BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG * * * ĐINH THỤY TIẾT HẠNH NGHIÊN CỨU ỨNG XỬ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NI
Trang 1Luận văn thạc sĩ Kế Toán
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
* * * ĐINH THỤY TIẾT HẠNH
NGHIÊN CỨU ỨNG XỬ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN ĐỐI VỚI THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT CÔNG BỐ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
***
Để hoàn thành tốt nghiệp bài nghiên cứu này, ngoài sự nổ lực của bản thân, tác giả còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều người Với tất cả sự chân thành, tác giả xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học cùng toàn thể Thầy Cô Trường Đại Học Lạc Hồng đã hết lòng truyền đạt những kiến thức sâu rộng cho tác giả trong suốt quá trình học cao học tại trường
- Tiến sĩ Trần Văn Thảo – Giảng viên hướng dẫn đề tài – đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cũng như có những ý kiến đóng góp quý báu để tác giả có thể hoàn thiện bài nghiên cứu tốt nhất
- Các tác giả là những tập thể, cá nhân của những tài liệu tham khảo đã giúp tác giả có được những kiến thức nền tảng cần thiết và tiết kiệm rất nhiều thời gian trong quá trình thực hiện đề tài
- Các chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán, cùng các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã thảo luận và đóng góp ý kiến quý báu cho tác giả cũng như tham gia nhiệt tình giúp trả lời phiếu khảo sát
- Và cuối cùng, tac giả xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, đóng góp ý kiến, giúp đỡ tác giả trong giai đoạn này
- Tuy đã có rất nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả xin chân thành đón nhận sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu của quý Thầy Cô để
đề tài được hoàn thiện hơn Xin kính chúc quý Thầy Cô dồi dào sức khỏe để luôn có thể truyền đạt cho thế hệ sau những kiến thức bổ ích
Tác giả luận văn Đinh Thụy Tiết Hạnh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
* * *
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của luận văn “Nghiên cứu ứng xử của nhà
đầu tư chứng khoán đối với thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” hoàn toàn
được hình thành, nghiên cứu và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Văn Thảo Các số liệu và kết quả có được trong luận văn tốt nghiệp hoàn toàn trung thực
Đồng Nai, ngày 30 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Đinh Thụy Tiết Hạnh
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
* * *
Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm của kế toán dùng để cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà quản trị …và các cơ quan chính phủ mà chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp trong đó có nhà đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam đối với BCTC như thế nào vẫn còn là một dấu hỏi và trở thành vấn đề cần nghiên cứu Và thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thị trường chứng khoán sôi động nhất ở Việt Nam
Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu ứng xử của nhà đầu tư chứng
khoán đối với thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu,
với mong muốn góp phần giúp cho nhà đầu tư chứng khoán nhìn nhận lại mức độ quan tâm đến BCTC cũng như chất lượng của các BCTC hiện nay Qua đó tác giả cũng xin đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng BCTC nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư chứng khoán để các nhà đầu tư chứng khoán và những nhà quản lý tham khảo
Trang 6MỤC LỤC
* * *
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Tóm tắt luận văn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1 1.1
Lý do chọn đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2 1.3
Câu hỏi nghiên cúu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Dự kiến kết quả đạt được của đề tài 4
1.7 Kết cấu của đề tài 5
Tóm tắt chương 1 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
2.1 Cơ sở lý thuyết về hành vi, tâm lý học và xã hội học 7
2.1.1 Khái niệm hành vi 7
2.1.2 Khái niệm tâm lý 7
2.1.3 Khái niệm tâm lí đám đông và những yếu tố hình thành tâm lí đám đông 8
2.1.3.1 Khái niệm tâm lý đám đông 8
Trang 72.1.3.2 Những yếu tố hình thành tâm lí đám đông 8
2.1.4 Khái niệm xã hội học 9
2.2 Tài chính hành vi (Behavioral Finance) 9
2.2.1 Tài chính hành vi là gì? 9
2.2.2 Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi 9
2.2.3 Những nguyên lý và lý thuyết cơ bản của tài chính hành vi 10 2.3 Nghiên cứu kế toán hành vi 12
2.3.1 Định nghĩa và phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu kế toán hành vi 12
2.3.1.1 Định nghĩa nghiên cứu kế toán hành vi 12
2.3.1.2 Phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu kế toán hành vi 13
2.3.2 Lý thuyết kế toán thực chứng (positive theory) 13
2.3.3 Các mô hình xử lý thông tin kế toán để đề ra quyết định của nhà đầu tư 14
2.3.3.1 Mô hình thấu kính Brunswik (Brunswik lens model) 14
2.3.3.2 Mô hình Process tracing (Mô hình truy tìm dấu vết) 15
2.3.3.3 Mô hình Probabilistic judgement (Mô hình phán đoán xác suất) 16
2.4 Nhà đầu tư chứng khoán 16
2.4.1 Khái niệm nhà đầu tư chứng khoán 16
2.4.2 Phân biệt nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư không chuyên nghiệp 16
2.5 Tổng quan về báo cáo tài chính 18
2.5.1 Khái niệm báo cáo tài chính 18
2.5.2 Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính 18
2.5.3 Các nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính 20
2.5.4 Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết 22
2.5.4.1 Bảng cân đối kế toán 22
2.5.4.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 23
2.5.4.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 24
2.5.4.4 Thuyết minh báo cáo tài chính 25
2.5.5 Tính hữu ích của thông tin kế toán 25
Trang 82.5.5.1 Tính đầy đủ của thông tin kế toán được công bố 25
2.5.5.2 Ảnh hưởng của thông tin đến quyết định 26
2.5.5.3 Thông tin kế toán và giá cổ phiếu 26
2.5.5.4 Khả năng dự đoán căn cứ trên thông tin kế toán 27
2.6 Tổng quan về thị trường chứng khoán và công ty cổ phần niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.6.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.6.1.1 Định nghĩa thị trường chứng khoán 28
2.6.1.2 Lịch sử hình thành Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.6.1.3 Chức năng của Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh 29
2.6.1.4 Thành tựu và hạn chế của thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 29
2.6.2 Tổng quan về công ty cổ phần niêm yết 30
2.6.2.1 Khái niệm công ty niêm yết 30
2.6.2.2 Sơ lược về tình hình hoạt động của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 31
2.7 Mô hình nghiên cứu 32
2.8 Các giả thuyết nghiên cứu 33
Tóm tắt chương 2 37
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 38
3.2 Thiết kế nghiên cứu 41
3.2.1 Nghiên cứu định tính 41
3.2.2 Nghiên cứu định lượng 42
3.2.2.1 Thiết kế mẫu 42
3.2.2.2 Thu thập, cập nhật và làm sạch dữ liệu 43
3.3 Thiết kế thang đo và kỹ thuật kiểm định 43
3.3.1 Thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi 43
Trang 93.3.1.1 Nội dung bảng câu hỏi 43
3.3.1.2 Thang đo cho bảng câu hỏi 43
3.3.2 Kỹ thuật đánh giá thang đo 44
3.3.3 Kỹ thuật phân tích nhân tố EFA 44
3.3.4 Kỹ thuật phân tích hồi quy 45
Tóm tắt chương 3 46
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu 47
4.1.1 Thống kê mô tả mẫu theo các đặc điểm cá nhân 47
4.1.1.1 Về đối tượng trả lời khảo sát 47
4.1.1.2 Về Ngành nghề đầu tư 48
4.1.1.3 Về thời gian đã tham gia thị trường chứng khoán 49
4.1.1.4 Về số phiên giao dịch tham gia bình quân trong ngày 50
4.1.1.5 Về số ngày tham gia tại sàn giao dịch chứng khoán ` bình quân trong tháng 51
4.1.1.6 Về trình độ văn hóa 52
4.1.1.7 Về trình độ chuyên môn 53
4.1.1.8 Về giới tính 54
4.1.2 Thống kê mô tả mẫu về các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử của nhà đầu tư chứngkhoán 54
4.1.2.1 Thống kê mô tả các yếu tố 54
4.1.2.2 Thống kê mô tả mẫu cho các biến quan sát của từng yếu tố 55
4.1.2.3 Thống kê mô tả về ứng xử của nhà đầu tư đối với BCTC 57
4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 57
4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA- ExploratoryFactor Analysis) 59
4.3.1 Phân tích thang đo 4 nhân tố độc lập 59
4.3.2 Phân tích nhân tố thang đo ứng xử của nhà đầu tư đối với BCTC 62
4.4 Phân tích hồi quy và mô hình hiệu chỉnh 63
4.4.1 Kiểm định thang đo của mô hình 63
4.4.2 Kiểm định giả thuyết về hệ số tương quan tuyến tính 63
4.4.3 Kết quả chạy hồi quy tuyến tính 64
Trang 104.4.4 Mô hình hiệu chỉnh 68
4.5 Kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu 69
Tóm tắt chương 4 71
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72
5.1 Kết luận 72
5.2 Kiến nghị 73
5.2.1 Kiến nghị cho yếu tố Khả năng đọc hiểu BCTC 73
5.2.2 Kiến nghị cho yếu tố Nhận thức về BCTC 75
5.2.3 Kiến nghị cho yếu tố Môi trường xã hội 76
5.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 77
5.3 Hạn chế của đề tài 78 5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 78
Tóm tắt chương 5 80
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
* * *
Cụm từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
research
Nghiên cứu kế toán hành vi
Chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
* * *
1
Bảng 2.1 Bảng so sánh nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
và nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp 17
2
Bảng 2.2 Quy mô niêm yết thị trường chứng khoán Thành phố
9 Bảng 4.3 Thống kê mẫu theo Thời gian đã tham gia thị trường
10 Bảng 4.4 Thống kê mẫu theo Số phiên giao dịch tham gia bình
11 Bảng 4.5 Thống kê mẫu theo Số ngày tham gia tại sàn giao
18 Bảng 4.12 Thống kê mô tả cho yếu tố Khả năng đọc hiểu BCTC 56
20 Bảng 4.14 Thống kê mô tả cho yếu tố về ứng xử của nhà đầu tư
Trang 1321 Bảng 4.15 Đánh giá độ tin cậy các thang đo 58
23 Bảng 4.17 Kết quả các hệ số KMO, tổng phương sai trích,
25 Bảng 4.19 Kết quả các hệ số KMO, tổng phương sai trích,
Eigenvalues thang đo ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC
62
26 Bảng 4.20 Kết quả phân tích EFA của thang đo ứng xử của nhà
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
* * *
6 Hình 4.2 Biểu đồ tần số P-P plot về phân phối chuẩn phần dư 67
7 Hình 4.3 Biểu đồ tần số Scatterplot về phân phối chuẩn phần dư 68
8 Hình 4.4 Mô hình hiệu chỉnh ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán
Trang 15CHƯƠNG 1 TỒNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Báo cáo tài chính (viết tắt là BCTC) là sản phẩm của kế toán dùng để cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà quản trị …và các cơ quan chính phủ mà chủ yếu là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp trong đó có nhà đầu tư chứng khoán
Những thông tin trình bày trên BCTC của các công ty thể hiện tình hình tài chính và kết quả sau một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong một kỳ báo cáo, thông qua những thông tin này các nhà đầu tư sẽ phân tích tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động, từ đó đưa ra quyết định là có đầu tư hay không đầu tư Và đối với những nhà đầu tư chứng khoán thì BCTC của những công ty cổ phần đã được niêm yết là một kênh thông tin cần thiết Tuy nhiên, đứng trước thực tế hiện nay có tình trạng có công ty lập báo cáo tốt nhưng cũng có những công ty do nhiều mục tiêu khác nhau đã cố tình trình bày sai lạc các thông tin trên BCTC (công ty kiểm toán không phát hiện hoặc ủng hộ), việc đánh giá tài sản trên BCTC cũng có những bất cập, mặt khác những nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán lại có thành phần đa dạng như nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư tổ chức và các nhà phân tích tài chính Trong số họ có những người đã được đào tạo qua trường lớp nên có thể đọc và hiểu được các thông tin trình bày trên BCTC, nhưng cũng có một số nhà đầu tư chỉ đầu tư theo đám đông
mà không quan tâm BCTC
Từ những điều trên đã đặt ra vấn đề: Các nhà đầu tư đã ứng xử với những BCTC của những công ty niêm yết mà họ đã hoặc sẽ đầu tư như thế nào?
Theo trung tâm đào tạo Vietsourcing (2014), ở nước ngoài, cụ thể là tất cả các
tập đoàn của Mỹ coi BCTC là nguồn thông tin quan trọng nhất cho các quyết định đầu
tư Ở Anh, chỉ có các nhà đầu tư là tổ chức mới xem trọng BCTC, các nhà phân tích tài chính coi những thông tin mà họ liên hệ được với nhà quản lý là nguồn quan trọng nhất, trong khi các nhà đầu tư cá nhân ưa thích những thông tin trên báo và tạp chí
Ở Việt Nam, BCTC cũng không kém phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính cho các nhà đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam đối với BCTC như thế nào vẫn còn là một dấu hỏi và trở
Trang 16thành vấn đề cần nghiên cứu Và thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thị trường chứng khoán sôi động nhất ở Việt Nam Do đó nghiên cứu ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC của các công ty cổ phần niêm yết
công bố trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết đối
với giới đầu tư và cho xã hội
Xuất phát từ thực tế trên tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu ứng xử của nhà
đầu tư chứng khoán đối với thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh”
để nghiên cứu, với mong muốn góp phần giúp cho nhà đầu tư chứng khoán nhìn nhận lại mức độ quan tâm đến BCTC cũng như chất lượng của các BCTC hiện nay Qua đó tác giả cũng xin đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng BCTC nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư chứng khoán để các nhà đầu tư chứng khoán và những nhà quản lý tham khảo
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực hiện với mục tiêu chính như sau:
- Hiểu được nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC
- Nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC
- Đề xuất mô hình nghiên cứu ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
- Nghiên cứu lý luận về hành vi, kế toán hành vi, BCTC
- Khảo sát và đánh giá thực trạng ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng BCTC nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư chứng khoán
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi được đặt ra để nghiên cứu bao gồm:
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC ?
Trang 17- Có mối quan hệ nào giữa các nhân tố như Nhận thức về BCTC, Tâm lý đầu tư, Khả năng đọc hiểu BCTC và Môi trường xã hội với ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC ?
- Những nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi ứng xử của nhà đầu
tư chứng khoán đối với BCTC ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của nhà đầu
tư chứng khoán đối với BCTC
- Đối tượng khảo sát: tập trung chủ yếu là nhà đầu tư cá nhân đang đầu tư vào các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Về thời gian: từ năm 2007 đến tháng 11/2014
1.5 Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài này gồm: phương pháp nghiên cứu tại bàn, phương pháp nghiên cứu tại hiện trường (quan sát, sử dụng bảng câu hỏi, phỏng vấn), phương pháp phỏng vấn chuyên gia Một số phương pháp cụ thể được thể hiện trong quá trình nghiên cứu như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn
Phương pháp nghiên cứu tại bàn được áp dụng để:
Hệ thống hóa lý luận, kinh nghiệm trong và ngoài nước, xác định cơ sở
lý luận và thực tiễn của đề tài
Xử lý, phân tích các thông tin, số liệu thu được qua bảng câu hỏi và phỏng vấn
Xây dựng các kết luận về ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Đề xuất các kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lượng BCTC nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư chứng khoán
Trang 18Các phương pháp cụ thể gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp nghiên cứu tình huống
- Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn được sử dụng để thu thập thông tin về ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, giải pháp nâng cao chất lượng BCTC nhằm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư chứng khoán Phỏng vấn được tập trung vào các đối tượng:
Đại diện nhà đầu tư một số sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện chuyên gia trong lĩnh vực chứng khoán
- Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi
Bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin, số liệu về thực trạng ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Mẫu điều tra: đối tượng được gửi mẫu điều tra là các nhà đầu tư chứng khoán đang giao dịch tại các sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Xử lý kết quả điều tra bằng bảng câu hỏi được tác giả thực hiện bằng phần mềm EXCEL, SPSS
1.6 Dự kiến kết quả đạt được của đề tài
Đề tài nghiên cứu mang lại một số kết quả có ý nghĩa về lý thuyết và thực tiễn cho những nhà đầu tư chứng khoán và nhà quản lý cụ thể như sau:
- Về lý thuyết: Hệ thống hóa lý thuyết về kế toán hành vi
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần giúp cho nhà đầu tư chứng khoán của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và của cả nước nói chung có cái nhìn tổng thể về ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với BCTC Từ đó, các nhà đầu tư chứng khoán có cơ sở để quan tâm, sử dụng BCTC, đánh giá chất lượng thông tin kế toán được tốt hơn
Trang 19Giúp cho nhà quản lý đánh giá những yêu cầu về thông tin của nhà đầu tư chứng khoán từ đó nâng cao chất lượng thông tin trình bày trong BCTC Sự thay đổi theo hướng tích cực về lâu về dài của cả nhà đầu tư chứng khoán và của nhà quản lý
sẽ góp phần làm cho thị trường chứng khoán ngày càng sôi động và phát triển
Nghiên cứu thực hiện thành công sẽ là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho nhà đầu
tư chứng khoán trong việc so sánh, đánh giá thông tin trên BCTC và nhà quản lý trong việc trình bày BCTC đáp ứng nhu cầu về thông tin của nhà đầu tư chứng khoán
1.7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu có kết cấu 5 chương với nội dung như sau:
Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 20khoán Thành phố Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết đối với giới đầu tư và cho xã hội
Vì lý do này nên đề tài “Nghiên cứu ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán đối với thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty cổ phần niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh” được hình thành
Mục tiêu của đề tài này là: Đánh giá những yêu cầu về thông tin của nhà đầu tư chứng khoán Đánh giá chất lượng thông tin kế toán có đáp ứng yêu cầu của nhà đầu
tư chứng khoán hay không trên cơ sở khảo sát tâm lý nhà đầu tư chứng khoán và BCTC hiện hành của các công ty cổ phần niêm yết Từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng BCTC nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư chứng khoán
Đối tượng nghiên cứu: Tâm lý nhà đầu tư chứng khoán, thông tin trình bày trên BCTC
Nghiên cứu thực hiện theo hai giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Kết cấu luận văn gồm 5 chương: Tổng quan về đề tài nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, kết luận
và kiến nghị
Trang 21Theo bách khoa toàn thư mở (2014): "Hành vi là một chuỗi các hành động lặp
đi lặp lại Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể,
có mục đích cụ thể là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới" là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật, và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian"
Theo các nhà sinh học (2014): "Hành vi là cách sống và hoạt động trong một
môi trường nhất định dựa trên sự cần thiết thích nghi tối thiểu của cơ thể với môi trường"
Theo chủ nghĩa hành vi (2012): "Hành vi là tổ hợp các phản ứng cơ thể trả lời
kích thích tác động vào cơ thể"
Theo tâm lý học Mác xít (2011): "Hành vi của con người bao giờ cũng có mục
đích Hành vi đó không chỉ bảo đảm cho con người tồn tại mà còn đảm bảo cho con người phát triển"
Như vậy, hành vi được hiểu là “một chuỗi hành động nối tiếp nhau một cách
tương đối nhằm đạt được mục đích để thỏa mãn nhu cầu của con người”
2.1.2 Khái niệm tâm lý
Theo bách khoa toàn thư mở (2014): "Tâm lý con người là sự phản ảnh chủ
quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết được nãy sinh từ các hoạt động sống của từng người và gắn bó với các quan hệ xã hội, là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc chúng ta, nó tham gia điều khiển, điều chỉnh những hành vi, hành động, hoạt động của con người" Nói cách khác tâm lý là nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, ý chí đến tính cách, ý thức và tự ý
Trang 22thức, là nhu cầu, năng lực, đến các động cơ hành vi, đến những hứng thú và khả năng sáng tạo, khả năng lao động đến các tâm thế xã hội và định hướng giá trị v.v
Tâm lý phản ánh thế giới khách quan giúp con người nhận biết được thế giới khách quan, phân tích, đánh giá các sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh Và khi đã hình thành thì nó tác động trở lại thế giới hiện thực khách quan Hiện tượng tâm lý liên quan chặt chẽ với hiện tượng khác trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Cùng với các hiện tượng khác tâm lý giúp con người có động lực để hành động, định hướng, điều chỉnh mọi hoạt động của mình làm cho các hoạt động đó thích nghi với thế giới, tiến tới cải tạo thế giới, hoàn thiện thế giới và hoàn thiện cá nhân mình
2.1.3 Khái niệm tâm lí đám đông và những yếu tố hình thành tâm lí đám đông 2.1.3.1 Khái niệm tâm lí đám đông
Theo nhóm tác giả Nguyễn Hồng Việt Thành, Nguyễn Văn Thịnh, Đỗ Quốc Thịnh, Nguyễn Hoàng Lâm (2010): "Tâm lý đám đông là hiện tượng tinh thần chung
của nhiều cá nhân, phát sinh do sự tương tác tâm lý giữa các thành viên trong đám đông hay cộng đồng; hoặc bởi tâm lý nào đó nổi trội, có sức ảnh hưởng" Tức là ý thức cá nhân biến mất và có sự xoay chuyển tình cảm, suy nghĩ của các cá nhân về cùng một hướng Một tâm hồn chung được hình thành, nó dĩ nhiên có thể biến đổi, nhưng hoàn toàn là một thể loại xác định, điều này không phải lúc nào cũng đòi hỏi sự
có mặt đồng thời của nhiều thành viên tại một địa điểm duy nhất
Hiệu ứng bầy đàn là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà con người bị ảnh hưởng bởi những người xung quanh trong việc lựa chọn hành vi, xu hướng và cách thức ra quyết định
2.1.3.2 Những yếu tố hình thành tâm lí đám đông
Sự xuất hiện những đặc tính riêng biệt của đám đông được quyết định bởi ba nguyên nhân khác nhau:
Nguyên nhân đầu tiên nằm ở chỗ các thành viên của đám đông chỉ nguyên với cái cảm giác là số đông đã có một sức mạnh vô địch, cho phép nó hiến mình cho bản năng, điều mà khi chưa là thành viên của đám đông nó nhất thiết phải kiềm chế
Nguyên nhân thứ hai là sự lây nhiễm tinh thần, thành viên có thể hy sinh mong muốn cá nhân cho mong muốn của tập thể
Trang 23 Nguyên nhân thứ ba là nguyên nhân quan trọng nhất, nó làm cho thành viên của đám đông bộc lộ những cá tính đặc biệt hoàn toàn mâu thuẫn với những cá tính của những người đó khi họ chưa là thành viên của đám đông
2.1.4 Khái niệm xã hội học
Theo bách khoa toàn thư mở (2014): " Xã hội học là khoa học về các quy luật
và tính quy luật xã hội chung, và đặc thù của sự phát triển và vận hành của hệ thống
xã hội xác định về mặt lịch sử; là khoa học về các cơ chế tác động và các hình thức biểu hiện của các quy luật đó trong các hoạt động của cá nhân, các nhóm xã hội, các giai cấp và các dân tộc"
2.2 Tài chính hành vi (Behavioral Finance)
2.2.1 Tài chính hành vi là gì?
Theo nhóm tác giả Trần Ngọc Hạnh, Lê Bùi Hồng Khanh (2010): "Tài chính
hành vi là một cách tiếp cận thị trường tài chính nhằm giải thích các mô hình lý luận của nhà đầu tư với những diễn biến cảm xúc và mức độ ảnh hưởng của chúng lên các quyết định đầu tư"
2.2.2 Điều kiện tồn tại lý thuyết tài chính hành vi
Theo trang công ty cổ phần chứng khoán KIS Việt Nam (2014) lý thuyết tài
chính hành vi xuất hiện khi thị trường tồn tại một trong những điều kiện cơ bản sau:
Một là, hành vi không hợp lí của nhà đầu tư Các nhà đầu tư sẽ có hành vi
không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý “đúng” những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), hoặc tiếp nhận những thông tin sai lệch, không chính thống từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào
Hai là, hành vi không hợp lý mang tính hệ thống Chỉ khi hành vi không hợp
lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu kéo dài
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính “bất hợp lý” trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” hay “hợp lý” của chúng Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường
Trang 24hợp chúng ta xem “hiệu ứng bầy đàn” là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành
2.2.3 Những nguyên lý và lý thuyết cơ bản của tài chính hành vi
Theo trang công ty cổ phần chứng khoán KIS Việt Nam (2014) sau đây là một
số nguyên lý và lý thuyết cơ bản nhằm lý giải phần nào những hành vi bất thường của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán
Lý thuyết kỳ vọng: nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một
khoản lỗ quan trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Khi khoản đầu tư
có khuynh hướng mang lại lợi nhuận, họ thích nắm ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn
là tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai Nhưng ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ, thì họ lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được khoản lời trong tương lai, mặc dù lúc này rủi ro thua lỗ nhiều hơn là rất lớn, bởi
họ cho rằng, cổ phiếu đang sụt giá sẽ tốt hơn cổ phiếu đang lời của họ trong tương lai
Nhà đầu tư đã mua cổ phiếu vì những thông tin có triển vọng do thị trường cung cấp và sẽ nhanh chóng bán cổ phiếu đó khi giá cổ phiếu tăng Bởi vì họ tin rằng giá cổ phiếu hiện đã phản ánh đầy đủ thông tin này Khi cảm thấy đạt được lợi nhuận mong muốn thì sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích khả năng tăng thêm lợi nhuận
Sự không yêu thích rủi ro: tính không cân xứng trong tâm lý rõ ràng giữa
những giá trị mà con người kỳ vọng vào lợi nhuận và thua lỗ, được gọi là sự ghét rủi
ro Những bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng thua lỗ thì được cân nặng gấp nhiều lần so với lợi nhuận Điều này có thể diễn tả như là khái niệm mà mọi người có xu hướng đánh cược trong việc mất mát, chẳng hạn, nhà đầu tư có xu hướng giữ ở vị thế
lỗ với hy vọng rằng giá cuối cùng sẽ phục hồi
Không yêu thích rủi ro cũng có thể giải thích rằng xu hướng của nhà đầu tư giữ chứng khoán bị lỗ quá lâu trong khi bán chứng khoán lời quá sớm
Trang 25 Tính toán bất hợp lý (mental accounting): Xu hướng tách riêng các quyết định
mà đúng ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng
và tối đa hóa lợi ích từng tài khoản Và vì thế, đôi khi chúng ta đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý, mà thật ra là sai lầm
Định nghĩa hẹp (narrow framing): cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn
đề trong một khuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp ấy, thay vì cho toàn cục
Quá tự tin và phản ứng thái quá hay bi quan: nhà đầu tư thường xem bản thân
họ tốt hơn những nhà đầu tư khác, đánh giá cao bản thân hơn những gì người khác đánh giá, và họ thường phóng đại những hiểu biết của mình Những nhà đầu tư quá tự tin đã được chứng minh rằng, họ giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác Sự quá
tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó là lý do khiến nhà đầu tư sẵn sàng về quan điểm của họ, không cần tham khảo thêm những quan điểm thích đáng của những nhà đầu tư khác
Sự quá tự tin cũng làm tăng tính không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu tư Nhà đầu tư quá tự tin cho rằng, hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác cảm nhận Những nhà đầu tư quá tự tin nhiều khi hiểu sai giá trị thông tin họ nhận được, không những tính chính xác của thông tin mà còn hiểu sai ý nghĩa của thông tin
Sự cả tin thái quá mà một người có càng lớn , rủi ro càng cao và họ rất ít đa dạng hóa đầu tư và chỉ tập trung vào những cổ phiếu mà cho là mình đã quen thuộc
Lệch lạc do tình huống điển hình: Xu hướng không quan tâm nhiều đến những
nhân tố dài hạn, mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn
Thận trọng: Khi điều kiện thay đổi (thông tin mới về nền kinh tế chẳng hạn),
người ta có xu hướng chậm phản ứng với những thay đổi và gắn giả định của mình với tình hình chung trong một giai đoạn dài hạn trước đó
Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán: Dựa dẫm quá nhiều vào các quy tắc
đôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổi Và đặc biệt người ta thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng
Trang 26 Lý thuyết tâm lý đám đông: Một quan sát cơ bản về xã hội con người cho thấy
con người có mối liên hệ giao tiếp với người khác có cùng suy nghĩ Điều này khá quan trọng để hiểu nguồn gốc của sự suy nghĩ tương tự nhau dưới sự tác động của các mối quan hệ giao tiếp, dẫn đến những hành động giống nhau trong cùng một khoảng thời gian và làm thay đổi giá cả các tài sản
Tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của con người cũng như nhà đầu tư, không phân biệt việc có kinh nghiệm hay không Và lý thuyết ảnh hưởng tâm lý đám đông này càng rõ nét khi nhà đầu tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh chóng, chưa có đầy đủ thông tin cần thiết Khi con người đối đầu với phán đoán của một nhóm lớn, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của họ Họ đơn giản nghĩ rằng tất cả những người khác có thể không sai
2.3 Nghiên cứu kế toán hành vi
2.3.1 Định nghĩa và phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu kế toán hành vi 2.3.1.1 Định nghĩa nghiên cứu kế toán hành vi
Theo nhóm tác giả Godfrey, Allan Hodgson, Ann Tarca, Jane Hamilton, Scott Holmes (2010): "Nghiên cứu kế toán hành vi (Behavioural accounting research - Viết
tắt là BAR) là các nghiên cứu về hành vi của kế toán và của các đối tượng khác không phải là kế toán nhưng chịu ảnh hưởng bởi các chức năng và báo cáo của kế toán " BAR cùng với nghiên cứu thị trường vốn và nghiên cứu lý thuyết đại diện có thể được gọi chung là nghiên cứu thực chứng, theo ý nghĩa chúng liên quan đến việc khám phá các yếu tố
BAR đặt câu hỏi: “ Thực tế người ta đã sử dụng và xử lý thông tin kế toán như thế nào?”
BAR có nguồn gốc từ tâm lý học, xã hội học và lý thuyết tổ chức Mục tiêu của
nó là khám phá “Tại sao người ta lại ứng xử như họ đã từng làm?”
2.3.1.2 Phạm vi nghiên cứu của nghiên cứu kế toán hành vi
BAR là một vấn đề rộng lớn, nó bao phủ nhiều phạm vi hoạt động kế toán khác nhau
Một số nghiên cứu của BAR được áp dụng cho lĩnh vực kiểm toán, đánh giá rủi
ro liên quan đến khách hàng, nhà đầu tư BAR được sử dụng để phân tích, đánh giá rủi
Trang 27ro, khám phá, nhận thức những vấn đề thúc đẩy hoặc gây trở ngại trong kế toán quản trị
BAR đặc biệt nhấn mạnh đến thông tin trong BCTC cho các đối tượng sử dụng ngoài doanh nghiệp BAR đề cập đến sự phán đoán, đề ra quyết định của kế toán, kiểm toán và các đối tượng sử dụng thông tin, nâng cao chất lượng đề ra quyết định
2.3.2 Lý thuyết kế toán thực chứng (positive theory)
Theo Vũ Hữu Đức (2010) lý thuyết kế toán thực chứng nhấn mạnh đến việc thử
nghiệm hoặc liên hệ giữa các giả định hoặc lý thuyết với sự kiện của thế giới thực Trong giai đoạn đầu, các lý thuyết này kiểm chứng các giả định của lý thuyết quy chuẩn; thí dụ khảo sát quan điểm của người sử dụng BCTC (ngân hàng, nhà đầu tư ) đối với tính hữu ích của phương pháp kế toán lạm phát hoặc nghiên cứu tầm quan trọng trên thực tế thị trường chứng khoán của các BCTC
Sau đó, các lý thuyết này mở rộng sang việc giải thích thông lệ kế toán hiện hành
và dự đoán ảnh hưởng của kế toán đến quyết định của các bên trong thị trường và nền kinh tế
Lý thuyết thực chứng mô tả người kế toán và các bên khác đang hành xử thế nào (không quan tâm là có tốt, có đúng hay không), giải thích tại sao họ làm như vậy và
dự đoán những điều mà họ sẽ làm trong những tình huống cụ thể
2.3.3 Các mô hình xử lý thông tin kế toán để đề ra quyết định của nhà đầu tƣ 2.3.3.1 Mô hình thấu kính Brunswik (Brunswik lens model)
Theo nhóm tác giả Godfrey, Allan Hodgson, Ann Tarca, Jane Hamilton, Scott Holmes (2010) kể từ giữa những năm 1970, mô hình thấu kính Brunswik đã được sử
dụng như một cơ sở để nghiên cứu về xét đoán bao gồm dự đoán hoặc đánh giá Các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình này để tìm hiểu mối quan hệ giữa các dấu hiệu với các quyết định, xét đoán hay dự đoán thông qua tìm kiếm quy luật của các tín hiệu Trong quan hệ này, người quyết định được giả định rằng sẽ dựa trên thấu kính của các tín hiệu có quan hệ xác suất với sự kiện Thí dụ, nhà đầu tư (người ra quyết định) dựa trên một loạt các tỷ số tài chính (tín hiệu) để dự đoán khả năng phá sản của doanh nghiệp (sự kiện)
Để xây dựng một mô hình thấu kính cụ thể, các đối tượng khảo sát sẽ được yêu cầu thực hiện xét đoán trên một số lượng lớn các tình huống dựa trên một bộ các tín
Trang 28hiệu Sau đó, một mô hình tuyến tính mô tả hệ hàm số giữa tín hiệu và xét đoán được xây dựng để diễn đạt về cách thức thông tin được xử lý bởi các cá nhân Mặc dù các nghiên cứu hành vi không thể khám phá quy trình xử lý thông tin của con người, nhưng nó hữu ích để hiểu được nhiều vấn đề:
Cách thức sử dụng tín hiệu trong các công việc cụ thể
Mức quan trọng mà những người ra quyết định gán cho những tín hiệu cụ thể
Độ chính xác của các dự đoán của người ra quyết định ở những mức độ chuyên môn khác nhau
Các tình huống mà trong đó một hệ chuyên gia hay mô hình giả lập có thể làm tốt hơn con người
Tính nhất quán trong xét đoán của con người qua thời gian
2.3.3.2 Mô hình Process tracing (Mô hình truy tìm dấu vết)
Theo nhóm tác giả Godfrey, Allan Hodgson, Ann Tarca, Jane Hamilton, Scott Holmes (2010) mô hình truy tìm dấu vết hay còn được gọi là mô hình giao thức bằng
lời nói cung cấp một lời giải thích về việc quyết định đã được thực hiện Với phương pháp này, người ra quyết định lại một lần nữa được cung cấp một loạt các tình huống nhưng lần này họ được yêu cầu mô tả bằng lời nói từng bước trải qua trước khi đưa ra quyết định Những mô tả bằng lời nói này được các nhà nghiên cứu ghi nhận lại sau
đó phân tích để tạo ra một sơ đồ „cây quyết định‟ để đại diện cho các quá trình ra
quyết định của người ra quyết định
Trang 29Không phù hợp Phù hợp
Không phù hợp Phù hợp
Không phù hợp Phù hợp
[Nguồn: Tổng hợp của tác giả, tháng 9/2014]
Hình 2.1 Giả thuyết cây quyết định cho nhà đầu tư
Các cây quyết định có nguồn gốc từ phương pháp truy tìm dấu vết mô tả tốt quá trình ra quyết định của con người Tuy nhiên, mô hình truy tìm dấu vết không phải lúc nào cũng dự đoán tốt trong nhiều trường hợp Lý do là các nhà ra quyết định thường gặp khó khăn trong việc giải thích các bước mà họ trải qua
2.3.3.3 Mô hình Probabilistic judgement (Mô hình phán đoán xác suất)
Theo nhóm tác giả Godfrey, Allan Hodgson, Ann Tarca, Jane Hamilton, Scott Holmes (2010) mô hình phán đoán xác suất rất hữu ích trong việc xem xét những tình
huống kế toán, khi có dữ liệu mới thì niềm tin về một dự đoán hay đánh giá ban đầu cần phải được xem xét lại
Mô hình này được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý học Phương pháp này được hiểu là kỹ thuật dựa vào kinh nghiệm để giải quyết vấn đề, nghiên cứu hoặc khám phá Chính vì dựa vào kinh nghiệm nên kỹ thuật này không đảm bảo tính chính xác trong tất cả các tình huống
Tín hiệu 1
Tín hiệu 2 Dừng
Trang 30 Cả 3 mô hình trên đều thích hợp trong việc sử dụng để nghiên cứu ứng xử của nhà đầu tư chứng khoán của các công ty niêm yết công bố trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
2.4 Nhà đầu tƣ chứng khoán
2.4.1 Khái niệm nhà đầu tƣ chứng khoán
Theo trang công ty cổ phần chứng khoán KIS Việt Nam (2014): "Nhà đầu tư
chứng khoán là những cá nhân, tổ chức sở hữu chứng khoán vì mục đích kiếm lời" Lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư có hai dạng:
Một là, nhà đầu tư có được lợi tức do chứng khoán mang lại Khoản tiền này do
tổ chức phát hành chứng khoán chi trả dưới dạng cổ tức
Hai là, nhà đầu tư có thể có được thu nhập từ chênh lệch từ việc mua, bán chứng
khoán trên thị trường
2.4.2 Phân biệt nhà đầu tƣ chuyên nghiệp và nhà đầu tƣ không chuyên nghiệp
Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là các tổ chức mà hoạt động đầu tư
chứng khoán là hoạt động kinh doanh chính hoặc là một trong những hoạt động kinh doanh chính Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp phải có chuyên môn nghiệp vụ
về đầu tư chứng khoán và thu nhập chính phải có được từ chính hoạt động này Theo quy định của luật chứng khoán năm 2006, nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là những tổ chức có tư cách pháp nhân như: ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán
Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp là những cá nhân, tổ chức khác
trong nền kinh tế Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp là những nhà đầu tư thực sự cho các tổ chức phát hành, vì họ nắm giữ chứng khoán lâu dài, ổn định hơn Những điểm khác biệt giữa nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư không chuyên nghiệp
Trang 31Bảng 2.1: Bảng so sánh nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và nhà
đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp
Tiêu chí Nhà đầu tƣ chứng khoán
chuyên nghiệp
Nhà đầu tƣ chứng khoán không chuyên nghiệp
Tƣ cách
Là tổ chức có tư các pháp nhân: như ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán…
Có thể là cá nhân, doanh nghiệp
am hiểu chuyên môn nghiệp
vụ
Có thể không những trang thiết
bị cần thiết và đã ủy thác đầu tư công ty chứng khoán hoặc công
đó dành để đầu tư chứng khoán thì cũng không quá nhiều
Tiêu chí Nhà đầu tƣ chứng khoán
chuyên nghiệp
Nhà đầu tƣ chứng khoán không chuyên nghiệp
Vai trò đối với
Trang 32không chuyên nghiệp với thị trường chứng khoán
[Nguồn: Tìm hiểu luật chứng khoán, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2007]
2.5 Tổng quan về BCTC
2.5.1 Khái niệm BCTC
Theo TS Phạm Huy Đoán (2010): "BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ
tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế"
Để đạt được mục đích này BCTC phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:
2.5.2 Yêu cầu lập và trình bày BCTC
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày BCTC” qui định các
yêu cầu cần phải tuân thủ khi lập và trình bày BCTC như sau:
- Trung thực và hợp lý
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với qui định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các thông tin đáng tin cậy
Trung thực và hợp lý: BCTCphải trình bày trung thực và hợp lý tình hình tài
chính của doanh nghiệp Để thoả mãn yêu cầu này, BCTCphải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần thuyết minh BCTC là BCTC được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam BCTC được coi là lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam nếu BCTC tuân thủ mọi quy định của
Trang 33từng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán Việt Nam của Bộ Tài chính
Thích hợp: BCTCphải thích hợp và hữu ích với nhu cầu ra quyết định của
những người sử dụng Thông tin là thích hợp và hữu ích khi chúng giúp người sử dụng để dự báo tương lai hoặc đánh giá những quyết định quá khứ Tuy nhiên, vì BCTC được sử dụng bởi nhiều đối tượng khác nhau, có mối quan tâm và các quyết định khác nhau, do đó yêu cầu thích hợp và hữu ích của BCTC được xem xét và qui định trên cơ sở mục tiêu sử dụng chung của BCTC
Đáng tin cậy: BCTC phải cung cấp thông tin tin cậy cho những người sử dụng
để ra quyết định Để đảm bảo độ tin cậy của thông tin, BCTC phải trình bày một cách trung thực, hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra, để đảm bảo tính tin cậy của thông tin trên BCTC, BCTC phải được trình bày khách quan, không thiên vị, phản ánh đúng sự thực và bản chất kinh tế của các giao dịch phát sinh Mọi sự xuyên tạc, bóp méo thông tin về các giao dịch kinh tế phát sinh và trình bày thông tin theo ý muốn chủ quan của nhà quản lý doanh nghiệp đều làm suy giảm tính trung thực và khách quan của thông tin trên BCTC
Để đáp ứng yêu cầu tin cậy của thông tin, BCTCcòn phải được trình bày đầy đủ các thông tin trọng yếu, nghĩa là BCTCphải phản ánh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh trong kỳ kế toán Khi lập BCTC, không được bỏ sót hoặc thiếu hụt các thông tin mang tính trọng yếu vì điều này sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác của các quyết định của người sử dụng Việc tuân thủ nguyên tắc thận trọng trong kế toán cũng là một yêu cầu quan trọng để đảm bảo cung cấp thông tin đáng tin cậy cho người sử dụng Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn, không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả
và chi phí, doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng
về khả năng phát sinh chi phí
Trang 342.5.3 Các nguyên tắc lập và trình bày BCTC
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày BCTC” việc lập và trình
bày BCTC phải tuân thủ sáu (6) nguyên tắc gồm: (1) hoạt động liên tục, (2) cơ sở dồn tích, (3) nhất quán, (4) trọng yếu và tập hợp, (5) bù trừ, và (6) có thể so sánh
Hoạt động Liên tục: BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp
đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì BCTC phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập BCTC
Cơ sở dồn tích: Theo cơ sở dồn tích, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của
doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi nhận tại thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Doanh nghiệp phải lập BCTC theo cơ sở
kế toán dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền
Nhất quán: Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong BCTC phải nhất
quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của doanh nghiệp hoặc khi xem xét lại việc trình bày BCTC cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện; hoặc được một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày
Trọng yếu và tập hợp: Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng
biệt trong BCTC Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ
mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể BCTC, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên
cả phương diện định lượng và định tính
Trang 35Bù trừ: Các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên BCTCkhông được
bù trừ mà phải trình bày riêng biệt tất cả các khoản mục tài sản và công nợ trên BCTC, trừ khi một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ Các khoản mục doanh thu và chi phí chỉ được bù trừ khi được qui định tại một chuẩn mực
kế toán cụ thể khác hoặc các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quan phát sinh từ các giao dịch và các sự kiện giống nhau hoặc tương tự và không có tính trọng yếu Các tài sản và nợ phải trả, các khoản thu nhập và chi phí có tính trọng yếu phải được báo cáo riêng biệt Việc bù trừ các số liệu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hoặc bảng cân đối kế toán sẽ không cho phép người sử dụng hiểu được các giao dịch hoặc
sự kiện được thực hiện và dự tính được các luồng tiền trong tương lai của doanh nghiệp, ngoại trừ trường hợp việc bù trừ này phản ánh bản chất của giao dịch hoặc sự kiện
Có thể so sánh: Các thông tin bằng số liệu trong BCTC nhằm để so sánh giữa
các kỳ kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong BCTC của kỳ trước Các thông tin so sánh cần phải bao gồm cả các thông tin diễn giải bằng lời nếu điều này là cần thiết để giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được BCTCcủa kỳ hiện tại
Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong BCTC, thì phải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thực hiện được) nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại, và phải trình bày tính chất, số liệu và
lý do việc phân loại lại Nếu không thể thực hiện được việc phân loại lại các số liệu tương ứng mang tính so sánh thì doanh nghiệp cần phải nêu rõ lý do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại các số liệu được thực hiện
2.5.4 BCTC của các công ty niêm yết
Theo Lê Thị Mỹ Hạnh (2008) hệ thống BCTC của các công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán cũng giống BCTC của các loại hình doanh nghiệp khác BCTC của các công ty niêm yết chủ yếu nhằm cung cấp thông tin vế tình hình tài sản,
nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, lãi, lỗ và lợi nhuận được chia giúp cho người sử dụng phân tích, đánh giá tình hình tài chính và tình hình kinh doanh của công ty BCTC của bất kỳ một loại hình doanh nghiệp nào cũng rất quan trọng và cần thiết vì cung cấp thông tin cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng BCTC của công ty
Trang 36niêm yết càng trở nên quan trọng hơn các doanh nghiệp khác vì nó là căn cứ giúp cho nhà đầu tư đưa ra các quyết định kinh tế một cách hợp lý nhất Do tính chất và đặc điểm quan trọng như thế nên BCTC của các công ty niêm yết càng phải tuân thủ những nguyên tắc, quy định của Bộ Tài Chính và Ủy Ban Chứng Khoán một cách nghiêm ngặt BCTC phải đáp ứng yêu cầu của người sử dụng thông tin là thông tin phải phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu Hệ thống BCTC của các công ty niêm yết bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh BCTC
2.5.4.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán (the balance sheet) trình bày thông tin về các nguồn lực kinh tế của một doanh nghiệp và nguồn hình thành các nguồn lực này Mục đích của bảng cân đối kế toán là cung cấp thông tin về tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, ví dụ ngày 31 tháng 12
Bảng cân đối kế toán giúp những người sử dụng BCTC trả lời được các dạng câu hỏi như sau:
Sức mạnh tài chính tổng thể của doanh nghiệp như thế nào?
Tài sản của doanh nghiệp được tài trợ từ những nguồn tài chính nào?
Tính thanh khoản của doanh nghiệp ra sao?
Công ty có khả năng thanh toán các khoản nợ không?
Tình hình tài chính của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành công nghiệp như thế nào?
Bảng cân đối kế toán còn có ý nghĩa về mặt pháp lý Nguồn hình thành tài sản thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp với các nhà đầu tư, các chủ nợ, Nhà nước
2.5.4.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hay còn gọi là báo cáo lãi lỗ là một BCTC tổng hợp trình bày kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một
kỳ kế toán, ví dụ trong một năm tài chính Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh liệt
kê tất cả các khoản doanh thu, thu nhập mà doanh nghiệp đạt được, các khoản chi phí phát sinh, và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán
Trang 37Báo cáo kết quả kinh doanh có thể nói là một báo cáo quan trọng nhất trong các BCTC của doanh nghiệp Mục đích chính của báo cáo kết quả kinh doanh là cung cấp cho những người sử dụng BCTC thông tin về khả năng sinh lời của doanh nghiệp Thông qua việc phân tích báo cáo kết quả kinh doanh và kết hợp với các BCTC khác như bảng cân đối kế toán, những người sử dụng thông tin như các nhà đầu tư và các chủ nợ có thể trả lời các câu hỏi như:
Doanh nghiệp có tạo ra lợi nhuận trong năm nay không và so sánh với kết quả kinh doanh của những năm trước như thế nào?
Những hoạt động nào của doanh nghiệp đem lại doanh thu và lợi nhuận cao?
Doanh nghiệp có quản lý tốt các chi phí kinh doanh không? So sánh với các năm trước thì thế nào?
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp ra sao và so sánh với các doanh nghiệp khác trong ngành công nghiệp thì như thế nào?
2.5.4.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Như chúng ta đã biết, bảng cân đối kế toán trình bày thông tin về nguồn lực kinh tế của một doanh nghiệp và nguồn hình thành các nguồn lực này Thông tin trên bảng cân đối kế toán cho biết vị trí tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì cung cấp thông tin về kết quả của các hoạt động của một doanh nghiệp, tức là thông tin về lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong suốt một kỳ kế toán Những thông tin trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh rất quan trọng đối với những người sử dụng BCTC Tuy nhiên, có nhiều vấn đề và câu hỏi liên quan đến sự thay đổi trong tính thanh khoản của một doanh nghiệp rất khó được giải đáp từ các thông tin trên hai báo cáo này Chẳng hạn, một doanh nghiệp kinh doanh tạo ra lợi nhuận trong kỳ kế toán, nhưng vì sao doanh nghiệp lại gặp khó khăn trong vấn đề thanh toán nợ hoặc là tính thanh khoản của doanh nghiệp lại kém? Câu hỏi này sẽ dễ dàng được giải đáp từ các thông tin trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ (the cash-flow statement)
Mục đích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ là cung cấp các thông tin thích hợp về các dòng tiền chi ra (outflows) và dòng tiền thu vào (inflows) trong các hoạt động của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán Báo cáo lưu chuyển tiền tệ đóng vai trò quan
Trang 38trọng đối với cả những người sử dụng thông tin kế toán bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Báo cáo này cung cấp những thông tin hữu ích để giải đáp các câu hỏi sau đây:
Các nguồn tạo ra tiền của doanh nghiệp như thế nào?
Tiền của doanh nghiệp được tạo ra nhiều hay ít từ những hoạt động nào?
Những hoạt động đầu tư và/hoặc hoạt động tài trợ tài chính nào xảy ra trong kỳ
và chuẩn mực kế toán mà doanh nghiệp đã lựa chọn sử dụng trong kỳ kế toán Các mục đích cụ thể của bản thuyết minh BCTC như sau:
Đưa ra các thông tin về cơ sở dùng để lập BCTC và các chính sách kế toán cụ thể được chọn và áp dụng đối với các giao dịch và các sự kiện quan trọng
Trình bày các thông tin theo quy định của các chuẩn mực kế toán mà chưa được trình bày trong các BCTC khác
Cung cấp thông tin bổ sung chưa được trình bày trong các BCTC khác, nhưng lại cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý
2.5.5 Tính hữu ích của thông tin kế toán
2.5.5.1 Tính đầy đủ của thông tin kế toán đƣợc công bố
Theo Dyckman et al (1978) có ba cách tiếp cận để chứng minh cho điều này:
1 Tìm hiểu cách thức người sử dụng phân tích BCTC
2 Tìm hiểu quan điểm của các nhóm quyền lợi liên quan
3 Tìm hiểu các thông tin được công bố trong những vấn đề được cho là quan trọng Kết quả cho thấy:
Trang 39 Không có một yêu cầu phải thay đổi lớn trong hình thức và nội dung của BCTC Thí dụ, một nghiên cứu của Abdel-Khalik (1983) phỏng vấn gần 700 các nhà quản lý ngân hàng và kế toán viên công chứng cho thấy BCTC được lập theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến của Hoa Kỳ được cho rằng mang lại lợi ích cho cả người quản lý và ngân hàng Các nhà quản lý cho rằng BCTC cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định Các ngân hàng cho rằng BCTC cung cấp dữ liệu đáng tin cậy và có thể hiểu được hữu ích cho quyết định cho vay
BCTC được cho rằng không quá phức tạp
Có những khác biệt đáng kể giữa thông tin trên BCTC giữa các doanh nghiệp Nói chung, các công ty có quy mô lớn hơn, có khả năng sinh lợi cao hơn, được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn và cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng khoán thì BCTC sẽ cung cấp nhiều thông tin hơn Phần lớn những người được phỏng vấn cho rằng sự khác biệt này là hợp lý vì nó phản ánh nhu cầu thông tin khác nhau đối với các doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu khác nhau
2.5.5.2 Ảnh hưởng của thông tin đến quyết định
Theo Dyckman et al (1978) cũng tiến hành việc xác định tính hữu ích của thông
tin qua ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông qua ba cách tiếp cận:
1 Yêu cầu người sử dụng chỉ ra tầm quan trọng của một số khoản mục ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ
2 Nghiên cứu thái độ của các đối tượng sử dụng trong một tình huống thực nghiệm
3 Nghiên cứu BCTC có tác dụng đến mức độ trong truyền đạt thông tin
Kết quả là:
Các nhà đầu tư và các nhà phân tích xem các nhân tố không nằm trên BCTC (thí dụ bối cảnh kinh tế chung) là quan trọng hơn trong việc ra quyết định
Không có bằng chứng rõ rệt rằng việc sử dụng BCTC sẽ dẫn đến việc dự đoán hay quyết định tốt hơn
2.5.5.3 Thông tin kế toán và giá cổ phiếu
Trang 40Một hướng nghiên cứu khác về tính hữu ích của thông tin kế toán là tìm hiểu mối quan hệ giữa thông tin công bố trên BCTC và giá cố phiếu trên thị trường chứng khoán
Theo Ball et al (1968) nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin lợi nhuận được
công bố trên BCTC với giá cổ phiếu Kết luận được đưa ra là có bằng chứng về mối quan hệ này
2.5.5.4 Khả năng dự đoán căn cứ trên thông tin kế toán
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã xem xét tính hữu ích của thông tin kế toán thông qua khả năng dùng các thông tin này dự đoán những vấn đề tương lai Có bốn hướng nghiên cứu chính:
Sử dụng lợi nhuận quá khứ để dự đoán lợi nhuận trong tương lai
Sử dụng dữ liệu quý hoặc thông tin bộ phận để dự đoán lợi nhuận năm
Sử dụng các tỷ số tài chính để dự đoán khả năng phá sản
Sử dụng lợi nhuận quá khứ để dự đoán dòng tiền tương lai
Khá nhiều nghiên cứu đã cho kết quả về khả năng dự đoán này:
Theo Ball et al (1972) nghiên cứu mô hình giải thích biến động của chuỗi lợi
nhuận doanh nghiệp qua các năm nhằm xác định liệu có thể dự đoán được lợi nhuận năm sau bằng lợi nhuận năm trước hay không Việc nghiên cứu được triển khai trên
dữ liệu của Compustat trong thời gian 20 năm từ 1947 đến 1966 Với 4 định nghĩa lợi nhuận khác nhau (lợi nhuận thuần trước thuế, lợi nhuận trên cổ phần, lợi nhuận thuần trên tài sản và doanh thu thuần), nghiên cứu này cho thấy lợi nhuận có thể mô tả thống
kê dưới dạng bước ngẫu nhiên (random walk) trừ chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản có tính chất nhất quán thấp hơn Điều này có nghĩa cách tốt nhất để ước tính lợi nhuận tương lai là xem xét kết quả hoạt động hiện tại của doanh nghiệp
Theo nghiên cứu của Brown et al (1968) trên 519 doanh nghiệp từ cơ sở dữ
liệu Compustat với dữ liệu năm từ 1961-1965 và dữ liệu quý từ 1962-1965, cho thấy BCTC quý thì hữu ích trong việc dự đoán lợi nhuận của năm
Theo Bathke et al (1989) nghiên cứu 109 công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán New York với ba quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thấy khả năng dự đoán lợi nhuận năm trên báo cáo quý bị ảnh hưởng bởi quy mô của doanh nghiệp Các doanh