1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.docx

83 848 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Góp Phần Hoàn Thiện Môi Trường Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam Trong Bối Cảnh Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 306,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trước Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986 Việt Nam là một nước có nềnkinh tế chậm phát triển, trì trệ, lạc hậu, và kém xa các nước khác trên thế giới.Sau Đại hội Đảng 1986 thực hiện phương châm, chính sách của Đảng đa dạnghoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế, mở cửa nền kinh tếđể thu hút vốnĐầu tư nước ngoài Do vậy đến nay nền kinh tế của Việt Nam đã có nhữngbước chuyển biến rõ rệt vàđang trên đà phát triển thành một nước côngnghiệp hoá, hiện đại hoá theo con đường xã hội chủ nghĩa Qua đó ta cũngthấy được tầm quan trọng của Đầu tư nước ngoài là như thế nào đối với nềnkinh tế của một đất nước Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã qua nhiềulần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với xu thế chung Theo hướng ngày cànghoàn thiện hơn, thông thoáng hơn

Hơn 15 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài, hoạt động đầu tư nướcngoài đãđạt được những hiệu quả cao những thành tựu quan trọng góp phầntích cực vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội màĐảng và Nhà nướcđãđặt ra, đưa đất nước Việt Nam phát triển bền vững trở thành một nước côngnghiệp hoá - hiện đại hoá trong những thập kỷ tới Tuy nhiên đểđạt đượcnhững mục tiêu đặt ra như vậy không phải là dễ, bởi Luật Đầu tư nước ngoàitại Việt Nam qua quá trình thực hiện vẫn còn những hạn chế, những thiếu xótchưa kịp sửa đổi bổ sung, cơ sở hạ tầng - kinh tế kỹ thuật còn nhiều khó khăn

so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới như: Trung Quốc, TháiLan, Inđônêxia, Mỹ, Pháp, Anh Môi trường đầu tưở Việt Nam chưa đượchoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhàđầu tư nhất là các vấn đề

về thủ tục pháp lý Môi trường đầu tư còn những hạn chế như vậy làm sao cóthể thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng nhiều như mongmuốn? Làm sao có thể phát triển nền kinh tế ? Trong khi đóở các nước kháctrong khu vực và trên thế giới nhất là Trung Quốc vàĐài Loan ngày càng cảithiện môi trường đầu tư cho thông thoáng hơn, thủ tục đầu tưít rườm rà hơn,

cơ sở hạ tầng phát triển hơn

Trang 2

Trong mấy năm qua mặc dù số dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Namngày càng tăng nhưng số lượng không đáng kể, số dựán giải thể trước thờihạn ngày càng tăng, đến hết năm 2003 có trên một nghìn dựán giải thể trướcthời hạn với vốn đăng ký khoảng 12,3 tỷ USD chiếm gần 18,6% số dựán và23% tổng vốn đăng ký của tất cả các dựán được cấp phép Tại sao số dựángiải thể trước thời hạn lại tăng như vậy? Chúng ta cần phải xem xét lại cácyếu tố của môi trường đầu tưở Việt Nam về những mặt tích cực và hạn chế,

hệ thống chính sách pháp luật ở Việt Nam những vấn đề cần sửa đổi bổ sung.Chúng ta có lợi thế là mặt chính trịổn định hơn so với các nước khác trongkhu vực và trên thế giới chúng ta nên phát triển lợi thế này cùng với các yếu

tố kinh tế và pháp luật của môi trường kinh doanh để nền kinh tế Việt Namngày càng phát triển hơn

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu những quy định của phápluật vềđầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nghiên cứu về những chính sách củaNhà nước về tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

- Mục tiêu của đề tài: Nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về hoàn thiệnmôi trường đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; đưa ramột số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp truyền thống nhưphương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, phương pháp tổng hợp,phương pháp phân tích

Qua đó ta thấy việc hoàn thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại ViệtNam cho phù hợp với các yêu cầu của các nhàđầu tư nước ngoài, các tổ chứckinh tế quốc tế là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tếcủa đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Xuất phát từ những yêu cầu trên mà tôi chọn đề tài: "Một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế"

Trang 3

Về bố cục Luận văn bao gồm :

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Lời nói đầu

Chương 1: Một số vấn đề chung về Môi trường Đầu tư nước ngoài tại Việt nam.

Chương 2: Một số vấn đề pháp lý về hoàn thiện Môi trường Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Kinh tế quốc tế.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện Môi trường Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Kinh tế quốc tế.

Kết Luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 4

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU

TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Một số quan niệm về đầu tư nước ngoài

Ngày nay Đầu tư nước ngoài đã trở thành một chìa khoá vàng để mởcửa nền kinh tế Mặc dùĐầu tư nước ngoài (ĐTNN) được nghiên cứu và giảithích ở nhiều giác độ khác nhau nhưng có một điểm chung được nhiều nhànghiên cứu thừa nhận đầu tư nước ngoài là một trong những giải pháp quantrọng để có thể thúc đẩy và phát triển kinh tế của đất nước mình Tuy nhiêntrong thực tế cũng có một số nước vì những lý do khác nhau đã tìm mọi cáchhạn chế việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước mình và tăng cường bảohộđầu tư trong nước

Do vậy trên thế giới đã có những quan điểm khác nhau liên quan đếnlĩnh vực đầu tư nước ngoài

Quan điểm của các nước đang phát triển: Xuất phát từ chính sách bảo

hộ mậu dịch,bảo hộ sản xuất trong nước nên các nước này đang e ngại, lo sợ,hoài nghi về việc tư tưởng nước ngoài xâm nhập vào đất nước mình, nên tìmmọi cách để che chắn dòng đầu tư, ngăn cản dòng đầu tư từ nước ngoài vàonước mình Song song với việc ngăn cản dòng đầu tư nước ngoài vào nướcmình các nước này cũng tìm mọi cách che chắn bảo hộđầu tư trong nướctrước sự tấn công của đầu tư nước ngoài, tạo ra những rào cản chặt chẽđốivới việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài

việc thành lập các vốn cơ bản cóở nước ngoài Còn trong Từđiển báchkhoa về kinh tế chính trị thìđầu tư nước ngoài là các chi phí cơ bản về phươngtiện, vật chất, lao động, tiền tệ nhằm tái sản xuất vốn cơ bản ở nước ngoài.Trong Hiệp định mẫu về khuyến khích và bảo hộđầu tư Liên Xô còn quanniệm đầu tư nước ngoài là tất cả các loại giá trị vật chất mà nhàđầu tưcủa

Trang 5

nước này đưa đến nhàđầu tư nước khác theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu

tư nước ngoài

Quan điểm của các nước công nghiệp phát triển: Đầu tư nước ngoài đốivới họđã quá quen thuộc, nó không những có lợi cho nước đầu tư mà còn lợicho cả nước tiếp nhận đầu tư Do vậy quan niệm vềđầu tư nước ngoài đúngđắn là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Đầu tưnước ngoài có thểđem lại phúc lợi cho mọi người, có thể hỗ trợ cho các nướckhác phát triển, việc tiếp nhận đầu tư có thể làm cho các nước xích lại gầnnhau hơn Các nước phát triển thấu hiểu được vai trò của đầu tư nước ngoàinên họ tìm mọi cách đểđầu tư thông suốt vàđầu tư nước ngoài tự do hơn Cácnước này quan niệm đầu tư nước ngoài là tư bản của nhàđầu tư nước này ởnước khác được đưa vào theo những điều kiện nhất định nhằm những mụcđích nhất định (Anh, Mỹ )

Theo quan niệm của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)thìđầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) vàđầu tư gián tiếp(ODA) Các nguồn đầu tư cho nước ngoài có tài trợ phát triển chính thức gồmviện trợ phát triển chính thức và các hình thức khác như tín dụng xuất khẩu,tài trợ tư nhân vay từ ngân hàng quốc tế, vay tín phiếu, đầu tư trực tiếp cácnguồn tài trợ tư nhân khác Như vậy theo quan niệm của tổ chức này thì FDI

là một trong những nguồn tài trợ tư nhân, quan niệm này chưa đầy đủ vì chủthể của FDI không phải duy nhất chỉ có tư nhân mà còn có nhà nưóc và các tổchức quốc tế khác Đầu tư trực tiếp nước ngoài là người nước ngoài trực tiếp

bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lýđiều hành và có thể quyết định toàn bộ hoạtđộng hoặc có thể tham gia quyết định

Trong lịch sử thế giới đầu tư nước ngoài đã tồn tại từ lâu nay, từ thờitiền tư bản, các công ty của Anh, Mỹ, Hà Lan, Tây Ban Nha, BồĐào Nha lànhững công ty đi đầu trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài dưới hình thức đầu tưvốn vào các nước Châu Áđể khai thác đồn điền nhằm cung cấp nguyên liệu

Trang 6

cho nghành công nghiệp của chính quốc, cùng với khai thác đồn điền là khaithác khoáng sản nhằm mục tiêu thu lợi nhuận để kinh tế phát triển

Do quan niệm của các nước khác nhau như vậy nên rất khó khăn chovấn đềđầu tư nước ngoài Muốn đầu tư thuận lợi, các nước phải kí kết vớinhau các hiệp định quốc tế song phương cũng nhưđa phương về vấn đềđầu tư,cuộc đấu tranh để xây dựng các văn bản pháp lý quốc tế nhiều bên vềđầu tưcho đến nay vẫn còn nhiều khó khăn do quan điểm khác nhau, hệ thống cáchiệp định hiện hành của WTO còn chưa có một hiệp định chung vềđầu tư chonên vấn đềđầu tư nước ngoài được giải quyết trong các hiệp định khác nhaucủa WTO như hiệp định Trims, hiệp định Trips, hiệp định Gatts Sau vòngđàm phán DoHa tổ chức thưong mại thế giới đang phấn đấu để xây dựng mộthiệp định chung nhiều bên vềđầu tư hi vọng rằng sẽ kết thúc đàm phán trongnăm tới (2005)

1.1.2 Định nghĩa về đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật

về đầu tư tại Việt nam

Theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000(khoản 1 Điều 2) đầu tư nước ngoài được hiểu làđầu tư trực tiếp nước ngoàitức là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài, nhàđầu tư nước ngoài trực tiếpđầu tư vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào được chínhphủ Việt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặcthành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chỉđiều chỉnh những quan hệđầu tư trựctiếp từ nước ngoài vào Việt Nam, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam khôngđiều chỉnh các quan hệđầu tư gián tiếp như tín dụng quốc tế, viện trợ quốc tế

và các quan hệđầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài

Theo quy định của các hiệp định song phương vàđa phương về khuyếnkhích và bảo hộđầu tư, đầu tư nước ngoài được hiểu là tất cả những giá trị vậtchất mà nhàđầu tưđưa vào từ nước ký kết này sang nước ký kết hữu quan theopháp luật nước sử dụng đầu tư Các giá trị vật chất đó có thể làđộng sản, bất

Trang 7

động sản,tiền tệ và các cổ phiếu các hình thức tham gia cổ phần khác, cácquyền của nguyên đơn đối với các tài sản được góp để tạo ra các giá trị kinh

tế hoặc quyền được kiện đối với các dịch vụ có giá trị kinh tế, quyền tác giả,quyền đối với các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thương phẩm,know-how, các giá trị vật chất khác được pháp luật nước nhận đầu tư côngnhận (biên bản kỳ họp thứ 3 của ban thường trực pháp lý thuộc ban thư kýSEV trang 19-20)

Đầu tư gián tiếp nước ngoài chủ yếu do các quốc gia và các tổ chứcliên chính phủ tiến hành, đầu tư gián tiếp không gắn với hoạt động kinh doanhsản xuất của nhàđầu tư mà nóđược thể hiện dưới hình thức cho vay với lãisuất ưu đãi hoặc viện trợ, do đó nó không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuậntrực tiếp và trước mắt nào từ vốn đầu tư Khác với đầu tư gián tiếp, Luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam điều chỉnh quan hệđầu tư trực tiếp, các nhàđầu tưtrực tiếp đưa vốn vào để kinh doanh và trực tiếp tham gia vào quản lý và sửdụng vốn của mình, đầu tư trực tiếp chịu ảnh hưởng của những quy luật thịtrường, tìm kiếm lợi nhuận trực tiếp bằng vốn đầu tư của mình Trong đầu tưtrực tiếp người nào có vốn có thể bỏ vốn để làm tăng thêm năng lực sản xuấthoặc tạo ra những năng lực sản xuất mới, song cũng có thể mua lại một số cổphần để thu hút được lợi tức cổ phần Trong đầu tư trực tiếp người có vốn bỏ

ra có thể là người trong nước mà cũng có thể là người nước ngoài nếu đượcluật pháp của nước nhận đầu tư cho phép, nó không chỉ dựa vào nguồn vốncủa nước tiếp nhận mà cùng với vốn có thể có cả kĩ thuật công nghệ, bí quyết

kĩ thuật, sản xuất kinh doanh, năng lực Marketing của chủđầu tư khi đầu tưvốn làđã tiến hành sản xuất kinh doanh và sản phẩm làm ra phải được tiêuthụở thị trường nước chủ nhà hoặc thị trường lân cận Đầu tư trực tiếp nướcngoài tồn tại dưới nhiều hình thức song những hình thức cơ bản là chủđầu tư

bỏ vốn thành lập xí nghiệp 100% vốn của mình, mua lại toàn bộ hoặc mộtphần xí nghiệp của nước chủ nhà, cùng góp vốn với nước chủ nhà, bỏ vốn xâydựng công trình vận hành sau đó chuyển giao cho nước chủ nhà theo hợp

Trang 8

đồng thoả thuận giữa hai bên nhưng hình thức liên doanh là hình thức được

ưa chuộng nhất từ trưóc đến nay

Trang 9

1.2 CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN HÌNH THÀNH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Môi trường là một khái niệm có nội hàm rộng vàđược sử dụng trongnhiều lĩnh vực khác nhau Theo định nghĩa thông thường môi trường là toàn

bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay mộtsinh vật tồn tại phát triển trong mối quan hệ với con ngưòi hay sinh vật ấyhay môi trường là sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoàicóảnh hưởng tới sự tồn tại phát triển của một thực thể hữu cơ Khái niệm môitrường thường đi kèm với một khái niệm khác sau nó, môi trường đầu tư làmột trong những ví dụ Môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố chính trị,kinh tế, pháp luật các yếu tố này có liên quan mật thiết với nhau và tác độngđến hoạt động của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại một nước, các yếu tốnày cấu thành môi trường đầu tư Môi trường đầu tư thuận lợi sẽ tạo điều kiệntốt cho cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động đầu tư tại nước đó, môi trườngđầu tư thuận lợi là một môi trường đầu tư trong đó bản thân từng yếu tố cấuthành nên môi trường đầu tư phải thật hoàn chỉnh, thuận lợi và sự vận hànhgiữa các yếu tố này phải ăn khớp với nhau để có thể tạo thành một chỉnh thểthống nhất, một chỉnh thể hoàn hảo, hấp dẫn, thu hút, lôi cuốn các nhàđầu tư.Các yếu tố cấu thành phải có tính đồng bộ, nhất quán với nhau, hỗ trợ nhau để

có thể tạo thành một môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhàđầu tư Sau đâysẽđi sâu phân tích một số yếu tố cơ bản của môi trường đầu tư :

1.2.1 Sựổn định về chính trị

Đây là yêu cầu đầu tiên quan trọng nhất quyết định đến việc thu hútvốn ĐTNN Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tài nguyên phong phú, hạ tầng cơ

sở phát triển, nhân lực dồi dào và nhiều điều kiện thuận lợi khác cho nhàđầu

tư mà chính trị không ổn định thì không thể nào tạo ra được sự chuyển dịchtích cực của các nguồn vốn ĐTNN Khi tình hình chính trị không ổn định nhất

là thể chế chính trị không ổn định đi liền với nó là pháp luật thay đổi dẫn đếnnhững mục tiêu đặt ra cũng sẽ thay đổi cả phương thức thực hiện đểđạt đượcmục tiêu đó Những cái mà ngày hôm qua đã xây dựng được dưới chế độ

Trang 10

chính trị cũ đã có thể trở thành lạc hậu thậm chí phải phá bỏ Như thế sẽ thiệthại về lợi ích trong đó nhà ĐTNN phải gánh chịu một phần vậy rõ ràng khôngđáp ứng được mục tiêu lợi nhuận của nhà ĐTNN Chưa kể đến những trườnghợp còn, mất hoặc thất thoát vốn đầu tư nếu như chính quyền mới thực hiệnquốc hữu hoá Sự mất ổn định thường biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau

đi liền với nó là những hậu quả phát sinh khác làm thiệt hại đến lợi ích củanhàđầu tư Chẳng hạn một số nước trong khu vực như: Inđônêxia, Philippinthường xuyên có xung đột vũ trang, bắt cóc, khủng bố khiến các nhàđầu tư longại hoặc CHLB Nga và một số nước SNG thường xuyên có khủng bố và bất

ổn về chính trị khiến các nhà đầu tư không dám đầu tư mạnh vì lo ngại cónhiều rủi ro …

Tiêu chí của sựổn định chính trị mà các nhà đầu tư quan tâm là sự ổnđịnh về đường lối, về tổ chức và nhân sự của cơ quan Nhà nước từ TW đếnđịa phương, mức độ tranh giành quyền lực giữa các phe phái chính trị, sự hoạtđộng của các đảng phái Nếu các điều kiện khác của môi trường đầu tư khôngđổi chính trị càng ổn định thìđộ tin cậy càng cao, càng hấp dẫn các nhà đầu

tư Trong điều kiện cạnh tranh diễn ra gay gắt trên thị trường đầu tư sự ổnđịnh chính trị có thể được xem là một lợi thế so sánh cần phát huy Đối vớiViệt Nam từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới sự ổn định chính trị luôn đượcđảm bảo Tuy nhiên đứng trước nguy cơ diễn biến hoà bình và sự phá hoạicủa thế lực phản động trong nước cũng như quốc tế chúng ta phải luôn cảnhgiác đồng thời tiếp tục duy trì và tăng cường sự ổn định hơn nữa Để giữ vững

và tăng cường sựổn định chính trị cần phải tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh

mẽ hơn nữa về kinh tế, văn hoá, giáo dục, tư tưởng, y tế…đặc biệt là đổi mới

hệ thống chính trị, thực hiện cải cách hành chính quốc gia Yếu tố quyết định

sự thành công đó là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường vai trò nhànước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh, kịp thời ngăn chặn mọi âm mưu của thếlực phản động, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia, từng

Trang 11

bước đi lên chủ nghĩa xã hội Chính sách ngoại giao mềm dẻo, đảm bảonguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, đa dạng hoá, đa phương hoá trongquan hệ quốc tế với khẩu hiệu Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nướctrên thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển Đây là xu thế lớn phản ánh đòihỏi của các quốc gia dân tộc trên thế giới Việt Nam đặt ra chính sách đốingoại nhằm phục vụ đường lối phát triển kinh tế của đất nước mình đồng thời

mở rộng hợp tác quốc tế, khai thác nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sựnghiệp của đất nước, nhiều nước đang cố gắng giữ ổn định chính trị, tạo môitrường hoà bình, thực hiện chính sách hoà giải, hoà hợp dân tộc nhằm xâydựng một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, bình đẳng, hợp lý Mở rộng quanhệđối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trongcộng đồng quốc tế Phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, mở rộng quan

hệ nhiều mặt song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, cáctrung tâm chính trị kinh tế quốc tế lớn Chính việc mở rộng quan hệ ngoạigiao là tiền đề cho việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trong đó có việc thuhút ĐTNN Sự ổn định chính trị có mối quan hệ nhân qủa với sựổn định và antoàn xã hội nó là nhân tố tác động trực tiếp đến lợi ích của nhà đầu tư, xã hội

ổn định, trật tự, có kỷ cương pháp luật là điều kiện tối cần thiết cho các nhàđầu tư Sự ổn định này có quan hệ với hàng loạt các nhân tố chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội đến pháp luật Những năm vừa qua Việt Nam đã giữ đượcsựổn định chính trị mà dư luận thế giới đánh giá rất cao, quan hệ ngoại giaođược mở rộng và Việt Nam càng ngày càng thu hút được nhiều ĐTNN tạođiều kiện cho sự phát triển kinh tế đất nước

1.2.2 Sự phát triển kinh tế – kỹ thuật

Cùng với yếu tốổn định chính trị, yếu tố phát triển kinh tế–kỹ thuậtcũng đóng vai trò quan trọng trong môi trường đầu tư nước ngoài tại ViệtNam Sự yếu kém của nền kinh tế Việt Nam là nguồn gốc dẫn đến những hậuquả bất lợi về chính trị, xã hội, quân sự và các quan hệ quốc tế Do vậy từ Đạihội VI Đảng và nhà nước ta quyết tâm đưa đất nước sớm thoát khỏi cảnh

Trang 12

nghèo nàn lạc hậu, đặt nhiệm vụ phát triển kinh tếở vị tríưu tiên hàng đầu củachiến lược Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp Việt Nam sẽ ngày càng phát triển và không ngừng cảithiện về kinh tế.

Cải thiện nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan, là một thách thức lớnđối với Việt Nam, rõ ràng nước ta không thể cải thiện môi trường đầu tư khinền kinh tế thiếu thốn, chắp vá, không thể cạnh tranh trên trường quốc tế.Nước ta là nước có vị trí địa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi, giàu tàinguyên thiên nhiên, giàu tiềm năng, dân số gần 80 triệu người, nền văn hoáphong phú đậm đà bản sắc riêng xuyên suốt bề dày lịch sử hàng nghìn năm đãhun đúc nên những con người cần cù, ham học và sáng tạo Tuy Việt Nam tàinguyên thiên nhiên phong phú, tiềm năng dồi dào nhưng điều kiện kinh tế–kỹthuật của đất nước chưa đủ sức để có thể khai thác tốt, có hiệu quả cao tàinguyên thiên nhiên đó Ngày nay giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giớiđang diễn ra một cuộc chạy đua quyết liệt nhằm cải thiện môi trường đầu tư

để hấp dẫn được nguồn vốn đầu tư nước ngoài của các nước khác trên thếgiới Việt Nam đã và đang cố gắng khẳng định mình trong cuộc chạy đua này,một đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá (CNH-HĐH) chắc chắn sẽ là một điểm đến đầy tiềm năng cho những ai biết sử dụng

và phát triển nó

Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm cạnh tranh,kiến thức thị trường, khoa học công nghệ của nước ngoài để tạo cho mình mộtnền kinh tế vững chắc Hơn nữa chúng ta cũng cần thu hút vốn đầu tư trongnước, nhà nước ta cần chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng để tạo cho mình mộtnền kinh tế khá vững vàng có như thế mới có thể thu hút được vốn ĐTNN.Nếu chỉ chú trọng thu hút vốn ĐTNN mà không chú trọng phát triển kinh tếtrong nước thì đất nước sẽ không phát triển được bởi ĐTNN chỉ là một bộphận của nền kinh tế nhưng nó không phải là hình ảnh thu nhỏ của nền kinh tế

Trang 13

quốc dân Do vậy Việt Nam cần phải có những chính sách phát triển kinh tế–

kỹ thuật thích đáng để thu hút vốn ĐTNN

Thu hút ĐTNN thuộc lĩnh vực quan hệ kinh tế đối ngoại vì vậy chỉ cóthể thu hút được đối tác bên ngoài nếu như quốc gia có chủ trương mở rộngquan hệ, nói cách khác là thực hiện chiến lược kinh tế mở Có thể nói đó làđiều kiện tiên quyết, tuy nhiên trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tếquốc tế như hiện nay sẽ không thể có một nước nào lại tự mình đóng cửakhông quan hệ với bên ngoài Song tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, mởrộng phương thức mở cửa khác nhau mà mức độ hiệu quả khác nhau Năm

1987 Ngân hàng thế giới đã điều tra 41 quốc gia đang phát triển và đã rút ranhận xét là tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với mức độ mở cửa nền kinh

tế và tốc độ tăng trưởng đó tác động qua lại rất chặt chẽ với việc thu hút vốnĐTNN Kinh nghiệm của các nước ASEAN thập kỷ 60 và các nước xã hộichủ nghĩa trước đây cũng đã khẳng định điều đó Ở Việt Nam nếu so sánhthời kỳ trước 1987 đến bây giờ cũng thấy phù hợp với nhận xét đó Do vậyViệt Nam cần mở cửa bên ngoài đồng thời tăng cường mở cửa bên trong, giữa

mở cửa bên ngoài và mở cửa bên trong có mối quan hệ mật thiết lẫn nhau,càng mở cửa bên trong càng thu hút được nhiều ĐTNN, điều này liên quanđến vấn đề về nhu cầu thị trường, lao động, thông tin trong và ngoài ngoàinước (thông tin kinh tế, thị trường, văn hoá, xã hội, khoa học công nghệ ) đặcbiệt là phát triển liên lạc viễn thông quốc tế

Để thu hút ĐTNN từ năm 1987 Việt Nam đã xây dựng và duy trì sự ổnđịnh các hoạt động về tài chính, ngân hàng, không có những đợt biến động vềgiá cả, tỷ giá hối đoái… Điều đó làm yên lòng các nhà đầu tư và chứng tỏ môitrường kinh doanh của Việt Nam đã có nhiều cải thiện

Một trong những điều kiện mang tính chất tiên quyết hấp dẫn cácnhàđầu tưđó là sự phát triển của cơ sở hạ tầng Kĩ thuật càng cao càng đòi hỏimột kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh và hiện đại như đường giao thông,đường sắt, đường bộ, hàng không, đường biển đồng bộ, thông tin liên lạc

Trang 14

thuận lợi, kịp thời Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường, khi các nguồn vốnđều vận động thông qua thị trường, sự biến động nhanh chóng của thị trườnghàng hoá tiền tệ, tài chính, kĩ thuật tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ,buộc các chủđầu tư phải ứng phó kịp thời, điều đó đòi hỏi phải có một cơ sở

hạ tầng vật chất kĩ thuật hiện đại, để không một nhà đầu tư nào phải gánh chịunhững thiệt hại và những chi phí trực tiếp do cơ sở hạ tầng yếu kém gây ra.Những khoản thuế mà họ nộp cho nhà nước nhận đầu tư đã bao hàm cả nhữngchi phí về hạ tầng vật chất kĩ thuật đó Do đó tư bản nước ngoài chỉ nhảy đếnnơi có môi trường đầu tư thuận lợi mà sự thuận lợi trước hết là nơi có cơ sở

hạ tầng vật chất hoàn chỉnh hiện đại Thường thì các quốc gia đang phát triểnkhông có một hệ thống hạ tầng vật chất đầy đủ, đồng bộ như đường giaothông, bến cảng sân bay, thông tin liên lạc phục vụ đủ mức ngay từ đầu,những yếu tố này chỉ hình thành từng bước, có trọng điểm và cùng với sựphát triển kinh tế ngày càng được hoàn thiện hơn Vì đầu tư vào xây dựng mộtkết cấu hạ tầng vật chất hiện đại, đồng bộ đòi hỏi những khoản vốn, kỹ thuật

vô cùng to lớn, vốn lại luân chuyển chậm nên lợi nhuận không cao nếu tư bản

tư nhân không chịu bỏ vốn vào khu vực này đòi hỏi chính phủ nước nhận đầu

tư phải gánh vác Bước vào thực hiện chiến lược kinh tế mở, cơ sở hạ tầngViệt Nam còn yếu kém và chưa đầy đủ, chưa phù hợp với các yêu cầu hoạtđộng chuyển giao kỹ thuật, công nghệ hiện đại Song sau hơn 15 năm khôiphục và xây dựng từ đống đổ nát của chiến tranh việt Nam bước đầu đã cónhững hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, đặc biệt các cảng biển,cảng hàng không được xây dựng duy trì và củng cố từ chiến tranh cùng với hệthống những xí nghiệp quốc doanh là cơ sở vật chất không kém phần hấp dẫnđối với các nhà đầu tư nước ngoài Hạ tầng cơ sở phải được cải thiện và cóđầu tư thích đáng để tạo niềm tin và sự an tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cácnhàđầu tư khi họ đầu tư vào Việt Nam như hệ thống điện, nước, bưu chínhviễn thông, giáo dục, y tế, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng tất cả đềuphải được quan tâm và đầu tư một cách triệt để để nâng cấp, làm mới, ngày

Trang 15

càng cải thiện cho phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cơ sở hạtầng yếu kém là trở ngại rất lớn đối với các nhàđầu tư Nó làđòn bẩy thúc đẩynền kinh tế, làđiều kiện quyết định đến chi phí sản xuất, tiến độđầu tư, chấtlượng sản phẩm và lợi nhuận của nhàđầu tư Vấn đề tổ chức giao thông vàchấp hành luật lệ giao thông ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố HồChí Minh đang là một vấn đề nan giải, gây nhiều bức xúc cho xã hội, cho nêngiao thông cần được đặc biệt quan tâm và không ngừng cải thiện đểđảm bảokhông chỉ vì lợi ích kinh tế mà còn giữ vững trật tự an toàn xã hội Từ năm

2000 trở lại đây Việt nam đã có nhiều giải pháp khắc phục yếu kém về giaothông như khôi phục giao thông công cộng bằng các biện pháp trợ giá xebuýt, trang bị cơ sở hạ tầng giao thông đô thị nhưđèn tín hiệu giao thông, biểnbáo giao thông, hạn chế xe máy tham gia giao thông, nâng lệ phíđăng kí xemáy, ô tô, quy định mỗi người chỉđược đăng kí một xe Tăng cường giáo dụcmọi người tuân thủ luật lệ giao thông, trong vận tải hàng hoá cần hạn chế thờigian xe tải cỡ lớn ra vào nội đô thị, cần xây dựng các cảng, điểm tập kết hànghoáở xung quanh thành phố Được sự giúp đỡ của Đức, Việt Nam đangnghiên cứu xây dựng hệ thống tàu điện ngầm, xây dựng và phát triển cơ sở hạtầng của tỉnh, nguồn điện cần phải ổn định để phát triển sản xuất kinh doanh,giáđiện, giá nước phải rẻđể giảm chi phíđầu vào cho các nhàđầu tư, giá bưuchính viễn thông quá cao cần hạ xuống ngang bằng với các nước trong khuvực, hoàn thành đường dây 500 KV Bắc - Nam, triển khai các dựán nâng cấp,sửa chữa, mở rộng các tuyến đường quan trọng, thêm vào đó Ngân hàng thếgiới đã chấp nhận cho Việt Nam vay với lãi suất ưu đãi trong đó các khoảnvay để thực hiện dựán nâng cấp hệ thống thanh toán hiện đại cho ngân hàngNhà nước Việt Nam Qua đó ta thấy yếu tố kinh tếảnh hưởng lớn đến môitrường đầu tư Sự phát triển kinh tế kĩ thuật làđiều kiện để có một môi trườngđầu tư vững chắc, an toàn và hấp dẫn

1.2.3 Sự phát triển của hệ thống pháp luật vềĐầu tư

Trang 16

Cũng như yếu tố kinh tế, chính trị, yếu tố pháp luật cũng có vai tròquan trọng không kém đối với môi trường đầu tư Môi trường đầu tư có hấpdẫn hay không? Có hoàn thiện hay không? Là phụ thuộc không nhỏ vào cácquy định của pháp luật vềđầu tư Tính hấp dẫn của một quốc gia về lĩnh vựcđầu tư trước hết phải được thể hiện ở Luật Đối với mọi quốc gia, Luật đầu tưnước ngoài là một bằng chứng cụ thể của sự mở cửa và là cái mà các nhàđầutưđều quan tâm.

Cùng với luật là các văn bản dưới luật trong hệ thống pháp luật làkhông kém phần quan trọng, nghiên cứu các văn bản pháp lý liên quan đếnđầu tư nước ngoài chúng ta thấy các văn bản ban hành sau đó bao giờ cũngthoáng hơn các văn bản trước thể hiện đúng chủ trương của Nhà nước ViệtNam là tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho các nhàđầu tưđủ sức cạnhtranh với các nước xung quanh Các nhàđầu tư khi thực hiện đầu tư vào mộtnước sẽ phải đụng chạm rất nhiều vấn đề về luật pháp Tuy nhiên cái mà họquan tâm nhất đó là các vấn đề về quyền kinh doanh, các biện pháp ưu đãi vàbảo đảm đầu tư, các thủ tục cấp phép đầu tư và các phương thức giải quyếttranh chấp vềđầu tư Đối với nước ta kể từ khi có Luật đầu tư nước ngoàinăm 1987 được công bố các cơ quan quản lý thường theo dõi tình hình thực

tế, kịp thời kiến nghị những sửa đổi bổ sung, đặc biệt đãđược Quốc hội sửađổi bổ sung nhiều lần cho phù hợp với cơ chế thị trường và quá trình hội nhậpnền kinh tế quốc tế, sửa đổi lần một năm 1990 sau đó sửa đổi năm 1992, 1996

và sửa đổi gần đây nhất năm 2000 Vì thế cho nên về cơ bản Luật đầu tư nướcngoài tại Việt Nam đã phù hợp với nền kinh tế mở, phù hợp với tình hìnhtrong nước và trên thế giới, vừa đảm bảo lợi ích kinh tế xã hội của Việt Nam,vừa tăng tính hấp dẫn với các nhàđầu tư nước ngoài Tuy nhiên vẫn còn nhiềuvấn đề cần được tiếp tục sửa đổi bổ sung như hệ thống pháp luật của nước tachưa đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh doanh của các nhàđầu tư nên gây nhiềukhó khăn cho họ Nhưđối tượng được hưởng ưu đãi thì Luật đầu tư nướcngoài năm 1987 quy định chỉ dành một sốưu đãi cho một số dựán liên doanh,

Trang 17

không ưu đãi cho xí nghiệp 100% vốn nước ngoài Thực tế xí nghiệp 100%vốn nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn như không có sự hỗ trợ của đối tácViệt Nam, chịu rủi ro một mình, trong khi nhiều dựán này cũng thuộc diện ưutiên của Việt Nam Vì vậy cho nên pháp luật cần có những biện pháp bảo đảm

và khuyến khích đầu tư nhiều hơn cho các nhàđầu tư, pháp luật cũng cần phảiđược sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện nâng cao tính hấp dẫn Hệ thống pháp luậtchưa đồng bộ chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh doanh gây khó khăn chonhàđầu tư dẫn đến khó khăn trong vấn đềđầu tư Dù luật đầu tư có mềm dẻothông thoáng nhưng thủ tục đầu tư rườm rà phức tạp tạo ra những khe hở choquan chức địa phương sách nhiễu gây phiền hà, tham ô, hối lộ, gây thiệt hạiđến lợi ích nhàđầu tư làm họ nản lòng Thủ tục đầu tư là một vấn đề nổi cộmđang được chúng ta cải tiến từng bước Đểđảm bảo tính hấp dẫn cần kiênquyết thực hiện '' một cửa '' và quy định chặt chẽ thời gian tối đa để giải quyếtthủ tục, kiên quyết xử lý và xử lý nghiêm những trường hợp gây phiền hà, ănhối lộ Chẳng hạn việc thẩm định thiết kế do Bộ Xây Dựng đề ra gồm 4 nộidung: Tư cách pháp nhân; kiến trúc; an toàn xây dựng; giải pháp xây dựng vàphòng chống cháy nổ như hiện nay là quá phiền hà Trong vấn đề này có lẽchỉ nên kiểm tra tư cách pháp nhân của nhà thiết kế và kiến trúc phải hợp quyhoạch cảnh quan, còn các nội dung khác chỉ cần ban hành tiêu chuẩn, quyphạm xây dựng để nhàđầu tư thực hiện và chịu trách nhiệm làđủ Hướng sắptới cần nhanh chóng thực hiện tối ưu hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn tối

đa thời gian mà các nhàđầu tư phải chi phí cho các công việc thủ tục Kinhnghiệm quốc tế trong những năm qua cũng đã cho ta bài học kinh nghiệmmặc dùđộ thông thoáng như nhau tạo ra tính hấp dẫn do luật đầu tư mang lạicao như nhau nhưng ở nước nào có thủ tục đầu tưđơn giản gọn nhẹ thìởđó thu

Chẳng hạn trong số các nước ở khu vực ASEAN như Thái Lan là nướcthực hiện đơn giản hoá thủ tục đầu tư khá mạnh, cơ quan hợp tác đầu tư làcửa duy nhất tiếp nhận hồ sơ và giải quyết công việc tiếp theo đồng thời thay

Trang 18

mặt nhàđầu tư liên hệ với cơ quan hữu quan rồi trả lời nhàđầu tư, tạo điềukiện thuận lợi cho nhàđầu tư nhanh chóng trong thủ tục hành chính khi đầu tưvào nước mình Do vậy mà Thái Lan thu hút được nhiều vốn đầu tư nhấttrong khu vực Trái lại thủ tục ở Philippin quá rườm rà cóđến 45 cơ quan liênquan đến việc thực hiện dựán Riêng việc xét duyệt cho phép đầu tư cũng đã

có 4 cơ quan có thẩm quyền xét duyệt gây cản trởđối với việc thu hút đầu tư.Đối với nước ta thủ tục đầu tư là vấn đề trở ngại việc thu hút đầu tư chẳng hạnthời gian chuẩn bị dựán kéo dài thường 6 tháng đến 1 năm hoặc dài hơn, cơquan này cũng có quyền buộc nhàđầu tư trình dựán để họ xem xét góp ý mặc

dù nhiều khi không đủ trình độ, thêm vào đó việc chuẩn bị dựán của bên ViệtNam thường sơ suất, khi đàm phán phải sửa đổi bổ sung nhiều lần Cácnhàđầu tưĐài Loan đánh giá thủ tục đầu tư của Việt Nam quá rườm rà, gâylãng phí thời gian Do những khó khăn, phức tạp cộng sự thay đổi của cơ chếthị trường mà pháp luật vềđầu tư cũng phải thay đổi như thế nào cho phù hợpvới sự thay đổi của đất nước và thế giới Luật đầu tư nước ngoài 1987 quyđịnh cụ thể về các lĩnh vực khuyến khích đầu tư, các biện pháp bảo đảm đầu

tư, chính phủ quản lý vềđầu tư nước ngoài Luật Đầu tư nước ngoài 1987 banhành vẫn mắc phải những sai lầm những nhược điểm vốn có của hệ thốngpháp luật thời kì bao cấp, bởi chúng được ban hành trong bối cảnh đất nướcmới bước vào thời kìđổi mới sau Đại hội Đảng VI năm 1986 nền kinh tế cònvận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, quan hệ kinh tếđối ngoạitập trung vào Liên Xô vàĐông Âu Luật đầu tư nước ngoài 1987 chỉ tập trunghướng dẫn xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà coi nhẹ hợp đồng hợp táckinh doanh; giới hạn tư nhân phải chung vốn với tổ chức kinh tế có tư cáchpháp nhân để thành bên Việt nam; cho xí nghiệp liên doanh được miễn giảmthuế lợi tức và chuyển lỗ 5 năm mà không áp dụng vấn đề này với các hìnhthức đầu tư 100% vốn nước ngoài và hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh

Để thực hiện yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật đầu tưnước ngoài tại Việt Nam Ngày 30.9.1990 tại kì họp thứ 7 Quốc hội khoá VIII

Trang 19

đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một sốđiều của Luật Đầu tư nước ngoàinăm 1987 sửa đổi, bổ sung 15 điều trên 42 điều của Luật đầu tư nước ngoàinăm 1987 tập trung chủ yếu ba vấn đề :

1 Cho phép tư nhân hợp tác đầu tư với nước ngoài

2 Quy định liên doanh nhiều bên và liên doanh tiếp

3 Quy định hàng thay thế hàng nhập khẩu

Sau khi sửa đổi bổ sung lần 1 Luật đầu tư nước ngoài 1990 đã có hàngloạt các văn bản pháp luật có liên quan đến đầu tư nước ngoài cũng đãđượcban hành mới hoặc sửa đổi bổ sung cho phù hợp Với sự sửa đổi bổ sung đồng

bộ này hệ thống pháp luật vềđầu tư nước ngoài góp phần làm cho môi trườngđầu tư nước ngoài ở Việt nam vào những năm 1990 thêm hấp dẫn Luật đầu

tư nước ngoài bước sang một giai đoạn phát triển mới đánh dấu sự thành côngcủa chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta.Tuy nhiên Luật Đầu tư nước ngoài 1990 chỉ giải quyết được 3 vướng mắc nêutrên còn có những vướng mắc khác chưa kể những vướng mắc phát sinh mới

đã cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Luật Đầu tư nước ngoài

1992 đã sửa đổi bổ sung một sốđiều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990vàđã giải quyết những bức xúc này Năm 1992 tình hình kinh tế xã hội đã cónhiều biến chuyển tích cực việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung vàpháp luật về đầu tư nước ngoài nói riêng đã tạo hành lang pháp lý mới chonền kinh tế tiếp tục tăng trưởng Hơn nữa giai đoạn này hệ thống pháp luậtViệt Nam có sự ra đời của Hiến pháp 1992, Điều 25 quy định những nguyêntắc về hợp tác kinh tế với nước ngoài, liên quan đến Đầu tư nước ngoài đã tạo

cơ sở pháp lý mới cho hoạt động đầu tư nước ngoài Vấn đề thu hút vốn Đầu

tư nước ngoài ngày càng có tính cạnh tranh gay gắt số nước kêu gọi đầu tưnặng nhất là các nước đang phát triển Cải thiện môi trường Đầu tư nướcngoài là vấn đề bức xúc của các Quốc gia cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Thực tiễn Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 cho thấy các mục tiêukinh tế xã hội và tài chính của hoạt động Đầu tư nước ngoài có mối quan

Trang 20

hệchặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, không khuyến khích đúng mức sẽkhông thu hút được đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư nước ngoài vào ít thì cácmục tiêu kinh tế xã hội cũng không đạt được vì vậy việc điều chỉnh hành langpháp lý vềđầu tư nước ngoài trong đó có vấn đề mở rộng, khuyến khích vàưuđãi là vấn đề có tính khách quan, ngày 23.12.1992 Quốc hội thông qua Luậtsửa đổi bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài, đã sửa đổi bổ sung 9 Điều, bổ sungmới 3 Điều tập trung vào 9 vấn đề quan trọng là cho phép doanh nghiệp tưnhân hợp tác đâù tư với nước ngoài; quy định hạn chế góp vốn bằng nguồn tàinguyên; tăng dần tỉ trọng góp vốn của bên Việt Nam, tăng thời hạn đầu tư lên

50 năm đến 70 năm; Mở tài khoản vốn vay ở nước ngoài; quy định về khu chếxuất; bổ sung phương thức BOT; bảo đảm quyền lợi của nhàđầu tư khi có sựthay đổi của pháp luật; cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được hưởng

ưu đãi như doanh nghiệp liên doanh Sau đó Nghịđịnh số 18 ngày 26.12.1992của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài 1992 thaythế NghịĐịnh 28/HĐBT ngày 6.2.1991 và 17 văn bản pháp luật liên quan đếnĐầu tư nước ngoài cũng được ban hành Do sự thay đổi của điều kiện kinh tế

xã hội và sự thay đổi của tình hình thế giới mà Luật Đầu tư nước ngoài(LĐTNN) 1996 được ban hành sửa đổi LĐTNN 1992 tạo môi trường pháp lýtương đối đầy đủ, đồng bộ cho hoạt động ĐTNN tại Việt nam Giai đoạn nàyđất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội Nhịp độ tăng bình quâncủa tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% Sản xuất công nghiệp tăng13,2%, sản xuất nông nghiệp tăng 4,5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 20%.Quan hệđối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tếđượctiến hành chủđộng vàđạt hiệu quả tốt, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tácnhiều mặt với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng, các nước bạn

bè truyền thống, tham gia tích cực các hoạt động thúc đẩy sự hợp tác cùng cólợi trong hiệp hội các nước ASEAN, diễn đàn APEC, tăng cường quan hệ vớicác nước phát triển và nhiều nước, nhiều tổ chức khu vực quốc tế khác Xâydựng Nhà nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất và kinh

Trang 21

tếhiện đại cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, anninh vững chắc, LĐTNN 1996 tiếp tục tạo môi trường pháp lý hấp dẫn, thểhiện chính sách nhất quán thu hút ĐTNN vào Việt nam của Đảng và Nhànước ta Nóđược ban hành trong bối cảnh hệ thống pháp luật về kinhtếđãđược sửa đổi bổ sung tương đối đầy đủ so với trước kia, nhiều đạo luậtquan trọng đãđược ban hành vào thời điểm này như Bộ Luật Dân sự, Luậtthuế thu nhập doanh nghiệp nhằm thu hút tối đa mọi nguồn vốn đầu tư,phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoáđất nước LĐTNN 1996 gồm

có 6 chương, 68 điều có nội dung cơ bản sau:

- Lĩnh vực địa bàn khuyến khích đầu tư

- Lĩnh vực địa bàn hạn chếđầu tư hoặc cấm đầu tư

- Quy định miễn, giảm thuế nhập khẩu

- Miễn giảm tiền thuêđất

- Bổ sung một số quy định nhằm hoàn thiện hình thức đầu tư

- Quản lý ngoại hối

- Nguyên tắc nhất trí trong Hội đồng quản trị của doanh nghiệp liêndoanh ( DNLD)

- Quy định đối với người Việt nam định cưở nước ngoài đầu tư vềnước

- Mở chi nhánh

- Quản lý Nhà nước vềĐTNN

-Thủ tục đầu tư

- Khiếu nại, khiếu kiện

- Phân cấp cấp giấy phép đầu tư

NghịĐịnh 12/CP ngày 18.2.1997 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hànhLĐTNN 1996 và 15 văn bản pháp lý khác có liên quan ban hành tạo dựngkhung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạt động ĐTNN phù hợp với đường lối

Trang 22

quan điểm của Đảng, phát triển mở cửa nền kinh tế, đáp ứng được yêu cầuthời điểm đó.

Sớm khắc phục những quy định chồng chéo, không thống nhất giữa cácvăn bản pháp luật liên quan đến hoạt động ĐTNN như về một số loại thuế,vềđất đai, ngoại hối hiện đang gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp có vốnĐTNN đồng thời tình hình mới cũng đặt ra yêu cầu phải xem xét đểđưa vàoLĐTNN một số vấn đề mà trong các đợt sửa đổi bổ sung Luật trước đây chưacóđiều kiện làm được nhưđiều chỉnh cơ cấu tổ chức và cơ chếđiều hành doanhnghiệp liên doanh, thiết kế rõ ràng cơ chế chế tài xử lý tranh chấp, phá sản,đưa ra các giải pháp hữu hiệu để tranh thủ nhiều hơn các đối tác có tiềm năng

về vốn và công nghệ tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, giúp đỡ họ vượtqua tác động của khủng hoảng kinh tế Cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nướcngoài trên thế giới và trong khu vực diễn ra ngày càng gay gắt do cung cầu vềvốn ĐTNN luôn luôn căng thẳng Các nước trong khu vực nhất là các nướcASEAN đã vàđang cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư theo hướng dànhnhiều ưu đãi hơn cho ĐTNN nhằm vượt lên các nước khác, coi đó là giảipháp chiến lược để vượt qua khủng hoảng và phục hồi phát triển kinh tế.Chính điều này tạo sức cạnh tranh mạnh là thách thức lớn đối với Việt Nam vìtrong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN (AFTA) cácnhàđầu tư Nhật Bản, Tây Âu, Mỹ chỉ cần đầu tưở các nước ASEAN khác domôi trường kinh doanh thuận lợi hơn mà vẫn bán được hàng vào Việt Namvới thuế suất giảm dần 0 - 5% Trong bối cảnh đó, pháp luật chính sáchvềĐTNN ở Việt nam trước 97 được coi là hấp dẫn thông thoáng đang mất dầntính cạnh tranh, trong khi độ rủi ro của việc đầu tưở Việt nam năm 96 là rấtcần thiết góp phần nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tưở Việt nam

so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Trong giai đoạn nàynước ta đã chủđộng hội nhập với kinh tế khu vực và trên thế giới, trở thànhthành viên chính thức của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), tổ chứckinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Diễn đàn hợp tác kinh tếÁ -

Trang 23

ÂU(ASEM) vàđang đàm phán gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO);đang thực hiện những cam kết trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do giữacác nước ASEAN ( AFTA) Do vậy mà ngày 9.6.2000 Quốc Hội đã thôngqua Luật sửa đổi bổ sung một sốđiều của Luật ĐTNN 1996 LĐTNN 2000đãđưa ra những quy định nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, giảmthiểu rủi ro cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN NghịĐịnh 24/2000/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành LĐTNN 2000 tạo điều kiện xích gần hơn giữa đầu

tư trong nước vàđầu tư nước ngoài, tạo thế chủđộng trong tiến trình hội nhậpvàđảm bảo các cam kết quốc tế, làm cho môi trường kinh doanh của Việt namhấp dẫn, thông thoáng hơn so với trước đây và so với một số nước trong khuvực LĐTNN 2000 sửa đổi 4 nội dung và 26 vấn đề:

- Nội dung thứ nhất là các vấn đề cần đến sự tháo gỡ của chính phủgồm: Nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của nhàđầu tư khi có sự thay đổi vềchính sách, pháp luật, cân đối ngoại tệ; nguyên tắc không hồi tố; đền bù giảiphóng mặt bằng; thế chấp tài sản gắn liền với đất và giá trị quyền sử dụngđất, bảo đảm bảo lãnh của Chính phủ; áp dụng pháp luật nước ngoài

- Nội dung thứ hai là các vấn đề mở rộng quyền tự chủ của doanhnghiệp có vốn ĐTNN; Thành lập văn phòng điều hành; nguyên tắc nhất trítrong doanh nghiệp liên doanh, việc tổ chức lại doanh nghiệp; cơ cấu lại vốnđầu tư, vốn pháp định, chuyển nhượng vốn; Thanh lý phá sản doanh nghiệpđối với doanh nghiệp (DN) có vốn ĐTNN; quy định về xuất nhập khẩu,chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường; tuyển dụng lao động

- Nội dung thứ ba là các vấn đề mở rộng các ưu đãi về thuế, tài chính;thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, miễn thuế nhập khẩu, thuế giá trị giatăng, chuyển lỗ của DN, quy định về lập quĩ

- Nội dung thứ 4 là các vấn đề về cải tiến thủ tục hành chính, tăngcường sự quản lý nhà nước vềĐTNN; Điều kiện cấp giấy phép đầu tư, thờihạn cấp phép đầu tư, khen thưởng, chếđộ thanh tra, kiểm tra, quản lý nhànước vềĐTNN, các phụ lục và danh mục

Trang 24

Qua nhiều lần sửa đổi bổ sung điều quan trọng nhất mà chúng ta cầnquan tâm là phải rút ra bớt những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp gâykhó khăn cho nhàđầu tư, thứ hai phải xoá bỏ những văn bản pháp luật chồngchéo trái với những văn bản mà cơ quan quyền lực cấp trên ban hành, có nhưvậy pháp luật mới trở thành một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh từ trênxuống dưới, tạo hành lang pháp lý an toàn cho các nhàđầu tư, hệ thống phápluật hoàn chỉnh với đội ngũ luật sư cóđầy đủ khả năng tư vấn về mọi lĩnh vựcpháp luật theo yêu cầu của khách hàng là yếu tố hấp dẫn để thu hút cácnhàđầu tư Trong khi đóở nước ta vấn đề tư vấn của các Luật sưở các đoànLuật sư còn hạn chế chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các nhàđầu tư ViệtNam cũng cần phải quy định cho phép các công ty Luật nước ngoài đầu tưvào Việt Nam để nâng cao chất lượng của dịch vụ tư vấn Luật trong nước,như thế luật sư trong nước mới có thể học hỏi được kinh nghiệm và mở rộngquan hệ với luật sư nứớc ngoài Ngoài ra Nhà nước còn phải tổ chức các buổitoạđàm, trò chuyện để thông báo, giao lưu với doanh nghiệp, giúp các nhàđầu

tư cập nhật được pháp luật mới ban hành hay mới sửa đổi bổ sung như vậy sẽtạo niềm tin cho các nhàđầu tư, bảo đảm an toàn pháp lý cho nhàđầu tư khihọđầu tư vào Việt Nam Chếđộ hai giáđối với người nước ngoài cũng nên bãibỏđể tạo sân chơi bình đẳng giữa người Việt Nam và người nước ngoài mộtkhi họđã tham gia đầu tư kinh doanh ở Việt Nam

Các yếu tố chính trị, kinh tế - kĩ thuật, pháp luật có mối quan hệ mậtthiết, tác động lẫn nhau và cùng có vai trò quyết định đến môi trường đầu tư

mà các nhàđầu tư hết sức quan tâm Không có sựổn định chính trị thì hệ thốngpháp luật không đầy đủ, không đồng bộ thì không thể phát triển kinh tế nóichung và thu hút nguồn vốn ĐTNN nói riêng Không có sự phát triển của kinh

tế kĩ thuật thì không thể thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ĐTNN,không thể thực hiện được nguyên tắc độc lập, tự chủ, bình đẳng cùng có lợi

và không thể cạnh tranh nổi với các đối thủ trên thị trường đầu tư Do vậy 3yếu tố này yếu tố nào cũng quan trọng và có tính chất quyết định đến sựthành

Trang 25

công trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài của môi trường đầu tư nướcngoài tại Việt Nam.

1.3 VAITRÒCỦAĐẦUTƯNƯỚCNGOÀIĐỐIVỚISỰPHÁTTRIỂNKINHTẾ

Nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đãkhẳng định kinh tế có vốn ĐTNN là một bộ phận cấu thành quan trọng củanền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, được khuyến khíchphát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Thu hút và sửdụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ trương nhất quán và lâudài nhằm góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh

tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóahiện đại hoáđất nước Hơn 15 năm qua kể từ khi ban hành Luật ĐTNN 1987thì hoạt động đầu tư nước ngoài đãđạt được những kết quả khả quan góp phầntích cực vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế phát triển kinh tế xã hội, tăngcường thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế Thực tế cho thấy ĐTNN

đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, cótác dụng thúc đẩy cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH,nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ mở rộng thị trường xuấtkhẩu, tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng hoạt động kinh tếđốingoại và thực hiện chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế Qua đó ta thấy ĐTNN

có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam ĐTNN làm tăng nguồnvốn đầu tư xã hội trong khi tích luỹ xã hội của nền kinh tế còn thấp, góp phầntạo công ăn việc làm cho người lao động tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩucũng như hàng hoá tiêu thụ trong nước ĐTNN nhất làđầu tư trực tiếp (FDI)luôn kèm theo chuyển giao công nghệ dẫn đến tăng năng xuất lao `động; FDIgóp phần làm tăng nguồn thu ngân sách, mở rộng nguồn thu thuế của địaphương vàđóng góp cho nguồn thu của Chính phủ, thúc đẩy tăng trưởng kinhtếở những vùng cóĐTNN tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mứcsống của người dân ĐTNN còn khuyến khích đầu tư trong nước phát triển.Thực tế những năm qua cho thấy ĐTNN không những không lấn sân của đầu

tư trong nước mà còn khuyến khích phát triển đầu tư trong nước Điều này thể

Trang 26

hiện ở chỗ doanh nghiệp trong nước có cơ hội trở thành nhà cung cấp hoặcnhà phân phối cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN Ngoài ra các doanhnghiệp có vốn ĐTNN còn tạo ra sự cạnh tranh trong một số lĩnh vực kinh tế

mà trước đây do một hoặc một vài doanh nghiệp trong nước độc quyền

ĐTNN góp phần mở rộng quy mô và thị trường xuất khẩu Việc tăngcường thu hút ĐTNN tăng xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mởrộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của kinh tế Việt Nam.Xuất khẩu của khu vực ĐTNN thời kì 1996-2000 đạt trên 16 tỷ USD chiếm23% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chiếm tỷ trọng cao là các mặt hànggiày dép, may mặc, điện tử Xuất khẩu năm 2003 của khu vực kinh tế có vốnĐTNN tiếp tục có chiều hướng gia tăng, đạt mức 6,225 tỷ USD tăng 38,5% sovới năm 2002 Đến hết năm 2003 tỷ trọng xuất khẩu của ĐTNN đã chiếm tới31% xuất khẩu cả nước, vượt chỉ tiêu 25% đề ra năm 2005 trong nghị quyết

09 năm 2001 của Chính phủ về tăng cường nâng cao hiệu quả FDI thời kì2001-2005

Ngoài ra khu vực ĐTNN góp phần mở rộng thị trườngtrong nước, thúcđẩy các hoạt động dịch vụ phát triển nhanh đặc biệt là khách sạn, du lịch vàcác dịch vụ tư vấn pháp lý, chuyển giao công nghệ tạo cầu nối cho cácdoanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với thịtrường quốc tế Nghị quyết 01/2004 của Chính phủ coi việc đẩy mạnh xuấtkhẩu và hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt của năm

2004 Như vậy ĐTNN góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tếđấtnước phát triển nhất là vấn đề xuất khẩu trong khu vực ĐTNN cũng như mởrộng quy mô xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước Ngoài ra ĐTNN còn cóvai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng lực sảnxuất và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Hiện nay ĐTNN đóng góp trên 13% GDP, chiếm 18% tổng số vốn đầu

tư xã hội, trên 50 % kim ngạch xuất khẩu (kể cả dầu thô) đạt trên 35% giá trịsản xuất công nghiệp và khoảng 7% thu ngân sách cả nước Khu vực ĐTNN

Trang 27

cũng đã thu hút được gần nửa triệu lao động trực tiếp và hàng chục vạn laođộng gián tiếp khác Nhờ nguồn vốn này mà Nhà nước đã chủđộng hơn trongviệc bố trí cơ cấu đầu tư góp phần khai thác hiệu quả các nguồn lực trongnước theo tinh thần kết hợp giữa nội lực và ngoại lực để tạo sức mạnh tổnghợp cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Hoạt động của khu vựcĐTNN có tác động tích cực đối với các cân đối lớn của nền kinh tế như cânđối ngân sách, mở rộng nguồn thu ngoại tệ, cải thiện cán cân vãng lai, cán cânthanh toán Đến hết năm 2002 khu vực có vốn ĐTNN chiếm tới 35,3% giátrị sản lượng công nghiệp của cả nước, ĐTNN năm 2003 tiếp tục xu hướngđầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với trên 70% dựán và vốn đăng

kí tập trung chủ yếu vào khu vực kinh tế trọng điểm Miền Nam và Miền Bắc.ĐTNN đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng công nghiệp của cả nước đạt14,5% ĐTNN đã tạo thêm nhiều ngành nghề sản phẩm mới góp phần làmtăng đáng kể năng lực các ngành công nghiệp Việt Nam Chỉ riêng 4 tỉnhĐồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, TPHCM đã chiếm gần 60% sốdựán và gần 51% tổng số vốn cấp mới của toàn quốc, các dựán ĐTNN có tácdụng lan toảảnh hưởng, thúc đẩy cạnh tranh, hình thành các xí nghiệp vệ tinh

để tăng thêm giá trị của sản phẩm từ thị trường trong nước.Nhờđược trang bịcông nghệ mới, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến nên sức cạnh tranh củasản phẩm hàng hoá của nhiều doanh nghiệp đãđược nâng cao đáng kể Nhiềusản phẩm đã có chỗđứng và chiếm thị phần tương đối khá trên thị trường nộiđịa và xuất khẩu ra thị trường thế giới Sự cạnh tranh về nhiều mặt của cácdoanh nghiệp ĐTNN với doanh nghiệp trong nước đã thúc đẩy tính cạnhtranh của nền kinh tế và làm cho sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nóichung này ngày càng được nâng lên.Thu hút vốn ĐTNN cóđóng góp quantrọng trong sự nghiệp phát triển của một số ngành kinh tế mũi nhọn như khaithác dầu khí, công nghiệp chế biến, điện tử

ĐTNN tạo điều kiện cho nước tiếp nhận vốn đầu tư tiếp thu công nghệmới và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến; đội ngũ lao động được đào tạo

Trang 28

bồi dưỡng nâng cao trình độ về nhiều mặt Khu vực ĐTNN đã góp phần nângcao trình độ công nghệ kĩ thuật của nhiều ngành sản xuất để tạo điều kiệnnâng cao tay nghề, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần quản lý nguồnnhân lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Ngoài ra khu vực ĐTNN đãthu hút được một lượng đáng kể lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, thunhập của người lao động được tăng, mức sống được cải thiện Khoa học côngnghệ mới được đưa vào áp dụng sẽ tăng năng suất lao động, sản phẩm đạthiệu quả cao, khai thác triệt để tiềm năng và nguồn nhân lực dồi dào của đấtnước kết hợp với kinh nghiệm quản lý tiên tiến sẽ tạo điều kiện cho nền kinhtếđất nước càng ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ.

Trang 29

CHƯƠNG 2 MỘTSỐVẤNĐỀPHÁPLÝVỀHOÀNTHIỆN MÔITRƯỜNGĐẦUTƯNƯỚCNGOÀITẠI VIỆTNAMTRONGBỐICẢNHHỘINHẬPKINHTẾQUỐCTẾ

2.1 QUÁTRÌNHHOÀNTHIỆNMÔITRƯỜNGĐẦUTƯTHEOQUYĐỊNHCỦA LUẬTĐẦUTƯNƯỚCNGOÀITẠI VIỆTNAMNĂM 1987; 1990; 1996; 2000.

2.1.1 Các quy định về bảo đảm Đầu tư

Biện pháp đảm bảo đầu tư là một trong nhiều quy định cơ bản củaLĐTNN tại Việt Nam Quy định này khẳng định sự cam kết của Chính Phủkhông trưng thu, không quốc hữu hoá, trưng mua tài sản của nhàđầu tư Nếutrong điều lệĐTNN năm 1977 chưa khẳng định việc nhà nước Việt Nam cóquốc hữu hoá các xí nghiệp có vốn ĐTNN hay không thì trong LĐTNN 1987

đã quy định những nguyên tắc và những biện pháp bảo đảm đầu tư nhằm làmcho các nhàĐTNN yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam '' Nhà nước ViệtNam bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các

tổ chức cá nhân nước ngoài, tạo những điều kiện thuận lợi nhất định, các thủtục dễ dàng cho các tổ chức cá nhân đóđầu tư vào Việt Nam” Trường hợp bịtrưng thu tài sản thì các nhàĐTNN được đền bù thoảđáng Tuy nhiên giốngnhư các nước đang phát triển khác Việt Nam không cam kết đảm bảo đối vớicác rủi ro không chuyển đổi được các khoản thu nhập từđồng tiền trong nước

ra đồng tiền nước ngoài đặc biệt Việt Nam không công nhận và không đảmbảo về quyền sở hữu vềđất như các nước Malaixia, Thái Lan Trong khi đóViệt Nam lại có quy định Hiến pháp về bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đốivới vốn, tài sản khác, các quyền lợi hợp pháp khác và bảo đảm không quốchữu hoáđối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, cụ thểĐiều 21 LĐTNN 1987khẳng định '' Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản của các tổchức, cá nhân nước ngoài không bị trưng thu trưng dụng hoặc bị tịch thu bằngbiện pháp hành chính, xí nghiệp có vốn ĐTNN không bị quốc hữu hoá ''

Trang 30

Ngoài ra LĐTNN năm 1987 còn cho phép nhàđầu tư chuyển lợi nhuận và mọikhoản tiền khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của họ (Đ22) cho phép cácnhân viên nước ngoài làm việc trong các xí nghiệp có vốn ĐTNN đượcchuyển về nước thu nhập hợp pháp của mình sau khi đã nộp đủ thuế thu nhập(Đ23).

Biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhàđầu tư nướcngoài khi có sự thay đổi về chính sách pháp luật Đối với các nhà kinhdoanh , yêu cầu hàng đầu của họ khi có một dựán đầu tư muốn đầu tư vào mộtnước là pháp luật cũng như chính sách của nhà nước phải ổn định để khônglàm đảo lộn các tính toán kinh doanh của họ, nhưng dưới góc độ quản lý vĩ

mô của nhà nước khi tình hình thay đổi thì chính sách, pháp luật cũng phảiđược thay đổi cho phù hợp Để giải quyết mâu thuẫn nói trên cần có giải phápthích hợp về mặt pháp luật.Trong trường hợp do thay đổi của pháp luật Việtnam mà làm thiệt hại đến lợi ích của các bên tham gia Hợp đồng hợp tác kinhdoanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đãđược cấp giấy phép thì nhànước có biện pháp giải quyết thoảđáng với quyền lợi của nhàđầu tư Chủtrương đảm bảo về vốn và tài sản của nhàĐTNN không những được thể hiệntrong Luật ĐTNN 1992 mà còn thể hiện trong nghịđịnh số 18/CP ngày26.12.1992 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN tại ViệtNam 1992 như sau: Trong trường hợp nếu những thay đổi của pháp luật ViệtNam làm thiệt hại đến lợi ích của các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vàoViệt Nam quy định trong giấy phép đầu tư và giấy phép kinh doanh thì UỷBan nhà nước về hợp tác vàđầu tư (Nay là Bộ kế hoạch vàĐầu tư) có biệnpháp giải quyết thoảđáng để bảo đảm quyền lợi của các chủđầu tư bằng cáchthoả thuận với họ theo các hướng :

1 Thay đổi mục tiêu hoạt động của các dựán

2 Giảm miễn thuế trong khuôn khổ của pháp luật

3 Thiệt hại của chủđầu tư là khoản lỗ, khoản lỗ này được chuyển sangnăm tiếp theo không được vượt quá 5 năm

Trang 31

4 Cho phép xí nghiệp 100% vốn nước ngoài được tiếp tục hoạt độngtheo quy định của giấy phép đầu tưđã cấp trong một số trường hợp nếu thấyviệc cho phép dựán tiếp tục hoạt động không ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia.Theo tập quán quốc tế giấy phép đầu tư do nhà nước cấp không những xácđịnh trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của nhàđầu tư mà còn được coi là camkết giữa nhà nước và nhàđầu tư Thực tiễn thời gian qua cho thấy có nhữngtrường hợp do thay đổi quy định của pháp luật Việt Nam đã làm đảo lộn kếhoạch kinh doanh được hoạch định từ trước, gây thiệt hại đến lợi ích củanhàđầu tư, đồng thời để phù hợp với luật pháp quốc tế, LĐTNN sửa đổi 1992đãđưa ra nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của nhàđầu tư, nhà nước khi có sựthay đổi chính sách, pháp luật của Việt nam nhưng chưa đầy đủ.LĐTNN sửađổi bổ sung năm 2000 đã thay khoản 3 Điều 21 trong LĐTNN 1996 bằng điều21a trên cơ sở Luật hoáđiều 01 Nghịđịnh 12/CP ngày 18.2.1997của chính phủquy định chi tiết thi hành LĐTNN năm 1996 nhằm quy định cụ thể các biệnpháp bảo đảm quyền lợi của nhàđầu tư trong trường hợp do có những thay đổitrong quy định của pháp luật Việt nam mà làm thiệt hại đến lợi ích củanhàđầu tư theo hướng: Cho phép nhàđầu tư tiếp tục được hưởng các ưu đãiđãđược quy định trong giấy phép đầu tư và LĐTNN hoặc áp dụng các biệnpháp như cho phép thay đổi mục tiêu hoạt động của dựán, miễn giảm thuếtheo quy định của pháp luật, thiệt hại của DN có vốn ĐTNN được xem xét bồithường thoảđáng trong một số trường hợp cần thiết Việc sửa đổi cũng nêu rõnhững quy định mới ưu đãi hơn ban hành sau khi cấp giấy phép đầu tư sẽđược

áp dụng cho các DN có vốn ĐTNN và các bên tham gia hợp đồng hợp táckinh doanh

Biện pháp bảo đảm bảo lãnh của Chính phủđối với các dựán xây dựng kinh doanh - chuyển giao (BOT) và các dựán cơ sở hạ tầng đặc biệt quantrọng NhàĐTNN mong muốn được Chính phủ bảo lãnh các nghĩa vụ về tàichính, chia sẻ rủi ro với nhàđầu tư nước ngoài thậm chí có cả những cam kếtbảo lãnh mà pháp luật chưa quy định Những mong muốn về cam kết, bảo

Trang 32

-lãnh với các dựán này là chính đáng, việc tôn trọng đầy đủ các cam kết đólàđiều kiện quan trọng nhiều khi mang tính tiên quyết để nhàĐTNN bỏ vốnđầu tư, tìm kiếm được nhà tài trợ vàđể triển khai dựán thành công Các camkết này thường đa dạng và các dựán khác nhau biện pháp bảo lãnh sẽ khácnhau LĐTNN 2000 đã bổ sung cơ chế quản lý, cơ chế pháp lý về bảo lãnhđối với một số dựán đặc biệt quan trọng là căn cứ vào nguyên tắc quy địnhcủa LĐTNN tại Việt Nam Chính phủ có thể khuyến khích các thoả thuận vớinhàĐTNN hoặc chia ra các biện pháp bảo đảm, bảo lãnh vềđầu tư.

Biện pháp bảo đảm đối với việc chuyển các khoản liên quan đến đầu

tư Mục đích của kinh doanh nói chung và của đầu tư nói riêng là lợi nhuận.Muốn thu hút được nhiều vốn ĐTNN thì nhất thiết pháp luật phải đảm bảocho nhàđầu tư có thể chuyển vốn, lợi nhuận và các tài sản hợp pháp khác của

họ ra nước ngoài một cách thuận tiện Về vấn đề này Điều 22 LĐTNN 1992quy định các tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được chuyển

ra nước ngoài lợi nhuận thu được trong quá trình kinh doanh; những khoảntiền trả cho việc cung cấp kĩ thuật, dịch vụ; tiền gốc và lãi của các khoản vaynước ngoài trong quá trình hoạt động; vốn đầu tư; các khoản tiền và tài sảnkhác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình Nội dung của Nghịđịnh 18 cũngnêu rõ việc chuyển tiền trích từ khấu hao tài sản cốđịnh trong vốn đầu tưchỉđược chuyển sau khi đã góp đủ số vốn pháp định Số tiền này được rúttương ứng với quỹ khấu hao được lập phù hợp với tỷ lệ khấu hao tài sản do

Bộ Tài chính quy định Việc chuyển các khoản tiền chỉđược thực hiện sau khi

đã nộp đủ các khoản thuế phải nộp và phải bảo đảm số vốn còn lại của xínghiệp không ít hơn vốn pháp định quy định tại giấy phép đầu tư Khi kếtthúc và giải thể xí nghiệp tổ chức kinh tế và cá nhân được chuyển ra nướcngoài vốn đầu tư vào các xí nghiệp sau khi thanh toán mọi khoản nợ Trongtrường hợp số tiền chuyển ra nước ngoài cao hơn vốn ban đầu và vốn tái đầu

tư thì số tiền chênh lệch đó chỉđược chuyển ra nước ngoài khi Bộ kế hoạchvàĐầu tư chuẩn y Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong xí nghiệp

Trang 33

có vốn đầu tư nước ngoài hoặc trong hợp đồng hợp tác kinh doanh cũng đượcchuyển ra nước ngoài lương và các khoản thu nhập hợp pháp khác sau khi đãnộp thuế thu nhập trừ các khoản chi phí.

Biện pháp bảo đảm áp dụng pháp luật nước ngoài.Về nguyên tắc mọihoạt động ĐTNN tại Việt Nam phải tuân thủ mọi quy định của pháp luậtĐTNN tại Việt Nam Tuy nhiên hệ thống chính sách pháp luật của nước tađang trong quá trình xây dựng và tiếp tục hoàn chỉnh Do tính đa dạng vàphức tạp của hoạt động ĐTNN nên có thể dẫn đến những vấn đề mà pháp luậtViệt Nam chưa quy định cụ thể do đó có thể thiếu những cơ sở pháp lý choviệc xử lý các vấn đề liên quan Mặt khác nước ta chủđộng hội nhập với khuvực và quốc tế và nước ta đã trở thành thành viên chính thức của nhiều tổchức quốc tế vàđã kí nhiều điều ước quốc tế liên quan đến các Hiệp định đaphương và Hiệp định song phương Đểđảm bảo tính rõ ràng ổn định của hệthống pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với các cam kết quốc

tế mà Việt Nam đã kíđồng thời làm cho các nhàđầu tư nước ngoài yên tâmđầu tư vào Việt Nam, LĐTNN 2000 đã bổ sung Điều 66 LĐTNN 1996:'' Hoạtđộng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phải tuân theo quy định Luật này và cácquy định có liên quan của pháp luật Việt Nam Trong trường hợp pháp luậtViệt Nam chưa có quy định, các bên có thể thoả thuận trong hợp đồng việc ápdụng pháp luật nước ngoài nếu việc áp dụng pháp luật nước ngoài không tráivới những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” Quy định trên cũngphù hợp với tinh thần của Bộ luật Dân sự và Luật Thương Mại mới ban hành.Đồng thời quy định mới này đãđảm bảo được nhất quán vàđồng bộ giữa cácđạo luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Biện pháp bảo đảm trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp: Trong kinhdoanh thường xảy ra tranh chấp không chỉở trong môi trường kinh doanh ởViệt Nam mà cả trong môi trường kinh doanh của các nước khác Nước tađang thu hút vốn ĐTNN nhưng đồng thời cũng tham gia vào cuộc cạnh tranhquyết liệt với các nước khác trong khu vực Kết quảđạt được phụ thuộc vào

Trang 34

việc giải quyết tranh chấp trong quá trình đầu tư Điều 25 Luật ĐTNN 2000quy định về việc giải quyết tranh chấp '' Các tranh chấp giữa các bên tham giahợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc giữa các bên liên doanh cũng như cáctranh chấp giữa các doanh nghiệp có vốn ĐTNN các bên tham gia hợp đồnghợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp Việt Nam trước hết phải được giảiquyết thông qua thương lượng, hoà giải Trong trường hợp các bên khônghoà giải được thì vụ tranh chấp được đưa ra giải quyết tại tổ chức trọng tàiquốc tế hoặc toàán Việt Nam theo pháp luật Việt Nam hoặc cơ quan xét xửkhác do các bên thoả thuận”.Việc Luật quy định các tranh chấp trước hết phảiđược giải quyết thông qua con đường hoà giải là một hướng đi đúng bởi vìnếu hoà giải thành, các bên có tranh chấp sẽ không phải tốn thời gian, tiền củađểđưa tranh chấp ra một cơ quan trọng tài, hơn nữa nhờđó mà công việc sảnxuất kinh doanh không bịđình trệ.Việc giải quyết tranh chấp trong ĐTNN tạiViệt Nam được pháp luật quy định khá cụ thể, thể hiện sự quan tâm của nhànước đối với các nhàĐTNN Bên cạnh đó nhà nước Việt Nam cũng đãchúýđến việc xây dựng các văn bản pháp luật có giá trị cao trong đảm bảopháp lý quan trọng đối với các hoạt động ĐTNN tại Việt Nam khi tranh chấpphát sinh.

2.1.2 Các quy định về khuyến khích Đầu tư

Như mọi nước kém phát triển khác nước ta xuất phát từ một nền kinh tếyếu kém, đi lên CNH-HĐH Do đó việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nướcngoài là rất quan trọng và thực sự là một cuộc cạnh tranh gay gắt Khuyếnkhích đầu tư là làm những gì chúng ta đang có ngày một sinh sôi nảy nở

Quy định lĩnh vực khuyến khích đầu tư: Luật ĐTNN 1987 đã cho phépcác tổ chức cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vựccủa nền kinh tế quốc dân đồng thời Khoản 2 Điều 3 còn quy định cụ thểnhững lĩnh vực được khuyến khích đầu tư như :

- Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu vàhàng thay thế hàng nhập khẩu

Trang 35

- Sử dụng kĩ thuật cao, công nhân lành nghề, đầu tư theo chiều sâu đểkhai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tếhiện có.

- Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu, tài nguyên thiên nhiên sẵn cóởViệt Nam

- Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng

- Dịch vụ thu tiền nước ngoài như du lịch, sửa chữa tàu, dịch vụ sânbay, cảng khẩu và các dịch vụ khác Như vậy LĐTNN 1987 đã có bước tiến

so với điều lệđầu tư nước ngoài 1977 ở chỗđã quy định rõ ràng những lĩnhvực cụ thể cần khuyến khích đầu tư và thể hiện được vai tròđịnh hướng pháttriển kinh tế xã hội của đạo luật mới mẻ này LĐTNN năm 1996 đã có bướctiến so với LĐTNN 1987 ở chỗđã quy định cụ thể những lĩnh vực vàđịa bànkhuyến khích ĐTNN, các lĩnh vực đầu tư cóđiều kiện, những lĩnh vực địa bànkhông cấp phép đầu tư nước ngoài và giao cho chính phủ quy định các địabàn khuyến khích đầu tư, ban hành các danh mục các dựán khuyến khích đặcbiệt là khuyến khích đầu tư, danh mục các lĩnh vực đầu tư cóđiều kiện, danhmục các lĩnh vực không cấp giấy phép đầu tư Điều 3 Nghịđịnh 12 quy định

Bộ kế hoạch đầu tư phối hợp các Bộ, nghành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương trình Chính phủ quyết định và cho công bố các loạidanh mục đó Như vậy trong LĐTNN 1996 chúng ta vẫn chưa quy định dượcdanh mục các nghành nghề cụ thể cấm đầu tư hoặc đầu tư cóđiều kiện chođến khi Nghịđịnh 24/2000/CP ngày 31.7.2000 quy định chi tiết thi hànhLĐTNN tại Việt Nam được ban hành, chính phủ công bố chính thức danhmục các lĩnh vực khuyến khích đầu tư, danh mục địa bàn khuyến khích đầu

tư, danh mục lĩnh vực đầu tư cóđiều kiện, danh mục lĩnh vực không cấp phépđầu tư Các danh mục này được sửa đổi bổ sung theo hướng quy định rõ và bổsung các lĩnh vực khuyến khích, đặc biệt khuyến khích đầu tư, quy định rõdanh mục địa bàn khuyến khích đầu tư Thu hẹp danh mục lĩnh vực đầu tưcóđiều kiện theo hướng không áp dụng hệ thống liên doanh đối với các dựán

Trang 36

sản xuất xi măng, sắt thép, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất,khu công nghệ cao, thể thao giải trí, quy định rõ khái niệm dựán kinh doanhxây dựng Hướng sửa đổi nói trên là phù hợp với xu thế trong khu vực LuậtXúc tiến đầu tư trong nước 1998 của Hàn Quốc quy định cụ thể 1148 nghànhnghề của nền kinh tế trong đó Hàn Quốc chỉđóng cửa 13 nghành và hạn chế

13 lĩnh vực đối với ĐTNN Luật kinh doanh của người nước ngoài 1998 củaThái Lan đã thu hẹp lĩnh vực cấm và hạn chếđầu tư từ 68 lĩnh vực theo Luậtnăm 1972 xuống còn 38 lĩnh vực

* Quy định về thuế : LĐTNN 1987 đã quy định về các loại thuế một

cách hợp lý vừa đảm bảo được lợi ích của nhà nước Việt Nam, vừa đảm bảođược lợi ích của nhàđầu tư, đồng thời có tính hấp dẫn hơn so với các loại thuếtương ứng được ban hành ở các nước Đông Nam Á và Trung quốc

Về thuế lợi tức: Điều lệđầu tư nước ngoài năm 1977 quy định 3 mức

thuế lợi tức: 30%;40%;50% là quá cao so với các nước khác trong khu vực.LĐTNN 1987 đã quy định thuế lợi tức cho các xí nghiệp liên doanh, xínghiệp có 100% vốn nước ngoài và bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên

cơ sở hợp đồng từ 10% - 25% lợi nhuận thu được trên cơ sở quy định này.Nghịđịnh 139 đã quy định 3 loại: Trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầutưáp dụng 10% đến 14% lợi nhuận thu được; Trường hợp ưu tiên áp dụng15% đến 20% lợi nhuận thu được, trường hợp phổ thông áp dụng từ 21% đến25% lợi nhuận thu được

Đối với các trường hợp tái đầu tư, LĐTNN 1987 đã quy định cơ quanthuế phải hoàn lại số tiền thuế lợi tức đã nộp liên quan đến phần lợi nhuận táiđầu tư cho nhàđầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn ĐTNN và bên nướcngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh có thểđược miễn thuế lợi tứctrong một thời gian tối đa là 2 năm tiếp theo Trường hợp dựán có nhiều tiêuchuẩn khuyến khích đầu tư thìđược miễn thuế lợi tức trong thời gian tối đa là4năm kể từ khi bắt đầu kinh doanh có lãi vàđược giảm 50% thuế lợi tức trongthời gian tối đa là 4 năm tiếp theo Đối với những trường hợp đặc biệt khuyến

Trang 37

khích đầu tư thời gian miễn thuế lợi tức tối đa là 8 năm Nghịđịnh 12 cụ thểhoá mức thuế lợi tức ưu đãi trong các trường hợp khuyến khích đầu tư cũngnhưđơn giản các tiêu chuẩn được hưởng mức thuế lợi tức ưu đãi Các mứcthuế lợi tức ưu đãi này được hưởng trong thời gian tương ứng là 10 năm, 12năm, 15 năm kể từ khi dựán bắt đầu hoạt động kinh doanh Đối với các dựánđầu tư theo phương thức xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT), xây dựngchuyển giao (BT); xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO); xây dựng kếtcấu hạ tầng, khu công nghiệp (KCN); khu chế xuất (KCX); mức thuế lợi tức

ưu đãi được áp dụng trong toàn bộ quá trình hoạt động của dựán Nghịđịnhnày còn quy định về thời hạn giảm ,miễn thuế lợi tức như sau: Các dựánhưởng thuế lợi tức ưu đãi mức 20% được xét miễn thuế 2 năm, giảm50%trong thời hạn tối đa 3 năm tiếp theo Các dựán hưởng mức thuế lợi tức15% được xét miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo Các dựánhưởng mức thuế lợi tức 10% được xét miễn giảm thuế 4 năm, giảm 50% trong

4 năm tiếp theo Các dựán đặc biệt khuyến khích đầu tưđược miễn thuế lợitức 8 năm Nếu so sánh với đầu tư trong nước, thì mức thuế suất lợi tức vớidoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thấp hơn so với doanh nghiệp trongnước; Mức thuế suất lợi tức phổ thông áp dụng đối với doanh nghiệp trongnước là 32%, mức thuế suất ưu đãi là 25%

Nếu so sánh với các nước trên thế giới, với mức thuế lợi tức phổ thông

áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn ĐTNN ở nước ta là 25% thì thuế suấtcủa Việt nam vào loại thấp nhất, vì mức thuế suất thu nhập công ty của cácnước khác thường ở mức 30%-60% Do vậy mức thuế suất phổ thông củaViệt Nam, cũng như các trường hợp miễn giảm được coi là hấp dẫn so với cácnước trong khu vực như Brunei là 30%, Malaisia 28%, Mianma 30%, TháiLan 30%, Trung Quốc 30% Mặt khác quy định của Việt Nam về hoànthuếlợi tức trong trường hợp tái đầu tư cũng vào loại hấp dẫn nhất trong khuvực vì Thái Lan, Indonexia, Ấn Độ không cóưu đãi về tái đầu tư

Trang 38

Về thuế xuất nhập khẩu: Việc miễn thuế nhập khẩu được áp dụng cho

thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyềncông nghệđể tạo tài sản cốđịnh hoặc mở rộng quy mô dựán đầu tư và phươngtiện vận chuyển nhập khẩu dùng đểđưa đến công nhân Chính phủ quy địnhviệc miễn giảm thuế xuất nhập khẩu đối với các hàng hoáđăc biệt cần khuyếnkhích đầu tư khác Luật đầu tư nước ngoài năm1996 bỏ qua quy định miễnthuế nhập khẩu đối với vật tư và xe ô tô con Nghịđịnh 12 quy định cụ thểviệc miễn thuế nhập khẩu đối với trường hợp mở rộng quy mô dựán, thay thế,đổi mới công nghệ Miễn thuế nhập khẩu đối với các giống cây trồng, vậtnuôi, nông dược đặc chủng được phép nhập khẩu để thực hiện dựán nôngnghiệp, lâm nghiêp, ngư nghiệp, miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá, vật tưkhác dùng cho các dựán đăc biệt khuyến khích đầu tư theo quyết định củaThủ tướng Chính phủ Nếu so sánh việc miễn thuế nhập khẩu đối với cácnhàđầu tư trong nước thì quy định trên không ưu đãi hơn, bởi lẽđiều15, 16Luật khuyến khích đầu tư trong nước, nhàđầu tưđược miễn thuế nhập khẩuđối với các loại hàng hoá sau đây mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sảnxuất chưa đáp ứng được nhu cầu: như thiết bị, máy móc, phương tiện vận tảinằm trong dây chuyền công nghệđể tạo tài sản cốđịnh hoặc để mở rộng quymôđầu tư, đổi mới công nghệ, phương tiện vân chuyển dùng đểđưa đón côngnhân

Nhằm khuyến khích thu hút ĐTNN và tháo gỡ khó khăn đối với cácdựán đang hoạt động, Chính phủđã tiếp tục ban hành nhiều chính sách ưu đãiliên quan đến miễn thuế nhập khẩu đối với các dựán ĐTNN như Nghịđịnhsố10/1998/NĐ-CP ngày 23.1.1998 của chính phủ; quyết định số 53/1999/QĐ-TTg ngày 26.3.1999 của TTg Để nâng cao hiệu lực pháp lý của các biệnpháp quan trọng này Luật ĐTNN 2000 sửa đổi đã luật hoá các quy định trên

và sửa đổi bổ sung một số quy định về miễn thuế nhập khẩu như sau: '' Doanhnghiệp có vốn ĐTNN, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh đượcmiễn thuế nhập khẩu đối với hàng nhập khẩu để tạo tài sản cốđịnh '' Việc

Trang 39

miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu quy định tại khoản nàyđược áp dụng cho cả trường hợp mở rộng quy mô dựán, thay thế, đổi mớicông nghệ Nguyên liệu, vật tư, linh kiện điện tử nhập khẩu để sản xuất cácdựán thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư hoặc địa bàn cóđiều kiệnkinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5năm kể từ khi bắt đầu sản xuất.

Về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: LĐTNN 1987 quy định cụ

thể về mức thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ 5%-10% số tiền chuyển ranước ngoài LĐTNN 1996 quy định cụ thể hơn: ngoài việc phải nộp thuế thunhập doanh nghiệp nhàĐTNN khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài vẫn phảinộp một khoản thuế 5%, 7%, 10% số lợi nhuận chuyển ra nước ngoài, tuỳthuộc vào quy mô góp vốn của nhàđầu tư nước ngoài vào vốn pháp định củadoanh nghiệp Để cải thiện môi trường đầu tư, Luật sửa đổi, bổ sung LĐTNN

2000 đã sửa đổi Điều 43 LĐTNN 1996 theo hướng giảm mức thuế chuyển lợinhuận ra nước ngoài xuống các mức tương ứng là 3%, 5%, 7% Riêng nhàđầutưở KCX, KCN và nhàđầu tư là người Việt Nam định cưở nước ngoài thìđượchưởng mức ưu đãi là 3%, còn nhàđầu tưở các lĩnh vực khám chữa bệnh, giáodục, đào tạo nghiên cứu khoa học chỉ phải nộp tối đa là 5 %

Về thuế giá trị gia tăng (GTGT): Đây là loại thuế mới chưa được quy

định trong LĐTNN năm 1996 khi luật thuế GTGT được ban hành, doanhnghiệp có vốn ĐTNN phải nộp thuế GTGT đối với các loại máy móc thiết bị,vật tư nhập khẩu đồng bộđể tạo tài sản cốđịnh (chỉđược miễn đối với các loạithiết bị, máy móc, phương tiện chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được).Quy định này thực chất làđánh thuế vào vốn đầu tư của doanh nghiệp, làmtăng chi phí của doanh nghiệp, trong khi sức hấp dẫn, tính cạnh tranh của môitrường đầu tưở Việt Nam đang giảm dần Để tháo gỡ những vướng mắc vềthuế GTGT đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, LĐTNN 2000 đã sửađổi theo hướng cho phép thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải nhập khẩuđồng bộ (không phụ thuộc vào việc trong nước sản xuất được hay chưa) và

Trang 40

vật tư trong nước chưa sản xuất được đều làđối tượng không thuộc diện chịuthuế GTGT.

* Chuyển lỗ của doanh nghiệp: LĐTNN 1996 quy định cho phép

doanh nghiệp liên doanh được chuyển lỗ của bất kì năm nào sang năm tiếptheo vàđược bù lỗđó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo nhưng khôngđược quá 5 năm Quy định đó chưa thật công bằng đối với doanh nghiệp100% vốn nước ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh cũngđược hưởng ưu tiên như doanh nghiệp liên doanh làđược chuyển lỗ sang nămtiếp theo vàđược bù khoản lỗđó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo,nhưng không quá 5 năm

* Quy định về hàng thay thế hàng nhập khẩu và trả lương bằng tiền nước ngoài: Một trong các lĩnh vực được LĐTNN 1987 khuyến khích đầu tư

là sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu ( K1Đ3) Tuynhiên một số quy định trong luật này lại không khuyến khích việc tiêu thụ sảnphẩm của các xí nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam Ví dụĐiều 16 LĐTNN

1987 quy định ''Lương và các khoản phụ cấp khác thu được của người laođộng Việt nam được trả bằng tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài '' Quy địnhnày trên thực tếđã ngăn cấm cả việc xí nghiệp dùng những khoản tiền ViệtNam mà xí nghiệp thu được bằng cách tiêu thụ sản phẩm tại thị trường ViệtNam để trả lương cho người lao động Việt Nam Điều 27 Luật ĐTNN 1987vềđiều kiện đểđược miễn, giảm thuế lợi tức quy định ''Tuỳ thuộc vào lĩnh vựcđầu tư, quy môđầu tư, khối lượng hàng hoá xuất khẩu, tính chất và thời gianhoạt động, cơ quan nhà nước quản lýđầu tư nước ngoài có thể miễn thuế lợitức cho xí nghiệp liên doanh trong thời gian tối đa là 2 năm, kể từ năm bắtđầu kinh doanh có lãi và giảm thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 2 nămtiếp theo'' Rõ ràng quy định này cũng không đề cập đến vấn đề sản xuất hàngthay thế hàng nhập khẩu

Để giải quyết những vướng mắc nêu trên, LĐTNN (sửa đổi) năm 1990

đã sửa đổi bổ sung Điều 16 và 27 của LĐTNN 1987 như sau: Đoạn cuối của

Ngày đăng: 02/10/2012, 15:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w