- Phân phối của tài chính luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định.. Phân phối lại là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, sử dụng những quỹ tiền tệ
Trang 13/1.1 Sự ra đời và phát triển của tài chính:
Tài chính ra đời và phát triển dựa trên những tiền đề cơ bản sau:
- Sự ra đời và phát triển của Nhà nước:
Khi Nhà nước ra đời, để duy trì hoạt động của mình, Nhà nước đã dùngquyền lực chính trị để quy định sự đóng góp của cải của các tổ chức, đơn vị kinh tế và của cá nhân dân cư cho Nhà nước Như vậy, sự ra đời của Nhà nước đã làm nảy sinh trong xã hội những quan hệ kinh tế
mà trước đó chưa có Những quan hệ kinh tế này lúc đầu được biểu hiện dưới dạng hình thái hiện vật Đó chính là hình thái phôi thai của tàichính
- Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa và sự phát triển của các hình thái giá trị dẫn đến sự ra đời của tiền tệ Sự xuất hiện của tiền tệ đã làm nên cuộc cách mạng trong công nghệ phân phối, từ phần phối bằng hiện vật (phi tài chính) sang phân phối bằng giá trị (phân phối tài chính)
Cùng với sự phát triển của Nhà nước và nền sản xuất hàng hóa, tài chính cũng phát triển theo quá trình từ thấp đến cao, từ quan hệ phân phối bằng hiện vật lên quan hệ phân phối giá trị Nhưng tài chính chỉ trở thành môn khoa học và có tiền đề phát triển mạnh mẽ khi quan hệ phân phối bằng giá trị trở nên phổ biến
4/e Đặc điểm của phân phối tài chính:
Trang 2- Phân phối của tài chính luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định
- Phân phối của tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, không kèm theo với sự thay đổi
hình thái giá trị
- Phân phối tài chính bao hàm cả quá trình phân phối lần đầu và quá trình phân phối lại Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội là sự phân phốiđược tiến hành trong lĩnh vực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ Phân phối lại là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, sử dụng những quỹ tiền tệ chứa đựng những nguồn lực tài chính đã được hình thành trong phân phối lần đầu ra phạm vi xã hội rộng hơn hoặc theo những chi tiết cụ thể hơn trong mục đích của các quỹ tiền tệ
Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù tài chính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Khi đó, tài chính được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối
[sửa] Khái niệm
Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác
Trang 3nhau, để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội.
Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hìnhthức giá trị Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sử dụng theo những mục đích nhất định
Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu (là việc phân phối tại các khâu cơ sở, đó là các khâu tham gia trực tiếp vào các hoạt hoạt động sản xuất) và phân phối lại (là phân phối cho các khâu không tham gia trực tiếp trong quá trình sản xuất mà chỉ nhằm đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội)
Tuy nhiên, thực tế phân phối được chia thành 3 nhóm:
o Phân phối có hoàn lại có thời hạn Ví dụ: Tín dụng
o Phân phối không hoàn lại Ví dụ: Ngân sách nhà nước
o Phân phối hoàn lại có điều kiện Ví dụ: Bảo hiểm
[sửa] Đối tượng phân phối
Đối tượng phân phối là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể các nguồn tài chính có trong xã hội
Xét về mặt nội dung, nguồn tài chính bao gồm các bộ phận:
o Bộ phận của cải xã hội mới được tạo ra trong kỳ - Tổng sản phẩmtrong nước GDP;
o Bộ phận của cải xã hội còn lại từ kỳ trước - Phần tích lũy quá khứcủa xã hội và dân cư;
Trang 4o Bộ phận của cải được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong nước chuyển ra nước ngoài;
o Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán
có thời hạn
Xét về mặt hình thức tồn tại, nguồn tài chính tồn tại dưới dạng:
o Nguồn tài chính hữu hình;
o Nguồn tài chính vô hình
[sửa] Chủ thể phân phối
Chủ thể phân phối: nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hộ gia đình, cá nhân
[sửa] Kết quả phân phối
Kết quả phân phối của tài chính là sự hình thành hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định cho các mục đích khác nhau của các chủ thể trong xã hội
[sửa] Đặc điểm của phân phối
Là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không kèm theo
sự thay đổi hình thái giá trị;
Là sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định;
Là quá trình phân phối diễn ra một cách thường xuyên, liên tục bao gồm
cả phân phối lần đầu và phân phối lại
[sửa] Quá trình phân phối
Trang 5Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội là quá trình phân phối chỉ diễn ra ở lĩnh vực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ Chủ thể phân phối: doanh nghiệp, người lao động, nhà nước, ngân hàng, Kết quả phân phối: Hình thành nên các phần thu nhập của các chủ thể phân phối.
Phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản đã hình thành qua phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhiều nhucầu khác nhau, thỏa mãn nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội
2/1.2 Bản chất của tài chính:
1.2.1 Những quan hệ kinh tế trong phân phối:
Tài chính là những quan hệ kinh tế trong phân phối sản phẩm quốc dân Nhưng không phải mọi quan hệ kinh tế trong nền kinh tế - xã hội đều thuộc phạm vi của tài chính Tài chính chỉ bao gồm những quan
hệ kinh tế trong phân phối, gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ
Các quỹ tiền tệ mang những đặc trưng cơ bản sau:
+ Các quỹ tiền tệ bao giờ cũng thể hiện tính mục đích của nguồn tài chính Các quỹ tiền tệ là một lượng nhất định của nguồn lực tài chính được dành cho một mục đích nhất định
+ Tất cả các quỹ tiền tệ đều vận động thường xuyên, tức là chúng luôn luôn được tạo lập (hoặc bổ sung) và được sử dụng
+ Các hình thức của quỹ tiền tệ:
* Quỹ tiền tệ cho mục đích tích lũy
Trang 6* Quỹ tiền tệ cho mục đích tiêu dùng
* Quỹ tiền tệ trung gian, ví dụ: quỹ kinh doanh của các tổ chức tín dụng, các công ty tài chính,
Như vậy, những hiện tượng bên ngoài, sự vận động của các nguồn tài chính, sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ là thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị-một bộ phận quan hệ kinh tế trong xã hội
1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của tài chính:
- Tài chính là những quan hệ kinh tế trong phân phối, tài chính phản ánh quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người với người trong quá trình phân phối của cải quốc dân do họ sáng tạo ra
- Tài chính là môn khoa học về sự lựa chọn trong đầu tư, sự lựa chọn giữa nhu cầu của thị trường, của xã hội, của con người và khả năng cho phép để quyết định sản xuất cái gì, bằng cách nào và bán cho ai Sao cho đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất
- Tài chính luôn gắn liền với Nhà nước, là công cụ quan trọng được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế, thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước
- Tài chính là những quan hệ kinh tế, quan hệ tiền tệ, nhưng tài chính thể hiện sự thống nhất tương đối giữa hiện vật và giá trị
1.2.3 Các quan hệ tài chính:
Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể
có các mối quan hệ tài chính sau:
Trang 7- Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nướcMối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận Đồng thời, mối quan
hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo luật định
- Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính:Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh
nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiềnlãi trong thời hạn nhất định
Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán Ngược lại,các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doang nghiệp (Thị trường chứng khoán)
Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách kí gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc
Trang 8đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác.
- Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động, Là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dịch vụ Đồng thời, thông qua các thị trường, doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm vàdịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường
- Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp:
Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chínhgiữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền
sử dụng vốn
CHUONG2:
QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ :
quy luật về số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông hàng hoá, là “một trong những quy luật kinh tế quan trọng có ý nghĩa phổ biến” (Mac) Theo học thuyết của Mac, QLLTTT được biểu hiện: với tốc độ chu chuyển nhất định của tổng phương tiện thanh toán, tổng số tiền đang nằm trong lưu thông trong một thời gian bằng tổng số giá cả hàng hoá
và dịch vụ cần thực hiện, cộng với tổng số các khoản thanh toán đã đến hạn, trừ đi các khoản thanh toán đã bù trừ lẫn nhau, và cuối cùng
Trang 9chia cho tổng số vòng quay (hay tốc độ lưu thông của đồng tiền), trong khi đó cùng những đồng tiền ấy, lần lượt khi thì làm chức năng phương tiện lưu thông, khi thì làm chức năng phương tiện thanh toán Yêu cầu của QLLTTT là khối lượng tiền thực tế trong lưu thông phải thích ứng với khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông Tuỳ theo loại hình lưu thông tiền tệ (lưu thông tiền kim loại, lưu thông tiền giấy, lưu thông tiền tín dụng ngân hàng), QLLTTT chứa đựng các biểu thị khác nhau: quy luật số lượng tiền tệ thực sự cần thiết cho lưu thông; quy luật giá trị thực tế của các dấu hiệu tiền tệ danh nghĩa; quy luật lưu thông tiền tín dụng - giấy bạc ngân hàng Lạm phát là biểu hiện sự vi phạm các yêu cầu của QLLTTT trong thời kì nhất định của sự phát triển kinh tế - xã hội ở các nước.
-Qui luật lưu thông tiền tệ của K Marx:
a Yêu cầu : M = ∑PQ/V
b Nội dung quy luật: khối lượng tiền cần thiết (M) cho lưu thông trong một thời gian nhất định phụ thuộc vào tổng giá cả của hàng hoá được sản xuất và đưa vào lưu thông (ΣPQ) và tốc độ lưu thông tiền tệ trong thời gian PQ) và tốc độ lưu thông tiền tệ trong thời gian
đó(V)được ngân hàng qui định
c ý nghĩa:quan điểm của Max đưa ra được xem là cơ sở,là tiền đề cho các mức tiếp theo xác định lượng tiền cần thiết trong lưu thong ,đặt nền tảng cho
cơ sở khoa học và phương pháp luận của việc quản lý lưu thông tiền
tệ.>hoach dinh chinh sach tte hop ly
CHUONG3
1/II SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA THUẾ PHÍ VÀ LỆ PHÍ
Trang 101.SỰ GIỐNG NHAU
Thuế và phí, lệ phí(phí, lệ phí thộc ngân sách nhà nước)đều là khoản thu của ngân sách nhà nước, đều là một phần thu nhập
(Khodetai.com) của các tổ chức hoặc cá nhân đóng góp cho nhà nước
để phục vụ nhu cầu chi tiêu theo chức năng của nhà nước.Trong thuế phí và lệ phí đều chứa đựng tính quyền lực của nhà nước với các đặc tính như:tính bắt buộc đơn phương, tính pháp lý và tính ổn định tương đối Mức thuế phí, lệ phí phải nộp được quy định sẵn trong các văn bản của cơ quan nhà nước ban hành, dưới hình thức tỷ lệ hoặc số tuyệt đối Người nộp có thể biết trước số phải nộp là bao nhiêu Việc thu nộp mang tính công quản rõ ràng.
2 SỰ KHÁC NHAU
Thuế và lệ phí, phí đều là nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đều mang tính pháp lý nhưng giữa chúng có sự khác biệt như sau:
* Xét về mặt giá trị pháp lý
Thuế có giá trị pháp lý cao hơn lệ phí, phí Thuế được ban hành dưới dạng văn bản pháp luật như: Luật, Pháp lệnh do Quốc hội và ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Trình tự ban hành một Luật thuế phải tuân theo một trình tự chặt chẽ Trong khi đó lệ phí, phí được ban hành đưới dạng Nghị định, Quyết định của chính phủ; Quyết định của các Bộ, cơ quan
Trang 11ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
* Xét về mục đích và mức độ ảnh hưởng đối với nền kinh tế -
xã hội
Thuế có ba tác dụng lớn:
- Tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước.
- Ðiều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý và định hướng phát triển kinh tế.
- Ðảm bảo sự bình đẳng giữa những chủ thể kinh doanh và công bằng xã hội.
Qua đó chúng ta thấy thuế có tác động lớn đến toàn bộ qúa trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời thuế là một bộ phận rất quan trọng cấu thành chính sách tài chính quốc gia.
Trong khi đó lệ phí, phí không có những tác dụng nói trên, nó chỉ có tác dụng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Hơn nữa, việc tạo nguồn này không phải dùng đáp ứng nhu cầu chi tiêu mọi mặt của Nhà nước, mà trước hết dùng để bù đắp các chi phí hoạt động của các cơ quan cung cấp cho xã hội một số dịch vụ công cộng như: dịch vụ công chứng, dịch vụ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, dịch vụ hải quan
Ngoài dấu hiệu là thuế được đảm bảo thực hiện bằng sự
Trang 12cưỡng chế của Nhà nước, thuế còn được phân biệt với lệ phí, phí ở chổ các cá nhân và pháp nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước nhưng không trên cơ sở được hưởng những lợi ích vật chất tương ứng mang tính chất đối giá Trong khi đó hình thức lệ phí, phí và công trái nói chung mang tính tự nguyện
và có tính chất đối giá Tính bắt buộc của lệ phí và phí chỉ xảy
ra khi chủ thể nộp lệ phí, phí thừa hưởng trực tiếp những dịch
vụ do Nhà nước cung cấp.
Bên cạnh đó, thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện ở chổ Nhà nước thu thuế từ các cá nhân và pháp nhân trong xã hội nhưng không bị ràng buộc bởi trách nhiệm phải hoàn trả lại cho người nộp Người nộp thuế suy cho cùng
sẽ nhận được các lợi ích vật chất từ việc sử dụng các dịch vụ công cộng do Nhà nước sử dụng các khoản chi của ngân sách Nhà nước để thực hiện các chính sách kinh tế xã hội chung cho cả cộng đồng Tuy nhiên, giá trị phần dịch vụ đó không nhất thiết tương đồng với khoản tiền thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Tính chất này của thuế cho phép chúng ta phân biệt thuế với lệ phí, phí và các khoản thu mà Nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước nhưng ràng buộc trách nhiệm hoàn trả cho đối tượng nộp dưới các hình thức như vay nợ, tạm ứng cho ngân sách Nhà nước.
* Xét về tên gọi và mục đích