Phương pháp đơn giản để chiết xuất và tinh chế resveratrol từ polygonum cuspidatum
Trang 1Trường đại học Dược Hà Nội
Bộ môn Dược liệu
Báo cáo khoa học
Nhóm 2 tổ 3 lớp A4 – K68
Trang 2Dong-Geng Wang a , Wen-Ying Liu b , Guang-Tong Chen a , b ,✕
aMedical School, Nan Tong University, Nan Tong 226001, China
bDepartment of Pharmaceutical Analysis, China Pharmaceutical University, Nanjing 210009, China
Received 31 May 2012; accepted 5 December 2012
Available online 10 December 2012
Phương pháp đơn giản để chiết xuất và tinh chế Resveratrol từ Polygonum
cuspidatum.
Contents lists available at ScienceDirect
Journal of Pharmaceutical Analysis
www.elsevier.com/locate/jpa www.sciencedirect.com
Trang 31.Mục tiêu nghiên cứu: Tìm một phương pháp đơn giản để chiết xuất
và tinh chế Resveratrol từ Polygonum cuspidatum.
2,Tính cấp thiết của nghiên cứu:
I,Đặt vấn đề
Hình 1: trans- resveratrol (A), Trans- polydatin( B)
• Resveratrol là hợp chất không flavonoid polyphenol của công thức C14H12O3, hòa tan trong ether, chloroform, methanol, ethanol, acetone, acid acetic, ethyl ester và các dung môi hữu cơ khác
Trang 4• Nhiệt độ: nóng chảy 253-255 , thăng hoa là ℃
261 ℃
Trans – resveratrol có hoạt tính sinh học mạnh hơn, nhưng hàm lượng lại thấp hơn so với dạng muối glycoside của nó => Thủy phân Trans-
polydatin để tăng hàm lượng resveratrol.
Trang 5Các phương pháp truyền thống đã dùng:
Sử dụng nhiệt và một lượng lớn ethanol cho lọc, cô đặc và tinh chế.
Sử dụng phân tích polymer được đánh dấu có thời gian tương tác đặc hiệu với resveratrol để tinh chế.
Chiết xuất lỏng siêu tới hạn( SFE).
Thủy phân bằng emzym.
Chạy sắc kí ngược hiệu năng cao.
Nhược điểm:tốn dung môi, ô nhiễm môi trường, chi phí cao.
=> Xây dựng một phương pháp đơn giản hơn để chiết xuất và tinh chế resveratrol, cải thiện các nhược điểm trên cũng như nâng cao năng suất chiết Resveratrol từ cây
P cuspidatum
Trang 6II, Phương pháp tiến hành,
1,Quy trình chiết xuất Resveratrol từ P cuspidatum
Hình 2: Quy trình chiết xuất resveratrol
Trang 72, Chạy sắc kí bằng HPLC kết hợp với máy phân tích khối phổ
•Dịch resveratrol sau khi được chiết được tiến hành chấm và chạy sắc kí thu được các vết
•Sau đó được phân tích thông qua hệ thống phân tích khối phổ để xác định chính xác chất thu được là resveratrol.
Trang 8Sau khi resveratrol được xác định bằng hệ thống HPLC thì được nhúng trong dung môi base pH =8 -9 để loại
bỏ những tạp chất ảnh hưởng đến kết quả chiết xuất của Resveratrol như các acid mạnh, những hợp chất tan trong nước
Trang 9•Rửa kết thúc khi màu của pha nước thay đổi từ đỏ sang không màu.
• Nồng độ của resveratrol xác định bằng HPLC và được tính theo công thức 2
% resveratrol = (VoCo/ViCi).100% (2)
Với Vo, Co là thể tích và nồng độ của resveratrol sau khi chiết ở pha dung môi hữu cơ Vi, Ci là thể tích và nồng độ resvertrol trước khi chiết xuất bằng dung môi
Trang 10• Xét ảnh hưởng tỉ lệ thể tích dịch chiết:nước
Thủy phân
• So sánh sự thủy phân giữa H2SO4 và HCl
• Tìm ra điều kiện thủy phân phù hợp
Chiết lỏng – lỏng
• So sánh khả năng chiết của các dung môi khác nhau
• Tìm dung môi chiết phù hợp
Trang 111, Chiết xuất resveratrol từ cây P cuspidatum.
Cắn sau khi lọc Dung dịch nước sau khi lọc Dịch chiết sau thủy phân
Trang 12a, Vai trò của lọc
• Loại bỏ những hợp chất không phân cực hoặc ít phân cực như physion, chysophanol, emodin… và những mảnh vụn dược liệu khỏi dịch chiết ethanol 95% => tiến hành lọc và so sánh hai phương pháp lọc khác nhau
Trang 13• Ưu điểm: hầu hết tạp bị tủa lại
vì thế dễ bị loại bỏ khi lọc Khắc phục được nhược điểm của phương pháp 1.
Trang 14b, Hiệu quả của tỷ lệ dịch chiết : nước trong chiết xuất
Resveratrol
•Tỉ lệ dịch chiết: nước (khối lượng/thể tích, g/ml) là yếu
tố quan trọng trong chiết xuất resveratrol
Trang 15Hình 4: Ảnh hưởng của tỷ lệ dịch
chiết và nước trong chiết xuất resveratrol.
Trang 16•Resveratrol là 1 polyphenol, thủy phân từ polydatin cho hiệu quả chiết xuất tăng lên đáng kể.
=> Tiến hành thủy phân bằng dung dịch HCl 0,1 M để thu được resveratrol
•Tiến hành thủy phân bằng 2 điều kiện là:
• H2SO4 pH= 1,
• Nhược điểm: cả
resveratrol và polydatin
đều bị oxy hóa nên
không thu được
resveratrol
• HCl, pH= 1
• Cả resveratrol và
polydatin không bị oxy hóa mà xảy ra phản ứng thủy phân
Trang 17•Kết quả thực nghiệm: Sau 8h polydatin bị thủy phân hoàn toàn.
•Kết quả chạy sắc kí:
Hình 3D sắc kí đồ của dịch chiết khi thủy phân
Trang 184 Chiết xuất lỏng- lỏng.
a, Lựa chọn dung môi chiết.
• Sự có mặt của bất cứ thành phần nào một trong 2 pha đều chịu ảnh hưởng bởi Rf, To và tỉ lệ V giữa 2 pha => lựa chọn đóng vai trò vô cùng quan trọng
•Tiến hành thử các dung môi và kết quả thu hồi resveratrol thu được như bảng sau:
Trang 19
• Mỗi dung môi được tiến hành làm 3 lần và lấy kết
quả trung bình
• Dung môi methyl tert- butyl ether cho hiệu suất
chiết là cao nhất Vì vậy chúng tôi lựa chọn methyl tert- butyl ether làm dung môi chiết
Trang 20b, Sắc kí đồ sau khi chiết lỏng – lỏng:
Hình 5:Sắc kí đồ của mẫu sau khi chiết lỏng – lỏng.
Hình A: sắc kí đồ trong pha hữu cơ.
Hình B: Sắc kí đồ trong pha nước.
Trang 21•5 Tẩy rửa.
Hình 6 : Ảnh hưởng của pH đến hiệu
xuất chiết Resveratrol.
Trang 22Resveratrol là acid yếu: trong vùng pH nhất định nó sẽ tồn tại dạng phân tử không phân cực Khi rửa giải với dung dịch có:
pH<9 resveratrol vẫn còn trong pha hữu cơ.
pH >10 nó tồn tại dạng ion và được chuyển hoàn toàn sang pha nước.
Như vậy điều kiện được khảo sát để chiết xuất resveratrol là 8<pH<9
Trang 23b, Đánh giá kết quả tẩy rửa:
Hình 7: Sắc kí đồ của các chất sau khi tẩy rửa.
Hình A: sắc kí đồ trong pha nước.
Hình B: sắc kí đồ trong pha hữu cơ.
Trang 24- Sắc ký ngược dòng tốc độ cao và chiết xuất lỏng siêu tới hạn
và những phương pháp tiên tiến khác yêu cầu thiết bị đắt tiền.
Trang 25• Vì thế, trong phương pháp này chúng tôi sử dụng acid HCl và dung dịch base để tẩy rửa, không dùng thiết bị phức tạp và dung môi hữu cơ.
• Không cần cột đóng gói như nhựa macroporous hay gel silica
• Tốn ít dung môi hữu cơ
• Không cần các thiết bị đắt tiền
• Hàm lượng resveratrol tăng lên 4 lần bằng cách thủy phân dạng muối glycoside của nó
73,8%