên đậm nét và chính là cơ sở tâm lý hiếu hòa trong cácmối quan hệ xã hội dựa trên sự tôn trọng và cư xử bình đẳng với nhau Do vậy,người nông dân hết sức coi trọng tập thể, cộng đồng, làm việc gì cũng phải tínhđến tập thể Lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ là những đặc điểm tích cực,nhưng mặt trái của nó là đặc điểm tâm lý áp đặt, tuỳ tiện, tâm lý "hòa cả làng",
10 Theo số liệu Niên gián của Tổng cục Thống kê hàng năm.
35
Trang 35coi thường phép nước (pháp luật): "Phép vua thua lệ làng", "Đưa nhau đến trước
cửa quan, bên ngoài là lý bên trong là tình”.
Cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc vào thiên nhiên Do vậy, người nôngdân phải dựa vào nhau để chống chọi lại với thiên tai Hơn nữa, nền nông nghiệplúa nước lại mang tính thời vụ rất cao, điều đó có nghĩa là mọi người phải liênkết lại với nhau, hỗ trợ nhau cho kịp thời vụ Do đó, tính cộng đồng là một đặcđiểm tâm lý đặc trưng của người Việt Nam trong văn hóa làng xã Ở Việt Nam,làng xã và gia tộc (họ) nhiều khi đồng nhất với nhau Bởi vậy, gia tộc trở thànhmột cộng đồng gắn bó và có vai trò quan trọng đối với người Việt Sức mạnhcủa gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau Người trong họ cótrách nhiệm cưu mang, hỗ trợ nhau về vật chất, tinh thần và dìu dắt, làm chỗ dựa
cho nhau về chính trị (Một người làm quan cả họ được nhờ) Quan hệ huyết
thống là cơ sở của tính tôn ti: người sinh ra trước là bậc trên, người sinh ra sau
là bậc dưới Tính tôn ti trong trật tự của các dòng tộc đã dẫn đến mặt trái của nó
là tâm lý gia trưởng, trọng nam khinh nữ và đặc biệt là tâm lý địa phương, cục
bộ Đây là một rào cản rất lớn trong quá trình hội nhập của người nông dân Việt.Làng xã Việt Nam như một vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (hương ước)tạo nên một sự cố kết, bền vững của làng xã và cũng đã tạo nên tâm lý bè phái,địa phương, ích kỷ Hương ước của làng xã chính là hệ thống giá trị, chuẩn mựccủa làng xã, nó quy định cung cách ứng xử, lối sống của cá nhân trong làng, tạonên sự đồng nhất, mà trước hết là trong dòng họ Sự đồng nhất mà cơ sở là tínhcộng đồng có mặt tích cực là làm cho mọi người luôn đoàn kết, tương trợ giúp
đỡ lẫn nhau (trong dòng họ trước hết) như: Chị ngã em nâng (tục ngữ) Nhưng
mặt trái của tính đồng nhất là ý thức về cá nhân bị thủ tiêu
Sự đồng nhất (giống nhau) dẫn đến chỗ người nông dân Việt Nam hiện
nay nhiều khi có thói quen dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số đông: Nước nổi thì
thuyền nổi hoặc Cha chung không ai khóc (tục ngữ) Cũng từ đó, một nhược
điểm của họ là tâm lý cào bằng, đố kỵ, không muốn cho ai hơn mình (để cho tất
cả mọi người đồng nhất, như nhau) - Xấu đều hơn tốt lỏi (tục ngữ) - vẫn còn
biểu hiện ở không ít địa phương
Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam hiện nay, người ta coi trọng cái tiếng(danh dự) hơn các thứ khác Do vậy, họ sẵn sàng chết đói, chết rét, chết bom,chết đạn để che chở, nuôi nấng cho con cháu mình được học hành, đỗ đạt
Tâm lý sĩ diện trong đời sống làng xã của người nông dân dẫn đến tínhkhoa trương, trọng hình thức Mặc dù đời sống kinh tế hiện nay của người nôngdân văn còn khó khăn, nhưng họ sẵn sàng tuân theo các thủ tục, nghi lễ nặng nề,tốn kém trong cưới xin, ma chay, khao vọng, hội lễ Những hủ tục này gây nên
sự tiêu tốn kinh phí rất lớn cho cá nhân cũng như cho cộng đồng, do vậy dẫn đến
36
Trang 36sự đói nghèo của nhiều gia đình nông dân Đây là một vật cản lớn trong quátrình hội nhập kinh tế của người nông dân Việt Nam.
Những đặc điểm về tâm lý của người nông dân Việt Nam cũng là thànhviên của các HTX nông nghiệp nên làm ảnh hưởng không nhỏ vào các hoạtđộng của các HTX nông nghiệp như: tâm lý ngại đổi mới, ngại áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ít hiểu biết về kinh tế thị trường và trao đổihàng hóa, bằng lòng với những gì mình có, không có tham vọng làm ăn lớn,vươn lên làm giầu
1.5 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về phát triển HTX nông nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, HTX đóng vai trò quan trọng kể cả ở cácnước phát triển và các nước đang phát triển Thông qua HTX, mọi người dânnông thôn có thể huy động nguồn lực, làm ăn tập thể và hưởng lợi nhiều hơntrên thị trường với tư cách vừa là người sản xuất, vừa là người tiêu thụ Theoước tính, hơn 50% sản lượng nông nghiệp toàn cầu được trao đổi thông quaHTX
1.5.1 Kinh nghiệm về tổ chức quản lý các HTX nông nghiệp ở Thái Lan
Hình thức HTX khá phát triển ở Thái Lan, ngay từ năm 1916 HTX đầutiên được thành lập với 16 thành viên, làm chức năng dịch vụ tín dụng cung cấpvốn với lãi suất thấp nhằm giúp đỡ nông dân xã viên Từ đó các HTX từng bước
ra đời Đầu năm 1990 cả nước có 3.009 hợp tác xã với 3.169 triệu hộ xã viên,đến năm 1993 số lượng HTX tăng lên 3.435 và số hộ xã viên tăng lên 5,19 triệu
Ở Thái Lan có 6 loại hình HTX, trong đó số lượng HTX nông nghiệp chiếm52% với 2.752 triệu hộ, chiếm 53.03% tổng số hộ xã viên Có thể nói, ở TháiLan HTX nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn về số lượng HTX và số lượng xãviên HTX nông nghiệp làm dịch vụ tổng hợp với chức năng dịch vụ đầu vào(cung cấp tín dụng, cung cấp vật tư kỹ thuật nông nghiệp ) và đầu ra (chếbiến, mua bán lúa, nông sản ) cho các hộ nông dân Trong đó, lúa gạo là hướngkinh doanh chủ yếu của HTX Hệ thống tổ chức HTX nông nghiệp ở Thái Lantheo ba cấp gồm:
- HTX nông nghiệp cơ sở được xây dựng trên cơ sở hợp nhất các HTX tíndụng quy mô nhỏ thành lập các HTX tín dụng cấp huyện với các HTX lúa gạo,nông sản HTX nông nghiệp có quy mô bình quân 800 hộ xã viên, trên địa bànhuyện và được chia theo làng, xã
37
Trang 37- Liên hiệp các HTX nông nghiệp cấp tỉnh tổ chức trên cơ sở từ 3 Liênhiệp HTX cơ sở trở lên Với chức năng hỗ trợ hoạt động của các HTX cơ sở tậptrung vào công tác chế biến lúa gạo là chủ yếu.
- Liên đoàn HTX nông nghiệp quốc gia được thành lập trên cơ sở cácLiên hiệp HTX nông nghiệp cấp tỉnh với nhiệm vụ nhập vật tư (phân bón) củanước ngoài đem phân phối cho các HTX trong cả nước và tổ chức tiêu thụ cácloại nông sản của các Liên hiệp HTX nông nghiệp cấp tỉnh, trước hết là lúa gạo
ở thị trường trong nước và xuất khẩu gạo ra nước ngoài
Ngoài hệ thống HTX nông nghiệp làm dịch vụ tổng hợp nêu trên, ở TháiLan đã hình thành hệ thống các HTX nông nghiệp làm dịch vụ chuyên ngành,bao gồm: các HTX dịch vụ ngành mía đường, HTX dịch vụ bò sữa, HTX dịch
vụ nghề cá v.v
Nghề chăn nuôi bò sữa và công nghiệp chế biến sữa của Thái Lan mớiphát triển vào những năm cuối thập kỷ 70 dưới sự bảo trợ của Hoàng gia TháiLan Là nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu nóng ẩm thích hợp vớinghề chăn nuôi bò sữa, lại được sự bảo trợ của Nhà vua, các nông trại chăn nuôi
bò sữa phát triển khá nhanh Năm 1988 mới có gần 8.000 nông trại, đến năm
1992 đã tăng lên 15.000 nông trại chăn nuôi bò sữa Để các nông trại chăn nuôi
bò sữa phát triển tốt, các HTX làm dịch vụ đã được hình thành và phát triển khánhanh, từ 27 HTX năm 1988 đã tăng lên 56 HTX năm 1992 với trên 13.000 xãviên Những yêu cầu chủ yếu để hình thành 1 HTX dịch vụ sản xuất sữa bò cơ
sở là phải có ít nhất 60 nông trại gia đình với quy mô ít nhất 300 con bò sữa.HTX phải làm được các dịch vụ về thú y, thụ tinh nhân tạo, sản phẩm sữa phảitiêu thụ được và có chỗ đứng trên thị trường Các chủ nông trại đều được đàotạo một khoá về kỹ thuật chăn nuôi bò sữa, phải có ít nhất 1,6 ha đất và ít nhất 5con bò sữa HTX có những hoạt động chủ yếu như: xây dựng 1 trung tâm thumua sữa bò do xã viên sản xuất với giá chuẩn được quy định căn cứ vào chất lư-ợng sữa (độ béo, đạm, vi khuẩn và vệ sinh) Tiến hành xây dựng cơ sở chế biếnsữa tươi thành sữa tinh chế sạch vi khuẩn, cơ sở chế biến hoặc pha trộn thức ăntinh HTX có chức năng trợ giúp khâu kỹ thuật cho xã viên, huấn luyện xã viênnâng cao tay nghề nuôi dưỡng và vắt sữa, hiểu biết về chất lượng sữa HTX vayvốn của BAAC (Ngân hàng nông nghiệp và HTX nông nghiệp) để tài trợ các xãviên vay Quy mô bình quân HTX bò sữa ở Thái Lan có 273 hộ xã viên, 4.43triệu bạt tiền vốn và quy mô doanh thu 29,3 triệu bạt, trong đó HTX nôngnghiệp có 4.358 xã viên với quy mô vốn 190.5 triệu bạt và doanh thu 923,5 triệubạt Các HTX dịch vụ bò sữa được tập hợp trong Liên đoàn HTX sản xuất sữacủa Thái Lan
38
Trang 38Các loại hình HTX ở Thái Lan được tập hợp và tổ chức thành Hiệp hộicác HTX Thái Lan, thành lập vào năm 1968 Hiệp hội HTX Thái Lan là cơ quantối cao của toàn bộ phong trào HTX, là tổ chức phi Nhà nước và là thành viêncủa Liên minh HTX quốc tế Hiệp hội HTX Thái Lan có nhiệm vụ thúc đẩy vàphát triển các hoạt động chung của các thành viên, làm cầu nối giữa phong tràoHTX với Nhà nước Các thành viên trong Hiệp hội thực hiện quan hệ đối ngoạivới Liên minh các HTX quốc tế và các nước khác.
1.5.2 Kinh nghiệm về HTX nông nghiệp ấn Độ
Tại ấn Độ, ban đầu chỉ là các làng sản xuất sữa bò đơn lẻ tự tập hợp lạithành HTX và ngày nay trở thành Liên đoàn HTX quốc gia sữa rất hùng mạnh.Yếu tố cơ bản quyết định thành công của HTX sữa là kiểm soát được hoạt độngtiếp thị, tìm đầu ra trực tiếp cho sản phẩm trong khi các cơ sở khác phải bán sảnphẩm qua các công ty trung gian Hiện nay mạng lưới HTX sữa bò ấn Độ gồm
22 liên đoàn, 170 liên hiệp có mặt ở 285 quận huyện, 101.000 làng xã với 11triệu thành viên và chiếm 42,6% thị phần trong toàn quốc Phong trào HTX ấn
Độ có thể coi là lâu đời và phát triển mạnh mẽ nhất ở các nước đang phát triển.HTX đầu tiên ở ấn Độ ra đời năm 1889, từ đó đến nay phong trào HTX ấn Độ
có hơn 100 năm kinh nghiệm hoạt động và chiếm vị trí quan trọng trong nềnkinh tế ấn Độ Hiện nay có khoảng 67% hộ gia đình ở ấn Độ là xã viên HTX vớikhoảng 500.000 HTX hoạt động ở rất nhiều ngành nghề, trải rộng từ khắp đô thịđến làng quê Chính phủ ấn Độ rất coi trọng vai trò HTX và luôn đánh giá HTX
là công cụ cơ bản góp phần to lớn thực hiện các mục tiêu quốc gia Những lĩnhvực HTX của ấn Độ hoạt động mạnh là HTX tín dụng nông nghiệp có tỷ trọng43% tổng số tín dụng toàn quốc HTX sản xuất đường chiếm 62,4% tổng sảnlượng đường và HTX sản xuất phân bón hoá học chiếm 34% tổng sản lượngphân bón của cả nước
1.5.3 Kinh nghiệm tổ chức và quản lý HTX nông nghiệp của Hàn Quốc
Trước đây, HTX cơ sở cấp xã đã hình thành tự phát, nhưng do nhữnghạn chế về quan niệm lịch sử, về hình thức hoạt động và ảnh hưởng của chiếntranh nên hoạt động của các HTX dần trở nên không phù hợp Sau nội chiếnnăm 1961, nhận thấy lực lượng nông dân có ý nghĩa sống còn về kinh tế vàchính trị với đất nước, Chính phủ Hàn Quốc đã thiết lập Liên đoàn HTX Nôngnghiệp Quốc gia (NACF) dựa trên hai tổ chức hoạt động độc lập lúc đó làNgân hàng Nông nghiệp và tổ chức HTX cũ Sau đó, Liên đoàn tiến hành thiếtlập mạng lưới HTX từ trung ương xuống cơ sở nhằm thực hiện 2 mục tiêu cơbản:
39
Trang 39- Cung cấp vốn cho nông dân: trong giai đoạn này, thị trường vốn hoạt
động yếu, đặc biệt trên địa bàn nông thôn, nông dân thường phải vay nặng lãi,ảnh hưởng xấu tới sản xuất và đời sống Chính phủ Hàn quốc đã ban hành luậtcấm cho vay nặng lãi ở khu vực nông thôn và muốn thông qua hoạt động củacác HTX nông nghiệp hỗ trợ vốn cho nông dân mua vật tư nông nghiệp phục vụsản xuất
- Tiêu thụ sản phẩm cho nông dân: để thúc đẩy đa dạng hoá sản phẩm
nông nghiệp như một biện pháp nâng cao đời sống của cộng đồng nông thôn,Chính phủ tạo điều kiện cho các HTX nông nghiệp mở rộng vai trò trong hoạtđộng tiếp thị, tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động của các HTX trong những năm đầu của thập kỷ 1960 khôngphát triển do 3 nguyên nhân sau:
- Việc xây dựng hệ thống HTX là sự áp đặt từ trên xuống, không đáp ứngnhu cầu của nông dân
- Trình độ sản xuất thấp
- Qui mô các HTX cơ sở nhỏ
Từ năm 1969 đến 1974, nhằm khắc phục những nhược điểm trên, Chínhphủ tiến hành những thay đổi căn bản nhằm trao nhiều quyền hạn hơn cho cácHTX cơ sở thông qua 2 chính sách sau:
+ Nâng cao qui mô kinh tế cho các HTX cơ sở Chính phủ hợp nhất các
HTX cơ sở ở cấp xã thành HTX cơ sở cấp thị trấn nhằm nâng cao qui mô kinh tếcủa HTX cơ sở Qua đó, các HTX cơ sở có thể cung cấp dịch vụ tốt hơn cho nhucầu của nông dân
+ Hình thành các "HTX cơ sở - doanh nghiệp đa chức năng" Chính phủ
quyết định chuyển giao các hoạt động kinh doanh trước kia chỉ thuộc hoạt độngcủa các HTX cấp vùng, cấp thành phố hoặc của các doanh nghiệp cho các HTX
cơ sở Hoạt động của các HTX cơ sở được mở rộng Kể từ năm 1971, các HTX
cơ sở đã hoạt động tất cả trên 4 lĩnh vực chính: cung cấp tín dụng, cung cấpphân bón, cung cấp hoá chất nông nghiệp và cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Từ 1975 - 1980, các chương trình tăng thu nhập cho nông dân của phongtrào Làng mới (Saemaul Undong) được phát động mạnh Kinh tế nông thôn,kinh tế nông hộ phát triển thực sự tiếp thêm sức mạnh cho các "HTX cơ sở -doanh nghiệp đa chức năng" Trong giai đoạn này, quá trình đa dạng hoá sảnphẩm và sản xuất hàng hoá tăng lên rất nhanh Thu nhập bình quân đầu người ởkhu vực nông thôn đạt ngang với thu nhập bình quân đầu người ở thành thị Hơn
40
Trang 40nữa, tại thời điểm này, tập quán dân chủ do phong trào Làng mới tạo ra đã thúcđẩy người dân nông thôn tích cực tham gia và thiết lập một hệ thống HTX phục
vụ trực tiếp cho những nhu cầu của mình
Từ năm 1980, hệ thống HTX không ngừng hoàn thiện về tổ chức và hìnhthức hoạt động và đến nay đã rất hoàn chỉnh Cơ quan đứng đầu của Hệ thống làLiên đoàn HTX Nông nghiệp Quốc gia (NACF) Trong đó có hai nhánh là HTX
cơ sở và HTX ở đô thị Chủ nhiệm HTX do xã viên bầu Chủ tịch và Kiểm toánviên chính của NACF do các chủ nhiệm HTX cơ sở bầu lên Các thành viênkhác của Ban lãnh đạo NACF được Chủ tịch đề cử và hội nghị đại biểu các chủnhiệm HTX cơ sở chấp nhận
Năm 1998, cán bộ làm việc cho Liên đoàn có gần 17 ngàn người, làmviệc tại 4 đại diện ở nước ngoài, 17 trụ sở vùng, 156 trụ sở tại các thành phố,
701 trụ sở trên toàn quốc, 10 trung tâm đào tạo và 22 trung tâm tiếp thị thươngmại Liên đoàn xuất bản Báo Nông dân, điều hành Đại học Hợp tác xã, quản lýnhiều công ty kinh doanh nông sản, vận tải, hoá chất, máy móc công cụ Liênđoàn có 1200 HTX thành viên và hơn 1 vạn trung tâm kinh doanh và 51 ngàncán bộ làm việc cho các HTX thành viên
Hoạt động của NACF rất đa dạng, bao gồm: tiếp thị, chế biến, cung ứngvật tư và hàng tiêu dùng, tín dụng và ngân hàng, bảo hiểm, kho tàng, vận tải,khuyến nông, nghiên cứu, xuất bản phục vụ 5 triệu nông dân và cộng đồngnông thôn.11
1.5.4 Kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp của Nhật Bản.
ở Nhật Bản, các HTX nông nghiệp được tổ chức theo ba cấp: Liên đoàntoàn quốc HTX nông nghiệp; Liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp tỉnh; HTX nôngnghiệp cơ sở Các HTX nông nghiệp cơ sở gồm hai loại: đơn chức năng và đachức năng Từ năm 1961 trở về trước, các HTX đơn chức năng khá phổ biến.Nhưng từ năm 1961 trở về đây, do chính phủ Nhật Bản khuyến khích hợp nhấtcác HTX nông nghiệp nhỏ thành HTX nông nghiệp lớn, nên mô hình hoạt độngchủ yếu của HTX nông nghiệp Nhật Bản hiện nay là đa chức năng Các HTXnông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnhvực dịch vụ như cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến,tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của nông dân Có thể thấy ưunhược điểm của HTX nông nghiệp Nhật Bản qua phân tích cơ chế quản lý vàchức năng hoạt động của chúng
11 Liên đoàn Quốc gia HTX nông nghiệp Hàn Quốc, những chặng đường phát triển; Liên minh HTX Việt Nam (Tài liệu nghiên cứu); Hà Nội, năm 2010
41