Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát khả năng sinh sản của lợn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN VĂN HỢP
Tên đề tài:
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LANDRACE VÀ YORKSHIRE TỪ LỨA 2 - 5 TẠI TRANG TRẠI ÔNG TRẦN VĂN LIÊM
XÃ CỔ LŨNG, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : ThS Lê Minh Toàn
Thái Nguyên, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire từ lứa 2 - 5 tại trang trại ông Trần Văn Liêm - xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình của cán bộ
tại cơ sở, các thầy cô giáo trong Khoa chăn nuôi thú y, đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ
bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn Th.s Lê Minh Toàn đã giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực tập này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú
y, Bác Trần Văn Liêm, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu của quá trình thực tập
Do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy, cô giáo và toàn thể các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn
Thái nguyên, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Phan Văn Hợp
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi
con (Võ Trọng Hốt, 2000)[8] 19
Bảng 2.2 Năng suất sinh sản của lợn Landrace 22
Bảng 2.3 Năng suất sinh sản của một số lợn ngoại nuôi tại Việt Nam 22
Bảng 2.4: Các tham số thống kê về các tính trạng năng suất sinh sản của đàn lợn nái Yorkshire và Landrace 23
Bảng 4.1 Lịch phòng bệnh của trai lợn 31
Bảng 4.2 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 34
Bảng 4.3 Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái hậu bị 35
Bảng 4.4: Các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của nái Landrace 36
Bảng 4.5: các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của nái Yorkshine 37
Bảng 4.6: So sánh các chỉ tiêu sơ sinh nái Landrace và Yorkshire lúc sơ sinh 38
Bảng 4.7: Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của nái Landrace 40
Bảng 4.8: Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của nái Yorkshire 41
Bảng 4.9: So sánh chỉ tiêu 21 ngày tuổi đàn con của nái Landrace và Yorkshire lúc 21 ngày tuổi 42
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.Cơ sở khoa học 3
2.1.1.Đặc điểm một số giống lợn ngoại 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7
2.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 14
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 17
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 24
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái hậu bị 25
3.3.2 Khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.1 Số trung bình 26
3.4.2 Độ lệch chuẩn 26
3.4.3 Sai số trung bình 26
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 27
4.1.1 Nội dung công tác phục vụ sản xuất 27
4.1.2 Biện pháp thực hiện 27
Trang 64.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 28
4.2 Kết quả nghiên cứu 35
4.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Landrace và Yorkshire hậu bị 35
4.2.2 Khả năng sính sản của lợn nái Landrace và Yorkshire 36
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1.Đặt vấn đề
Khi nền kinh tế phát triển thì nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng nâng cao cả về chất lượng và số lượng, vì vậy trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đã có những bước tiến nhất định, đặc biệt là ngành chăn nuôi gia súc Trong
đó, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi nó
không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm (thịt) cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu mà còn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân bón cho cây trồng…
Do nhu cầu tiêu thụ thịt trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt là thịt nạc, do
sự cạnh tranh gay gắt về chất lượng và giá cả của lợn giống, lợn hơi và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn trên thị trường trong nước và quốc tế, nhiều hộ nông dân, trang trại chăn nuôi lợn ở nước ta đã cố gắng chuyển phương thức chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm vốn có và nguồn thức ăn từ phụ phẩm nông nghiệp sang chăn nuôi theo hướng công nghiệp
Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện để phát triển mạnh ngành chăn nuôi lợn, đạt tốc độ phát triển khá cao với số lượng đàn lợn lớn Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc có ngành chăn nuôi đang ngày càng phát triển mạnh, trong đó huyện Phú Lương có nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô lớn được mở ra trong những năm gần đây
Để nâng cao hiệu quả sản xuất trong chăn nuôi, chất lượng con giống là tiền
đề quan trọng, vì vậy chất lượng của đàn nái sinh sản có ảnh hưởng đến năng suất,
quyết định đến số lượng con giống sản xuất Hiện nay giống lợn Landrace và Yorkshire đóng vai trò chủ yếu trong khâu sản xuất và lợn nái nuôi thịt ở nước ta Việc đánh giá năng xuất sinh sản đòi hỏi cấp thiết đối với người làm công tác chọn giống và nhân giống vật nuôi Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được thì còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là về kỹ thật, tình hình dịch bệnh của đàn lợn nái
Trang 8Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, nhằm nâng cao kiến thức cũng như góp
phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi lợn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo
sát khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire từ lứa 2 - 5 tại trang trại ông Trần Văn Liêm - xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
-Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái giống Landrace và Yorkshire từ
lứa 2 - 5 tại trang trại ông Trần Văn Liêm - xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
-Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu có liên quan đến khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire
-Là cơ sở, căn cứ cho các nghiên cứu tiếp theo ở mức cao hơn
1.3 Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong khoa học:
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học góp phần nâng cao hiểu biết và làm phong phú thêm những kiến thức về khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire từ lứa 2 - 5 nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
Ý nghĩa thực tiễn:
Đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản của đàn lợn Landrace và
Yorkshire hiện đang nuôi tại cơ sở để khuyến cáo người dân nuôi lợn nái lựa chọn
được giống lợn phù hợp với điều kiện cụ thể tại đia phương
Trang 9từ năm 1900 đến 1925 người ta đã củng cố được giống lợn Landrace và chính thức công nhận vào năm 1925 Nhờ có giống lợn Landrace đã tạo cho Đan Mạch trở thành nước sản xuất thịt lợn lớn nhất thế giới
Về sau công tác chọn lọc giống lợn Landrace ngày càng được tiến hành chặt chẽ và đã tạo cho giống lợn Landrace ngày càng có nhiều đặc điểm quý phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng
Vào năm 1934, Bộ nông nghiệp Mỹ đã nhập 30 con lợn giống Landrace của
Đan Mạch về phục vụ công tác nghiên cứu giống lợn Việc nhập giống lợn này của
chính phủ Mỹ đã là tiền đề cho việc tạo ra các giống lợn mới sau này Việc tạo ra giống lợn Landrace của Mỹ tiến hành với sự pha trộn thêm 1/16 đến 1/64 máu của giống lợn Poand China Đến năm 1954, một đợt tiếp theo nhập 38 lợn đực và cái giống lợn Landrace của Na Uy, Đan Mạch vào Thụy Điển để làm tươi máu cho giống lợn Landrace Mỹ Từ việc chọn lọc và nhân giống này giống lợn Landrace
Mỹ được cải tiến tốt hơn rất nhiều
Mỗi một nước khi nhập giống lợn Landrace để phối tạo ra các dạng giống lợn Landrace phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng nước mình như lợn Landrace
Trang 10của Bỉ có phần mông rất phát triển, lợn Landrace của Nhật thì dài mình… Việt Nam nhập lợn Landrace từ Cu Ba vào năm 1970 Trong các năm 1975 đến 1986 nhập Landrace từ Bỉ và Nhật
Đặc điểm ngoại hình:
Lợn Landrace có dạng hình nêm (còn gọi là hình tên lửa) màu lông trắng tuyền, mình dài, có từ 16 - 17 đôi xương sườn, đầu dài hơi hẹp, tai to, dài rủ xuống che cả mắt, bốn chân hơi yếu Lưng vồng lên, mặt lưng bằng phẳng, mông phát triển, tròn Lợn Landrace có từ 12 - 14 vú Lợn Landrace là giống lợn hướng nạc
Đặc điểm sinh trưởng:
Lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao Tốc độ sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng thấp từ 2,70 - 3,01 kg; tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 - 800 gam, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 58 - 60% (một số trạm kiểm tra năng suất thông báo tỷ lệ nạc của Landrace đạt từ 59,65 - 63,10%) Khối lượng cơ thể lợn đực từ 280 - 320 kg, lợn nái từ 220 - 250 kg
Khả năng sinh sản:
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và khả năng nuôi con khéo (trừ Landrace Bỉ, ngoài ra Landrace Bỉ còn có gen Halothal gây bệnh yếu tim) và Landrace thường được chọn làm “dòng cái” trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau
Kết luận:
Lợn Landrace là lợn chuyên hướng nạc, tốc độ sinh trưởng nhanh, khả năng chuyển hóa thức ăn thành thịt cao, là giống lợn lý tưởng để sản xuất thịt cung cấp cho nhu cầu người tiêu dùng Là giống lợn có khả năng sinh sản cao, nuôi con khéo Tuy nhiên khả năng thích nghi kém hơn Yorkshire trong điều kiện nóng ẩm
Ở Việt Nam, lợn Landrace được dùng để lai kinh tế và nuôi thuần dùng trong
chương trình nạc hóa đàn lợn
Công thức lai chủ yếu hiện đang dùng là:
Lợn đực Landrace x Lợn nái Móng Cái ( hoặc lợn địa phương) để lấy con lai F1 nuôi thịt
Trang 11Lợn đực Landrace x lợn F1 (Y x MC) lấy con lai F2 ¾ máu ngoại (50% L, 25% Y, 25% MC) nuôi thịt cho khối lượng lúc 6 tháng tuổi đạt 100 kg, tỷ lệ nạc đạt
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [10], Giống lợn Yorkshire được hình thành
ở vùng Yorkshire của nước Anh Trong thời gian đầu của quá trình tạo giống lợn
trắng lớn, xương to, trường mình, có các chấm đen trên da được nuôi nhiều tại nước Anh Các nhà chọn giống đã chọn lọc giống lợn này và cho lai tạo với giống lợn trắng Leicester và hình thành nên giống lợn Yorkshire trắng lớn (Large White ) Lợn nái Yorkshire trắng có khả năng sinh sản cao, đẻ nhiều con trên lứa, chất lượng
và khối lượng thịt xẻ cao
Trong những năm cuối thế kỷ 19, lợn Yorkshire trắng được nhập về Cannada
và Mỹ Ở hai nước này, lợn Yorkshire trắng được gọi tên là Yorkshire vào năm
1893, hiệp hội giống lợn Yorkshire được thành lập tại Mỹ
Trong khoảng thời gian mà mỡ lợn là thị hiếu người tiêu dùng nước Mỹ, thì lợn Yorkshire chỉ được ưa thích tại vài nơi ở Mỹ vì đó là giống lợn thiên về hướng nạc Sau chiến tranh thế giới thứ hai, người tiêu dùng nước Mỹ quay trở lại với các sản phẩm của giống lợn hướng nạc Vì thế giống lợn Yorkshire được chọn lọc và nhân giống trở thành giống lợn hướng nạc có phẩm chất thịt xẻ tốt hơn
Ngày nay giống lợn Yorkshire được đánh giá là giống lợn có số lượng nhiều nhất trong các đàn lợn giống và được nuôi rất nhiều nơi trên thế giới Lợn Yorkshire
được nhập vào nước ta vào năm 1964 từ Liên Xô cũ với tên gọi là lợn Đại Bạch, đó
là một giống lợn thịt tốt, thân hình nở nang, mình không được dài Đàn lợn này có tác dụng trong việc cải tạo lợn địa phương miền Bắc Việt Nam trong những năm
1970 - 1980
Trang 12Năm 1978, nước ta nhập Yorkshire từ Cu Ba, dòng lợn này có chiều dài thân hơn hẳn vòng ngực Đàn này có tác dụng cải tiến đàn lợn nội và góp phần làm tươi máu đàn lợn Đại Bạch Liên Xô (cũ) nhập vào nước ta đã lâu chưa có điều kiện thay
đổi được giống Từ năm 1994 đến nay, phong trào nuôi lợn ngoại thuần đã phát
triển ở vùng đồng bằng sông Hồng, nên một số lượng lớn lợn Yorkshire được đưa
từ miền Nam nước ta đã thực sự thúc đẩy phong trào nuôi lợn ngoại đạt năng suất cao ở miền Bắc Việt Nam
Đặc điểm ngoại hình:
Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng, đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài lưng hơi cong, bụng gọn 4 chân dài chắc chắn, có 14 vú Da của lợn Yorkshire có màu trắng, tuy nhiên thỉnh thoảng có một số nốt đen
Đối với lợn Đại Bạch nhập từ Liên Xô (cũ) có 2 kiểu hình: kiểu hình hướng
nạc có tầm vóc to, thân dài, ngực hơi nông Kiểu hình kiêm dụng mỡ - nạc có tầm vóc to, mình hơi ngắn, ngực sâu, mình tròn
Lợn Đại Bạch nuôi đẻ tại Việt Nam có ngoại hình thay đổi như lông thưa, thể chất có hiện tượng yếu, đi bàn, móng hơi dốc xuôi
Giống lợn Yorkshire thích hợp với chăn thả vì nó là giống lợn ưa hoạt động
Đặc điểm sinh trưởng:
Lợn Yorkshire sinh trưởng phát dục nhanh Khối lượng khi trưởng thành của con đực từ 250 - 300 kg, con cái từ 200 - 250 kg
Lợn Yorkshire nuôi đẻ tại Việt Nam, khả năng tăng khối lượng giảm chút ít so với giống gốc, khối lượng lúc 12 tháng tuổi chỉ bằng khối lượng giống gốc lúc 11 tháng tuổi
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân từ 650 - 750 gam/con/ngày; tiêu tốn thức ăn từ 2,80 - 3,10 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc/thịt xẻ từ 55 - 59%
Trang 13Khả năng sinh sản:
Lợn Yorkshire có khả năng sinh sản tương đối cao, đẻ bình quân 10 - 11 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,1 – 1,2 kg/con Khi nuôi tại Việt Nam số con đẻ ra trên ổ bình quân là 9,57, khối lượng sơ sinh đạt 1,24 kg/con, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi đạt 55 - 60 kg, khối lượng bình quân/con lúc 60 ngày tuổi đạt
từ 15 – 18 kg
Kết luận:
Lợn Yorkshire có tính di truyền ổn định, tầm vóc to, khả năng sản xuất cao, khả năng thích nghi tôt, thích hợp với phương thức nuôi chăn thả
Phương hướng công tác giống:
-Nuôi thích nghi tại Việt Nam
-Sử dụng trong lai giống với lợn nái nội như Móng Cái và các loại lợn địa phương khác lấy con lai nuôi thịt
-Sử dụng trong công thức lai lấy lợn lai nuôi thịt giữa các giống lợn cao sản nhập nội
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.1.2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện
tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản
xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 -
210 ngày)(Võ Trọng Hốt và cs (2000) [8])
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (2001) [13], cho biết lợn Landrace thành thục về tính là 213, 1 ngày
Trang 14Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống,
chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,…
-Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 -55kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là
208 - 209 ngày
-Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188, 5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234, 8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg
Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể
do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
Trang 15- Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi nái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn nái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Theo Hughes và Jemes (1996) [17], lợn cái hậu bị ngoài 90kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc
15 - 20 phút thì tới 83% lợn cái hậu bị động dục lần đầu
Sự thành thục về thể vóc:
Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên
Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai
đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể
thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng
đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ
gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng
Trang 16Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu
Tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày):
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát
triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Buồng trứng to hơn bình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên,
đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệ thống tuyến ở cổ tử cung
tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinh trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp
tế bào trứng và tiến hành thụ tinh
Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo không nhìn thấy, đỏ hồng, không có hoặc có ít nước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông Ở giai đoạn này lợn thường bỏ ăn hoặc ít ăn, hay kêu rít
Động dục (kéo dài 2 - 3 ngày):
Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn
đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân
sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chịu đực
Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai và cho đến khi đẻ xong
Trang 17một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trường hợp gia súc không có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp
Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày):
Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần
dần trở lại trạng thái hoạt đông sinh lý bình thường Các phản xạ về hưng phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khó ăn uống Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn, làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại
Giai đoạn nghỉ ngơi:
Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục Thời kỳ này con vật hoàn toàn
yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý bình thường Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bào bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện nhưng biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo
Nếu lợn không có chửa, tử cung sinh sản ra hormone Prostaglandin làm cho tan rã thể vàng, Progesteron không sản sinh ra nữa Tuyến yên lại được giải phóng
và lại sinh sản ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới
Chu kỳ động dục của lợn nái thường từ 18 - 22 ngày, thời gian động dục kéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường 2,5 ngày, phối giống trong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất
Đối với lợn Landrace thời điểm phối thích hợp vào cuối ngày thứ 3 đầu ngày
thứ 4 tính từ lợn ngày lợn bắt đầu động dục Để phối giống mang lại hiệu quả cao nhất có 3 cách, tính từ khi nái đứng im chịu đực như sau:
- Đối với lợn Yorkshire thời điểm phối giống thích hợp vào ngày thứ 2 và thứ
3 tính từ ngày lợn bắt đầu động dục
- Sau 12 giờ và 36 giờ
Trang 18- Sau 12 giờ, 36 giờ sau đó cứ 12 giờ cho phối giống 1 lần đến khi lợn nái không chịu thì thôi
- Đối với lợn Yorkshire thời điểm phối giống thích hợp vào ngày thứ 2 và thứ
3 tính từ ngày lợn bắt đầu động dục
- Đối với lợn hậu bị nên cho phối giống sớm hơn lợn nái từ 6 - 8 giờ
Kết quả đem lại từ 3 cách phối trên đều như nhau
Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng động dục trở lại là lợn đã có chửa Có thể phân biệt lợn có chửa hay không qua một số biểu hiện bên ngoài Lợn
có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt hơn, dáng đi ngày càng nặng nề Lợn tuy đã có chửa nhưng có thể có hiện tượng “động dục giả” Biểu hiện như sau: âm hộ đỏ, không có nước nhờn, thời gian động dục ngắn, nói chung biểu hiện không rõ ràng
Có thể phân biệt động dục giả và động dục thật ở lợn: lợn động dục giả vẫn ăn uống bình thường, ăn xong vẫn nằm ngủ, khi thấy đực qua chuồng tai rủ xuống và lảng tránh Điều này trái với lợn động dục, khi thấy đực qua chuồng luôn ve vẩy và
đến gần đực
Chẩn đoán phân biệt lợn nái có chửa có một ý nghĩa rất to lớn, chẩn đoán lợn nái có chửa chính xác giúp cho người chăn nuôi nâng cao được tỷ lệ sinh sản của lợn nái, định ra được các thời kỳ chửa của lợn nái, từ đó định ra được cách nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp
Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày, dao động từ 112 - 116 ngày, cá biệt có những lợn nái ngoại mang thai tới 117 - 118 ngày, thời gian mang thai dài quá hoặc ngắn quá đều ảnh hưởng không tốt Nếu thời gian mang thai ngắn con đẻ ra yếu sức chống chịu với ngoại cảnh kém, khả năng sống sót thấp Nếu thời gian mang thai dài đẻ ra nhiều con chết, lợn mẹ thường đẻ khó khăn
2.1.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào thai
Hiểu rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con
Trang 19Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)
Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra Phôi thai được hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơ thể mới
Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi Tiếp theo tới phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử Trong giai đoạn này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng
Sau khi thụ tinh được 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành Lúc
đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ các tuyến nội mạc tử
cung Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng Sau 7 - 8 ngày, màng ối được hình thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa có tác dụng bảo vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Màng niệu được hình thành sau 12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã
do thai thải ra trong quá trình trao đổi chất
Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai chưa
chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi chỉ nặng 1 - 2 gam
Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu là cực kỳ quan trọng Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như: tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh ) đều ảnh hưởng tới phôi thai, dễ dẫn đến sảy thai Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu, lên men, mốc ) cũng gây hậu quả tương tự Cần có sự chăm sóc cẩn thận đối với nái chửa trong 3 tuần đầu sau thụ tinh
Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày)
Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra mạnh
mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơ quan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam
Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày)
Trang 20Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai Các cơ quan bộ phận được hoàn chỉnh dần Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt Đặc điểm
của từng giống đã bắt đầu được thể hiện từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng ta chia thành hai thời kỳ
- Chửa kỳ I: 1 - 84 ngày
- Chửa kỳ II: 84 - 114 ngày
Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:
- Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày
- Giai đoạn 2: 100 - 114 ngày
Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thấy hợp lý Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái
ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của
nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần
sự yên tĩnh, những tác động kích thích từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ
Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 113 - 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ Nếu sức khỏe của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi đẻ Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khỏe nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho
cả nái mẹ và đàn con
2.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thì có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh
sản khác nhau Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà có thể chọn nhiều hoặc ít các chỉ tiêu Hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau: có hai nhóm chỉ tiêu chính
là nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh dục và chỉ tiêu về năng suất sinh sản
Trang 212.1.3.1.Tuổi động dục lần đầu
Tuổi động dục lần đầu là tuổi tính từ khi sơ sinh đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu Tuổi động dục khác nhau tuỳ theo giống và chế độ chăm sóc Theo Phùng Thị Vân và cs (2001) [13] cho biết, chỉ tiêu này ở lợn Landrace là 219, 4 ± 4,
09 ngày Yorkshire là 217,6 ngày
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu muộn hơn lợn nuôi chăn thả
Sau khi lợn đã thành thục về giới tính và thể vóc phát triển tương đối hoàn chỉnh thì có thể cho phối giống
Thành thục về sinh dục tức là lợn cái hậu bị phải có biểu hiện về động dục và rụng trứng
Tuổi trưởng thành về sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện nuôi dưỡng, chính sách quản lý của cơ sở chăn nuôi Trong chăn nuôi lợn ngoại như giống Landrace và Yorkshire thường phối giống từ 7 - 8 tháng tuổi
2.1.3.3 Tuổi đẻ lứa đầu
Đây là tuổi mà lợn cái hậu bị đẻ lứa thứ nhất, chính là tuổi phối giống có kết
quả cộng với thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu của gia súc phụ thuộc và nhiều yếu tố như tuổi phối giống lần đầu, kết quả phôi giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau Đối với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thường sớm hơn so với lợn nái ngoại do tuổi thành thục về tính dục ngắn hơn
Đây là số con sinh sống tính đến 24 giờ kể từ khi đẻ xong con cuối cùng nói
lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, đánh giá được chất lượng đàn con, khả năng nuôi thai của lợn nái, kỹ thuật thụ thai và khả năng chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi
Trang 222.1.3.6 Số con cai sữa/nái/năm
Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nái Người ta nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không nhờ số lượng con cai sữa/ nái/ năm Nếu tăng số lứa
đẻ/ nái/ năm và tăng số lượng cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn cai sữa/ nái/
năm sẽ cao
Khôi lượng sơ sinh toàn ổ
Khối lượng sơ sinh toàn ổ được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn, lau khô cắt nanh và trước khi cho bú sữa đầu
Khối lượng toàn ổ sơ sinh là chỉ tiêu nói lên, khả năng nuôi dưỡng thai của lợn
mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi
Khối lượng sơ sinh càng cao càng tốt vì lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai
đoạn phát triển sau
Khối lượng 21 ngày toàn ổ
Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con, và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ Khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất ở ngày thứ 21 sau đó sẽ giảm dần Do đó người ta dùng khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ
Khối lượng cai sữa toàn ổ
Khối lượng cai sữa toàn ổ phụ thuộc vào khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa và kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lượng sơ sinh, và làm nền tảng cho khối lượng xuất chuồng
2.1.3.8 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Đây là thời gian để hình thành 1 chu kỳ sinh sản Bao gồm: thời gian chửa +
thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa Khoảng cách giữa hai lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ/ nái/ năm
Trang 23Số lứa đẻ/ nái/ năm =
2.1.3.9 Căn cứ vào khả năng tiết sữa của lợn nái
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ,
đặc điểm của giống và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái của cơ sở chăn nuôi
Lợn không có bể sữa, do đó không thể đo lượng sữa của lợn mẹ bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể đo lượng sữa thông qua khối lượng của đàn con Khi so sánh đàn lợn con nào có khối lượng cao hơn thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ tốt hơn
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
2.1.4.1 Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền ở đây chính là thành tích sinh sản của giống, mà cụ thể là giống con nái Thành tích đó thông thường đặc trưng cho giống và cũng mang tính
cá thể
Yếu tố giống có ảnh hưởng rõ ràng tới năng suất sinh sản của lợn nái, đặc biệt
là sự khác biệt giữa giống nội và giống ngoại Theo Đặng Vũ Bình (1999) [2] có một số chỉ tiêu năng suất sinh sản phân biệt rõ nét qua giống là: các giống Móng Cái, Yorkshire và Landrace có tuổi đẻ lần lượt là: 272,3 ngày; 418,5 ngày và 409,3 ngày; số con đẻ ra/ ổ là 10,6; 9,8 và 9,9 con và khối lượng sơ sinh trung bình/ con là 0,58; 1,2 và 1.2 kg
2.1.4.2.Yếu tố ngoại cảnh
Ngoài các nhân tố tác động do di truyền, các nhân tố tác động do ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rõ ràng và có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái như: chế
độ nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức nuôi nhốt, mùa vụ, nhiệt độ, thời gian chiếu
sáng đều ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai là phải cung cấp
đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao
365 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Trang 24Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố vi lượng và ảnh hưởng của vitamin
Nhu cầu năng lượng:
Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu về năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm 70 - 80%, Lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp
Nhu cầu về protein:
Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn có một lượng nhất định protein mất đi Trong quá trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể thì hàng ngày luôn có các tế bào sinh trưởng và phát triển, phân chia và các tế bào già cỗi được loại thải ra ngoài Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: Lyzine, methionine, histidin, cystin, tryptophan… hay chính xác hơn nhu cầu
về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thụ Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên việc phối hợp khẩu phần thức ăn cho lợn bằng nhiều loại thức ăn cần thiết
Trang 25Bảng 2.1: Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi con
(Võ Trọng Hốt, 2000)[8]
Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con
Ảnh hưởng của khoáng chất:
Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là caxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác tồn tại ở dạng dấu vết Ví dụ như canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa
Ảnh hưởng của vitamin:
Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường cho sự phát triển của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số loại vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp
ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần bổ sung (A, D, E)
Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt
+ Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ xảy thai, đẻ non…
+ Thiếu vitamin D: thai phát triển kém, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ
Điều kiện khí hậu:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng cũng làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái Đặc biệt là các yếu tố nhiệt độ và ẩm độ của chuồng nuôi
Trang 26Đối với lợn nái nhiệt độ thích hợp từ 18 - 21ºC Do đó, về mùa hè sức sản xuất của lợn nái thấp hơn so với các mùa khác, vì nếu nhiệt độ chuồng trên 30°C sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ chết phôi và chết thai tăng cao và thai kém phát triển do lợn
mẹ ăn ít Mặt khác nhiệt độ cao sẽ làm kéo dài thời gian đẻ, gây sát nhau, tỷ lệ lợn con hay chết cao do lợn mẹ hay đè chết con Đồng thời khi nhiệt độ cao và độ ẩm cao sẽ làm cho lợn nái không động dục hoặc động dục chậm Còn nếu nhiệt độ quá thấp sẽ ảnh hưởng đến giai đoạn nuôi con, lợn con dễ bị cảm lạnh và dẫn đến tỷ lệ chết cao
Kỹ thuật phối giống:
Kỹ thuật phối giống ảnh hưởng đến số lượng con/lứa Chọn thời điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa chú ý rằng nếu lợn nái kéo dài động dục 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc chịu đực Cho phối giống quá sớm hoặc quá muộn thì tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ ổ sẽ giảm nhanh chóng
Có hai phương pháp phối giống là trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Thông thường lần phối giống đầu tiên người ta cho lợn nhảy trực tiếp nhưng đến các lần động dục sau thì sử dụng thụ tinh nhân tạo Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng Trong phối giống cho nhảy trực tiếp, ảnh hưởng của cá thể giống là rất rõ rệt Nếu phối trực tiếp sẽ làm giảm khả năng đảm nhiệm của lợn đực nhưng làm tăng khả năng thụ thai do lợn cái được kích thích nhiều hơn thụ tinh nhân tạo có nhiều ưu
điểm hơn nhưng có nhược điểm là giảm tỷ lệ thụ thai do kích thích hưng phấn sinh
dục thấp nên người ta thường tiến hành phối kép, phối lặp lại để tăng tỷ lệ thụ thai.Thụ tinh không tốt có thể làm sây sát đường niêm mạc sinh dục của con cái dẫn
đến viêm đường sinh dục
Trang 27thuần từ giai đoạn 1994 - 1997 như sau: Số con sơ sinh/ổ lần lượt là: 11,61; số con
sơ sinh còn sống/ổ: 10, 94 con; thời gian cai sữa đến phối giống: 5, 6 ngày; tỷ lệ đẻ
là 82,8; và tuổi đẻ lứa đầu là: 355, 6 ngày
Thời gian nuôi con:
Thời gian nuôi con kéo dài hay ngắn còn ảnh hưởng tới mức độ hao hụt của con nái do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng lứa đẻ sau Nếu phải nuôi con trong thời gian dài thì sau khi cai sữa con nái cần thời gian dài hơn để phục hồi lại trạng thái sức khỏe đảm bảo cho các lứa đẻ tiếp theo
Số con để lại nuôi:
Lợn nái thường có 12 - 16 vú, phổ biến là 14 vú Nếu số con sinh ra nhiều thì người ta thường để lại nhiều nhất là số con bằng số vú, nhưng tốt nhất là số con để lại ít hơn số vú Vì khả năng tiết sữa của lợn mẹ và số con để lại nuôi có mối tương quan chặt chẽ, khi số con để lại nuôi càng ít thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ càng lớn và ngược lại Tuy nhiên cũng không nên để nuôi quá ít vì hiệu quả kinh tế thấp
và không đánh giá hết tiềm năng sinh sản thực của nái
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng của ngành chăn nuôi lợn, từ
60 năm trước nước ta đã nhập giống lợn cao sản Landrace và Yorkshire, nhằm mục
đích cải tạo đàn lợn nội Đến nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng sinh
sản của các giống kể trên Kết quả nghiên cứu là tìm ra các biện pháp kỹ thuật tối
ưu nhất có thể đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thiện và cộng sự (1998)[12], khả năng sinh sản của lợn Landrace được thể hiện qua bảng sau