1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên

57 291 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những ấu trùng đó là Cysticercus tenuicollis, đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, gây bệnh trên lợn, dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa, kể cả con người.. Nghiên cứu này

Trang 1

TRIỆU THỊ NẢY

Tên đề tài:

TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS ĐỂ CHẨN ĐOÁN BỆNH TRÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

TRIỆU THỊ NẢY

Tên đề tài:

ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS ĐỂ CHẨN ĐOÁN BỆNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thu Trang

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

Trong suốt 4 năm học tập với nỗ lực của bản thân, em đã nhận được

sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng các thầy cô giáo trong Khoa, đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Với lòng biết ơn chân thành, em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Nguyễn Thu Trang đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Trong quá trình thực hiện đề tài em cũng nhận được sự quan tâm, động viên sâu sắc của gia đình và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước sự giúp đỡ quý báu đó

Em xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc

và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 27 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Triệu Thị Nảy

Trang 4

Trang

Bảng 4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

lợn tại các địa phương 32

Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê

tại các địa phương 34

Bảng 4.3 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh

[trong số 30 lợn (+)] 37

Bảng 4.4 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh

[trong số 12 dê (+)] 38 Bảng 4.5 Kết quả thử nghiệm đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng

nguyên chế tạo trên lợn thí nghiệm 39 Bảng 4.6 Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ở

lợn trên thực địa 40 Bảng 4.7 Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh ở dê

trên thực địa 41

Trang 5

Trang

Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại

thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 32

Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê tại các

địa phương, tỉnh Thái Nguyên 34

Trang 6

STT : Số thứ thự

Nxb : Nhà xuất bản KCTG : Ký chủ trung gian

Trang 7

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Mục tiêu của đề tài 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 4

2.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 4

2.1.1.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học 4

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó 7

2.1.1.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó 14

2.1.2 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis 17

2.2 Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số

loại gia súc 17

2.2.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis 17

2.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 19

2.2.2.1 Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis 19

Trang 8

tenuicollis gây ra 20

2.2.3 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 21

2.2.4 Phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra 21

2.2.4.1 Phòng bệnh 21

2.2.4.2 Điều trị 22

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 27

3.2 Vật liệu nghiên cứu 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 28

3.3.1 Tình hình mắc bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn tại tỉnh Thái Nguyên 28

3.3.2 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh 28

3.3.3 Nghiên cứu chế tạo kháng nguyên phục vụ việc chẩn đoán bệnh 28

3.3.4 Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis 28

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh 29

3.4.3 Phương pháp nghiên cứu chế tạo kháng nguyên chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis theo phương pháp biến thái nội bì 29

3.4.4 Phương pháp xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo 29

Trang 9

Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa 30

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

4.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn và dê tại các địa phương 31

4.2 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh 36

4.3 Kết quả nghiên cứu chế tạo kháng nguyên phục vụ việc

chẩn đoán bệnh 38

4.4 Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu và độ ổn định của kháng nguyên

chế tạo 39

4.5 Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa 40

PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Tồn tại 43

5.3 Đề nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu tiếng Việt

II Tài liệu tiếng Anh

Trang 10

ở các vật nuôi khác và gây bệnh, làm thiệt hại đến giá trị kinh tế trong ngành chăn nuôi và ảnh hưởng đến sức khỏe con người Một trong những ấu trùng đó

là Cysticercus tenuicollis, đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, gây

bệnh trên lợn, dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa, kể cả con người

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Vương Đức Chất và cs (2004) [1], trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó và mèo Một trong những loài sán dây gây ra tác hại lớn cho chó

đó là sán dây Taenia hydatigena Sán dây Taenia hydatigena ký sinh làm cho

chó gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, có hội chứng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và sẽ chết do kiệt

Bệnh Cysticercus tenuicollis phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt

là những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ Số lượng ấu sán nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng hoàng đản, con vật mất tính thèm ăn, sốt cao Số lượng ấu sán nhiều còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính

Trang 11

Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra chưa có thuốc

điều trị đặc hiệu, chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với con vật còn sống rất khó khăn do triệu chứng bệnh không điển hình Đặc biệt, ấu trùng ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng nên không thể sử dụng các phương pháp xét nghiệm thông thường để tìm ấu trùng Theo Junquera P (2013) [28], cho đến nay chẩn đoán bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis chỉ có thể thực hiện sau khi gia súc chết

Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu

trùng Cysticercus tenuicollis gây ra để từ đó xây dựng các quy trình phòng

chống thích hợp là hết sức cần thiết Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên”

1.2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu chế tạo được kháng nguyên từ ấu trùng Cysticercus

tenuicollis để chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra bằng

phương pháp biến thái nội bì

1.3 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu chế tạo kháng nguyên phục vụ việc chẩn đoán bệnh

- Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo

- Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus

tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa

Trang 12

1.4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa trong chế tạo kháng nguyên

từ ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis, về các chỉ tiêu của kháng nguyên

như: độ nhạy, độ đặc hiệu và độ ổn định của kháng nguyên chế tạo, từ đó thử

nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê và

lợn trên thực địa

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp

dụng quy trình phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra,

nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra Góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy nghề chăn nuôi dê phát triển

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 2.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó

2.1.1.1 Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ

trước Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium

latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện

các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người

Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi

mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán

Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [4]

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:

Trang 14

Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei

Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782

Loài Multiceps multiceps Leske, 1780

Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940

Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782

Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị

Lê và cs (1996) [10], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt

Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium

Trang 15

caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]: tính đến thời điểm hiện tại

đã phát hiện hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo

Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea

Phạm Sỹ Lăng (2002) [9] cho biết: đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam

Việc mô tả hình thái các loài sán dây còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam Cande J (1870) là người đầu tiên mô tả

loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở Nam Bộ trên người Sau này

một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam như Đỗ Dương Thái và cs (1978) [11]

loài thuộc giống Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là

Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni Sự phán đoán

này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài Theo Yamaguti (1959),

loài Diphyllobothrium mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra

erinacei-europaei thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae)

Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S L., Skrjabin A S., Serdukov A M (1985) Diphyllobothrium

mansoni không là tên động vật của một loài nào trong họ này Khi nói về lịch

sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài

Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm

và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum Tuy nhiên, các tác giả

có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo

Nguyễn Thị Kỳ, (2003) [4]

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài

Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân

Trang 16

loại và không có mẫu Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4], đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh

một loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937

Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó, mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1])

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [14], nghiên cứu giun sán ký sinh ở Việt Nam phát hiện thấy các lớp giun sán ký sinh định danh như sau: lớp

Trematoda, lớp Nematoda và lớp Cestoda; trong lớp Cestoda dê bị nhiễm các

loài Taenia hydatigena và Moniezia expansa

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó

* Đặc điểm chung:

Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], cho biết:

Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải

băng màu trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau)

Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc Ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài

Trang 17

Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ

Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực

và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc

bộ Cyclophyllidea)

Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây phủ lớp biểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể

Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang

Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí

Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính

Trang 18

Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung

Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ootyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung của sán dây

Trang 19

rất khác nhau Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống

cong, dẫn từ ootyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng Ở

sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài Ở những

sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp

vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng

sán lá, một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5]

* Đặc điểm hình thái, kích thước của một số loài sán dây ký sinh ở chó:

- Giống Dipylidium Leuckart, 1863

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], cho biết:

+ Loài Dipylidium caninum: Cơ thể dài 15 - 17 cm, gồm 80 - 250 đốt Đầu rộng 0,24 - 0,50 mm Đầu có vòi hình chóp, có 4 - 10 hàng móc, mỗi hàng có từ 16 - 20 móc, móc hàng trên cùng dài 0,013 - 0,016 mm, móc hàng cuối cùng dài 0,003 - 0,008 mm Lỗ sinh dục kép, mở ra ở hai bên đốt Túi sinh dục dài 0,1 - 0,3 mm, đáy hướng lên phía trên đốt Buồng trứng phân

thùy hình quạt Tuyến noãn hoàng hình khối Đốt già chứa nang trứng, mỗi

nang chứa 3 - 30 trứng, có kích thước 0,026 - 0,060 mm Phôi 6 móc có kích thước 0,020 - 0,036 mm

- Giống Taenia Linnaeus, 1758

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5], cho biết:

Trang 20

+ Loài Taenia hydatigena: Dài 5000 mm gồm 550 - 700 đốt rất rộng Đầu hình quả lê hay hình thận, đường kính 1 mm, vòi có 26 - 44 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,170 - 0,022 mm, có mỏm rất cong, móc hàng dưới dài 0,110 - 0,160 mm, có lưỡi rất cong, các giác bám gần nhau và

có đường kính 0,110 mm, cổ dài 0,500 mm Có 600 - 700 tinh hoàn ở giữa

các ống bài tiết Xung quanh noãn hoàng, buồng trứng, ống dẫn tinh và âm đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không

có túi tinh Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ, noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy

buồng trứng tạo thành túi nhận tinh Ở các đốt già thân tử cung có 5 - 10

nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài

0,038 - 0,031 mm, rộng 0,034 - 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm

Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng

của lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người Ấu trùng này có dạng túi chứa đầy dịch trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ Đầu có

móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099 - 0,310 mm, có 28 - 40 móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 - 0,210 mm, móc hàng dưới dài 0,126 - 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám

vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh của ấu trùng

+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 - 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm

400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 - 0,640, có 34 - 48 móc xếp thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,225 - 0,294 mm, có lưỡi rất cong Móc hàng dưới dài 0,132 - 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính 0,310 -

0,330 mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm Lỗ sinh dục xen kẽ không đều, các

Trang 21

núm sinh dục hơi nhô ra Có 400 - 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục, đường kính 0,096 - 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn hoàng

và buồng trứng Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính 0,210 - 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 - 0,800, rộng 0,130 - 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt, những thùy bên

hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba góc, ở bờ dưới của đốt Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo đi từ lỗ sinh dục, tạo thành túi nhận tinh ở sát thùy của buồng trứng Ở những đốt già, mỗi phần của thân tử cung có 8 - 14 nhánh bên, từ đó tạo thành các nhánh phụ, trứng tròn hay hơi bầu dục, đường kính 0,032 - 0,037 mm

- Giống Echinococcus Rudolphi, 1810

Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết:

+ Loài Echinococcus granulosus: Sán dài 2,7 - 3,4 mm, gồm 3 - 4 đốt

Đầu không lớn, có đường kính 0,258 - 0,369 mm, đường kính giác bám 0,098

- 0,133 mm, vòi 0,100 - 0,140 mm Có 36 - 40 móc vòi, thường thay đổi về kích thước và số lượng móc, móc hàng trên dài 0,032 - 0,043 mm, móc hàng dưới dài 0,020 - 0,036 mm, cán không thẳng và dài hơn lưỡi móc, đôi khi cán

phình rộng hoặc có mỏm lớn Cơ quan sinh dục cái ở nửa dưới của đốt, buồng trứng gồm hai khối đặc hình bầu dục, nối với nhau bằng ống ngang hẹp, noãn hoàng dưới buồng trứng, thể Melis dưới buồng trứng và noãn hoàng, có 32 -

40 tinh hoàn Nang lông gai dài 0,025 - 0,026 mm, dài tới giữa đốt, lỗ sinh

dục mở ra ở hai bên đốt, tử cung dài bằng chiều dài đốt già, có các nhánh bên với số lượng và hình dạng không giống nhau Trứng tròn hay bầu dục, đường kính từ 0,028 - 0,036 mm

Ấu trùng Echinococcus enilocularis ký sinh ở trâu, bò, dê Nó có dạng

túi, trong chứa đầy dịch, nang có hai vỏ, vỏ ngoài màu trắng sữa đôi khi hơi

Trang 22

vàng, vỏ ngoài sinh ra vỏ trong, vỏ trong gọi là vỏ mầm, sinh ra từ phía trong xoang nang, mỏng, không màu, là thành mô sinh ra nang, có thể sinh ra một nang cùng lúc tạo thành đầu phôi và nang thứ hai (nang con)

- Giống Multiceps Goeze, 1782

Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10]:

+ Loài Multiceps multiceps: Sán dài 400 - 1000 mm, gồm 200 - 250

đốt, rộng gần 5 mm Đầu hình quả lê và có đường kính 0,800 mm Vòi có đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài

0,150 mm, hàng hai dài 0,090 - 0,130 mm Giác bám có đường kính 0,290 -

0,300 mm Cổ dài 2 - 3 mm Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai Nang có dạng quả lê dài 0,315

- 0,350 mm, rộng 0,110 - 0,145 mm Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần

bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình

ba góc, ở sát bờ dưới đốt Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng

Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm

Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục,

vỏ mờ đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang Kích thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và loại động vật

- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], cho biết:

Trang 23

+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m Đầu

không có vòi, có móc bám và 4 giác bám Tử cung có dạng túi dọc nằm ở

giữa đốt Kích thước trứng 0,040 - 0,060 x 0,035 - 0,043 mm Phôi 6 móc, đôi

móc giữa dài hơn móc bên

2.1.1.3 Chu kỳ sinh học của sán dây chó

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [13], chu kỳ sinh học của sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ

Cyclophyllidae trứng chứa thai trùng sáu móc đã hình thành Vào dạ dày ký

chủ, thai trùng sáu móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi

khác nhau: Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở bộ

Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid

Những dạng ấu trùng này sống lâu hay chóng ở KCTG và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành

Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể

là động vật không xương sống Có loài cần 1 KCTG để hoàn thành vòng đời, nhưng cũng có loài cần 2 KCTG mới hoàn thành vòng đời

Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán

dây: Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium

caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh

ở ruột của chó Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục Cụ thể vòng đời của các loài sán dây thường gặp ký sinh ở chó diễn ra như sau:

+ Loài Spirometra erinacei-europae

Vòng đời phát triển của Spirometra erinacei-europae có sự tham gia

của vật chủ trung gian thứ nhất là các các loài giáp xác, KCTG bổ sung là cá Trứng được thải ra ngoài theo phân chó không có phôi, ở trong nước, trứng

Trang 24

nở ra ấu trùng có những lông nhỏ xung quanh thân gọi là Coracidium, được vật chủ trung gian thứ nhất là các loài giáp xác thuộc giống Mesocyclops,

Eucyclops nuốt Trong cơ thể bọ nước, Coracidium phát triển thành dạng ấu

trùng đặc biệt - Procercoid Trong trường hợp cá nuốt phải bọ nước bị nhiễm

Procercoid thì ấu trùng Procercoid sẽ phát triển thành dạng ấu trùng mới - Plerocercoid Chó ăn cá có ấu trùng Plerocercoid sẽ nhiễm sán, sau 15 - 18

ngày sẽ xuất hiện trứng trong phân chó thải ra

+ Loài Spirometra mansonoides

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian thứ nhất

là các loài giáp xác nước ngọt (Copepods), vật chủ trung gian thứ hai là

những loài chim, rắn, bò sát, lưỡng cư, động vật gặm nhấm Trứng theo phân chó ra ngoài, trải qua lần lượt các giai đoạn ở vật chủ trung gian thứ nhất và

thứ hai, trở thành ấu trùng gây bệnh Plerocercoid Chó ăn phải vật chủ trung gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 10 - 30 ngày ấu trùng phát triển thành

sán trưởng thành

+ Loài Dipylidium caninum

Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài

bọ chét giống Ctenocephalides Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang

trứng Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt vào, phát triển thành ấu trùng Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm

sán dây Sau 3 - 4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

+ Loài Taenia hydatigena

KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán KCTG nuốt phải trứng sán, vào

đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng gây bệnh Cysticercoid

sau 3 tháng Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành

Trang 25

+ Loài Taenia pisiformis

Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động vật gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng Các giai đoạn phát triển của ấu trùng thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm

sau 15 - 30 ngày Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán

+ Loài Multiceps multiceps

Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê, cừu Đốt sán già ra ngoài theo phân chó Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê, cừu - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành

ấu trùng cảm nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 - 8 tháng Chó ăn phải óc vật chủ trung

gian có ấu trùng sẽ nhiễm sán

Phan Thế Việt (1977) [14], đã mô tả: “Tất cả bề mặt của sán dây là một cái “mồm” khổng lồ Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây Các loài sán dây thường tắm trong nguồn thức ăn giàu có của cơ thể vật chủ Cái mồm đã không cần, thì hệ tiêu hoá của chúng cũng không có Ăn và tiêu hoá đều qua

bề mặt cơ thể của sán dây” Hiện tượng rụng đốt của sán dây làm cho người ta

có thể nghĩ rằng: Cơ thể sán dây sẽ dần dần ngắn lại Song, không phải như vậy, bởi các đốt mới được sinh ra thay thế các đốt già đã rụng làm cho sán dây trở nên “trẻ lại” Sau đốt đầu là đốt cổ, người ta gọi đốt cổ là đốt sinh trưởng, từ đó sẽ mọc ra các đốt khác Các đốt mới sinh ra đẩy các đốt cũ lùi dần ra phía sau

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [6], cho biết: Những đốt sán dây hầu như là những cơ thể độc lập với nhiều cơ quan riêng biệt và hoàn toàn độc lập Nhờ có sự hóa đốt mà khả năng sinh sản của sán dây tăng lên gấp bội Trong cùng một lúc, ở những đốt thành thục của sán dây có thể sinh ra hàng chục triệu trứng Ngoài ra, sự hóa đốt còn có lợi cho sán dây về những mặt khác Đó là do có đốt sán già lần lượt đứt và thải ra môi trường bên ngoài mà

Trang 26

sự reo rắc trứng ở đó được thuận lợi hơn, bản thân sán dây thải bỏ đi những đốt già cỗi, đời nó hầu như từng thời được trẻ lại, có sức lực và năng lượng mới để phát triển những loạt đốt thành thục mới

2.1.2 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Ở nước ta, thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt

gan, lách, màng treo ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan

và cs, 2008 [6])

Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [10], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 - 80 x 8 - 100 mm, chứa dịch

bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2], cho biết: căn bệnh là ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của

lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là

mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành Ở

những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

trâu, bò, dê, lợn càng nhiều Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng Tình hình

nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật khác phụ

thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành Lợn nuôi gần với chó dễ nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn

2.2 Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loại gia súc 2.2.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis

Bệnh Cysticercus tenuicollis xảy ra trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực

nông thôn Tỷ lệ nhiễm ở các khu vực thay đổi rất nhiều Dịch bất ngờ có thể xảy ra do điều kiện khí hậu có lợi cho sự tồn tại của trứng trong đồng cỏ hoặc các hoạt động của động vật hoang dã mang bệnh (P Junquera, 2013) [19]

Trang 27

Bệnh ấu sán cổ nhỏ phân bố ở khắp nơi, lợn nước ta nhiễm khoảng 44%, ở những nơi nuôi nhiều chó và lợn nuôi thả rông, tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao và gây thiệt hại đáng kể

Động vật cảm nhiễm: lợn, động vật hoang dã và người đều cảm nhiễm

với ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Đường lây truyền: Lợn, một số động vật và người bị nhiễm ấu sán do

ăn, uống phải trứng gây nhiễm của sán dây thải ra từ chó bệnh

Điều kiện truyền lây: Tỷ lệ nhiễm bệnh phụ thuộc vào phương thức nuôi lợn, tập quán ăn uống, phụ thuộc vào số lượng, tỷ lệ chó bị nhiễm sán, chó và lợn có nuôi gần nhau

Tỷ lệ nhiễm bệnh tăng dần theo tuổi của lợn, vì lợn nuôi càng dài ngày thì cơ hội tiếp xúc với mầm bệnh càng nhiều nên tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao

Mổ khám 589 dê có nuôi ở các tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thấy tỷ lệ nhiễm ấu sán cổ nhỏ ở dê là 23,8% và cường độ nhiễm sán là 1 - 18 ấu sán/dê Tuổi gia súc càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng tăng lên và mức độ nhiễm càng nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [5]

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [8], đã mổ khám 1273 trâu, bò, lợn

của ba huyện thành tỉnh Phú Thọ phát hiện 294 con nhiễm ấu sán Cysticercus

tenuicollis (23,10%), trong đó tỷ lệ ở trâu biến động từ 10,59 - 31,78%, ở bò

từ 9,82 - 28,10% và ở lợn từ 10,28 - 37,66% với cường độ nhiễm từ 1 - 56 ấu

sán/con Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ

lệ nhiễm ấu sán Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, lợn là tương quan thuận rất chặt với hệ số tương quan R = 0,881; 0,990 và 0,997

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2]:

- Phân bố của bệnh: phổ biến khắp các vùng, lợn nước ta nhiễm khoảng 44% Ở những nơi nuôi nhiều chó, bệnh càng phổ biến và gây nhiều thiệt hại

Trang 28

- Biến động nhiễm ấu sán theo tuổi: nhìn chung tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi lợn, vì số lần tiếp xúc với căn bệnh tăng theo tuổi

2.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra

2.2.2.1 Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Các vật chủ trung gian bị nhiễm bệnh khi ăn phải thức ăn hoặc nước bị

nhiễm trứng hoặc phân mang trứng của Taenia hydatigena qua cây dạng cỏ

hoặc thức ăn lưu trữ Một đoạn mang trứng duy nhất chứa hàng ngàn trứng Ô nhiễm thức ăn có thể xảy ra thông qua phân chó Trứng có thể tồn tại ngoài môi trường trong vài tháng

Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở

KCTG, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này

(Woinshet Sammuel - Girma G Zewde, 2010) [21]

Khi nhiễm nhẹ, các chức năng rối loạn không rõ Thai 6 móc của ấu sán chui qua thành ruột, sau 24h vào gan, dừng lại ở các nhánh tĩnh mạch cửa, rồi vào gan đào thành rãnh, gây viêm gan cấp tính, có khi viêm màng bụng

Ấu trùng di hành chui qua mặt gan vào xoang bụng, ký sinh ở màng treo ruột, màng mỡ chài, phổi

Ngày đăng: 22/02/2016, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Đức Chất, Lê Thị Tài (2004), Bệnh thường gặp ở chó mèo và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 80 - 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường gặp ở chó mèo và cách phòng trị
Tác giả: Vương Đức Chất, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
2. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, tr. 81 - 112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Nguyễn Thị Kỳ (1994), Sán dây (Cestoda) ký sinh ở động vật nuôi Việt Nam, Tập I, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sán dây (Cestoda) ký sinh ở động vật nuôi Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kỳ
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1994
4. Nguyễn Thị Kỳ (2003), Động vật chí Việt Nam, Tập 13, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động vật chí Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kỳ
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2003
5. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 72 - 76, 83 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
6. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 48 - 57, 103 - 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ý sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
8. Nguyễn Thị Kim Lan (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y (giáo trình dùng cho đào tạ o bậc đại học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 108- 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y (giáo trình dùng cho đào tạo bậc đại học)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2012
9. Phạm Sỹ Lăng (2002), “Bệnh sán dây của chó ở một số tỉnh phía bắc Việt Nam”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập IX, số 2, tr. 83 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sán dây của chó ở một số tỉnh phía bắc Việt Nam”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Năm: 2002
10. Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh (1996), Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
11. Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978), Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, tập 2, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 36, 58- 61, 218-226 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
12. Nguyễn Văn Thiện (2008), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
13. Trịnh Văn Thịnh (1977), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm, Nxb khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 106 - 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1977
14. Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê (1977), Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam, Nxb khoa học và kỹ thuật, tr. 217 - 218, 222.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở động vật Việt Nam
Tác giả: Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê
Nhà XB: Nxb khoa học và kỹ thuật
Năm: 1977
16. Blazek K., Kursa J., Schramlova J., Prokopic J. (1985), “Contribution to the symptomatology of experimental bovin cysticercosis”, Folia Parasitol (Praha) 32 (4): 323-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contribution to the symptomatology of experimental bovin cysticercosis
Tác giả: Blazek K., Kursa J., Schramlova J., Prokopic J
Năm: 1985
17. Johannes Kaufmann (1996), Parasitic infections of domestic animal, Birkhauserr Verlag, Berlin, pp. 281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parasitic infections of domestic animal
Tác giả: Johannes Kaufmann
Năm: 1996
18. Oryan A., Goorgipour S., Moazeni M., Shirian S. (2012), “Abattoir prevalence, organ distribution, public health and economic importance of major metacestodes in sheep, goats and cattle in Fars, southern Iran”, Trop Biomed, 29(3),349-359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Abattoir prevalence, organ distribution, public health and economic importance of major metacestodes in sheep, goats and cattle in Fars, southern Iran
Tác giả: Oryan A., Goorgipour S., Moazeni M., Shirian S
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn - Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên
Bảng 4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn (Trang 41)
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê - Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê (Trang 43)
Bảng 4.3. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh - Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên
Bảng 4.3. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh (Trang 46)
Bảng 4.4. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh - Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên
Bảng 4.4. Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh (Trang 47)
Bảng 4.6.  Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán - Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên
Bảng 4.6. Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán (Trang 49)
Bảng 4.7.  Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán - Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên
Bảng 4.7. Kết quả thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w