1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hương ước – những vấn đề lịch sử và lý luận – quản lý nhà nước đối với việc ban hành hương ước trong giai đoạn hiện nay

176 309 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 176
Dung lượng 8,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

] HƯƠNG ƯỚC - SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIEN VA VAI TRO CUANO TRONG QUAN LY CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN CƠ SỞ Hương ước là các quy ước thành văn đò cư dân ở thôn làng tự đặt ra để góp phần quản lý điều

Trang 1

BO TU PHAP VIEN NGHIEN CUU KHOA HOC PHAP LY

ĐỀ TÀI

NGHIÊN CUU KHOA HỌC PHÁP LÝ

| "HUONG UOC - NHENG VAN BE LICH SỬ VÀ LÝ LUẬN

HUONG UOC TRONG GIAI DOAN HIEN NAY "

MA SO DANG KY: 95 - 98 - 1LO0/DT

Rong awa ON TO BLE LEA de VAL 52532 5

HO tiU TRE

X2 Yipes TRING! HGH God TPIRU ti eg OPE

Trang 2

xoa học Công nghệ và Môi trường CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N :

iG TAM THONG TIN TU LIEU : Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

4 HOC VA CONG NGHE QG

?

- Căn cứ Quyết dịnh 271/QÐ ngày 6-6-1980 của Chủ nhiệm UỦJý ban Khoa học và Kỹ thuật Nhị nước về việc đăng ký nhà nước đề tài Nghiên Khoa học vi Công nghệ và nộp báo cáo kết qúa

nghiên cứu;

- Cầu vú Quyết định-476/TCCB ngày 16-9-1590 của Cha nniem Uy ban Knoa hoc Nhà nược ve

việc giao nhiệm vụ đăng ký đề tài và kết qủa nghiên cứu cho Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia;

Cơ quan chủ trì: Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý

Cơ quan quản lỹ: Bộ Tư pháp

Hồ sơ số: 7555, lưu tại Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa lóc và Công nghệ Quốc gia, 24 Lý Thường Kiệt, Hà nội

T/L BỘ TRƯỞNG

Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường

¿Z GIÁM ĐỐC Trungtâm Thông tín Tư liệu

BE EO

Trang 3

BO TU PHAP ' CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Hỗ nội, ngày 23 1 tháng 3 ndm 1997

BỘ TRƯỞNG BỘ TU PHÁP

- Căn cứ Nghị định số ¥ 38/CP ngày 04/ 06/ 1993 của Chính phủ qui định

về chức nắng, nhiệm vụ quyển hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp;

- Căn cứ Quyết định số 282 ngày 20/ 06/ 1980 của Chủ nhiệm ủy ban

khoa học Nhà nước (nay là Bộ Khoa học, Công nghệ và môi trường) qui định

thể thức đánh giá nghiệm thu các công trình khoa học kỹ thuật;

- Căn cứ kế hoạch nghiên cứu các đề tài khoa học năm 1995 của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý;

- Theo đề nghị của Viện trưởng Viện NCRH Pháp lý;

Quyết định

Điều 1: Thành lập Hội đồng đánh giá, nghiệm thu đề tài "Hương ước - Những vấn đề lịch sử và lý luận - Quản lý Nhà nước đối với ban hành Hương ước trong giai đoạn hiện nay", m4 sd: 95-98-110/DT

- Điều 9: Các đồng chí có tên trong danh sách kèm theo là thành viên của Hội đồng đánh giá nghiệm thu đề tài khoa học này

Điều 8: Hội đông đánh giá, nghiệm thu để tài có trách nhiệm tiến hành công việc theo các thủ tục đã được Bộ khoa học, công nghệ và môi trường qui định

Điều 4: Viện NCKH Pháp lý và các dong chí có tên trong đanh sách

kèm theo có trách nhiệm thi hành Quyết định này ong RH Tu phap

Trang 4

IC ĐỐI VỚI VIỆC BAN HÀNH HƯƠNG ƯỚC

⁄'TRONG GIAI DOẠN HIỆN NAY "

Mã số : 95-98-110/ÐT (Kèm theo Quyết định số: 371 QĐÐ-NCKH, ngày 54 tháng 3 nam 1997)

Nguyễn Đình Lộc PTS Luật học * Chủ tịch

Hộ trưởng Hộ Tư pháp Hội đồng

Nguyén Quang Ngoc PTS Sử học, Chủ nhiệm khoa Phản biện L

lịch sử, Trường đại học khoa học xã

hội và nhân văn Quốc gia

Trần Ngọc Đường P€@5.PTS Luật hục, Chủ nhiệm khua Nhà Phản biện 2

nước và Pháp luật, Học viện Chính trị

Quéc gia 116 Chí Minh

Trần Trọng Hựu' PGS PTS Luật học, Phó Viện trưởng

Viện Nhà nước Pháp luật, Trung tâm

khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia Hoàng Thế Liên PTS Luật học, Phó Viện trưởng Thu ky Hội

Viện NCKH"pháp lý, Bộ Tư pháp đông nghiệm thu

Đông Chu Lưu PTS Luật học, Vụ trưởng Thành viên

Vụ pháp luật Hình sự - Hành chính, Hội đồng

Bệ Tư pháp

Nguyễn Văn Thảo _ Phó Chủ tịch Hội-đồng khoa học, Thành viên

Bộ Tư pháp "_ Hội đồng

Ha Van ‘Fang Phó Cục trưởng Cục thong tin co sd, "Thành viên

Bộ Văn hoá Hội đồng

Nguyén Dang Dung - PGS.PTS Luật học, Phó Chủ nhiệm - Thành viên

khoa Luật, Trường Đại học khoa học xã Hội đồng hội và nhân văn quốc gia

Trang 5

BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

PTS Luật học Lê Hồng Sơn,

Trang 6

DANH SACH

CAC THANH VIEN THAM GIA CAC CHUYEN DE

NGHIEN CUU CUA DE TAI

Chuyên để 1 : " Mấy nét về quá trình hình thành và phát triển

hương ước Việt nam "

Giáo sư Phan Đại Doãn Trường Đại học khoa học xã hội oà Nhân ouăn Quốc gia

Chuyên đề 2: " Một số nội đụng ed bản của Hương ước qua các giai

đoạn phát triển của nó "

Bui Xuan Dinh

Nguyễn Đuy Lam

Vụ trưởng Vụ phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp

Nguyễn Đắc Bình

Chuyên uiên Vụ phổ biên giáo dục phán luật, Bộ Tư pháp

Chuyên đề 5: " Về cơ chế soan thao Hương trớc xưa và nay "

Bùi Xuân Đính

Viện Dân tác học

Trang 7

Chuyên để 6: " Sự quản lý của Nhà nước đối với Hương ước trong lịch sử "

PGS.PTS Cao Van Biển

Vién Své hoe Viét nam

Chuyên để 7 : " Hương ước ( Quy ước làng ) nhìn từ góc độ quản lý Nhà nước "

PTS Lê Hồng Sơn,

Vụ pháp luật Tiùuh sự - Hành chính,

Bộ Tư pháp

Trang 8

MUC LUC

đáo cáo phúc trình

kết quả nghiên cứu đề tài

Chuyên, để 1: " Mấy nét về quá trình hình thành và

phát triển hương ước Việt nam '

Chuyên đề 8 : " Mot so nội dung co ban cilia Huong ude

qua các giai đoạn phát triển của nó "

Chuyên đề 8: " Hương tước và mối quan hệ giữa

Hương ước và pháp luật "

Chuyên để 4: " Mối quan hệ giữa †lương tước và pháp

luật và định hướng nội dung của Hương ước theo yêu

cầu xây dựng nồng thôn mới "

Chuyên dé 5: " Về cơ chế soạn thảo Hương ước

xưa và nay '

Chuyên đề 6: " Sự quản lý của Nhà nước đối với

Hương ước trong lịch gử "

Chuyên để 7: " Hương ude ( Quy ước làng ) nhìn từ

Trang 9

BAO CAO PHÚC TRÌNH

KET QUA NGHIEN CUU DE TAI

Trang 10

] HƯƠNG ƯỚC - SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIEN VA VAI TRO CUANO TRONG QUAN LY CỘNG ĐỒNG CƯ DÂN CƠ SỞ

Hương ước là các quy ước thành văn đò cư dân ở thôn làng tự đặt ra để góp phần quản lý điều hành sinh hoạt cộng đồng trong phạm vi 'của từng thôn, làng Nội dung của Hương ước một mặt phản ánh qui chuẩn của phong tục tập quán, mặt khác thể hiện ý chí của cộng đồng dân cứ trong việc quản lý các mặt đời sống xã hội, bảo vệ trật tự Đụ 4x Và các sinh hoạt văn hoa tinh than gan với đời sống thường ngày của cộng đồng ,

Hương ước gin với cộng đồng của từng thôn làng, được coi như ” cương lĩnh tính thần", ” Cương lĩnh nếp sống phong tục tập quán ” gồm các điều khoản quy định các ngùyên tác xử sự trong nhiêu mặt đời sống của thôn làng từ đặc điểm địa lý, lịch sử truyền thống đến khuyến khích phát triển sản xuất, bảo vệ trật tự, trị an, cảnh quan môi trường, di tích lịch sử văn hoá và quy định các thủ tục, cách thức tổ chức lễ hội truyền thống, thờ cúng tổ tiên, ma chay cưới xin, khuyến khích học hành, mở mang nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy tự quan trong cộng đồng Trên thực tế có thể ví Hương tước như một " bộ luật" của cư dân thôn làng Nó trực tiếp điều chỉnh không chỉ hầu hết các quan hệ giữa cá nhân người dân với nhau, giữa các gia đình dòng họ mà cả quan hệ với các cộng đồng thôn làng khác và với nhà nước Hương ước gắn bó mọi thành viên trong làng thành một cộng đồng chặt chẽ,

cô tôn ty, kỷ luật, điêu tiết các quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên trong

các mối quan hệ cụ thể nấy sinh trong đời sống sinh hoạt cá nhân gắn với gia _ định, dòng họ, với xóm làng theo đạo lý truyền thống và tỉnh thần của pháp luật nhà nước

Để góp phần làm rõ sự ra đời, bản chất, vai trò của Hương ước trong quản lý làng xã, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu Hương ước từ góc độ lịch

Theo tr liệu lịch sử, ngay từ thời vua Lê Thánh Tông, vào năm Quang Thuận thứ V (1464) nhà vua đã có đạo dụ xác định thái độ của triểu đình đối với việc các làng có phong tục mới lạ được ban hành Hương ước, công nhận trên

thực tế sự tồn tại của Hương ước bên cạnh pháp luật của triểu đình Sách

Hồng Đức thiệw chính Thư viết " Nhà nước có điều luật để chiếu vào đó mà thi hành ; dân an nước thịnh không nên có khoán ước riêng, để trừ bỏ cái hại, theo chính bỏ tà Nếu làng xã nào có những tục khác lạ, lập ra khoán tước và cấm lệ ất phải nhờ viên chức Nho giả người nào đứng tuổi, có đức hạnh ngay thẳng mới có thể tuân hành Khi đã lập ra khoán lệ rồi, phải trình lên quan

Trang 11

chức nha môn xem xét rõ các điều lệ có nên'theo, sẽ phê chuẩn cho mà thừa hành Nếu thấy trong khoán ước có điều thiên tư gian tà, thì phê chữ " bác", để

cho khỏi sinh ra những gian mưu Nếu người nào không dự vào việc lập ước

ấy, mà tụ họp riêng, thì cho phép xã quan tố cáo lên nha môn để trị tội, để bỏ

tục lệ, lấp hẳn sự cường hào tiếm đoạt" tụ

Ở đây cần phân biệt lệ làng và Hương ước, làng và xã Lệ làng là luật tục của cộng đồng công xã, còn hương (khoán) ước là lệ làng được ghi lại thành văn bản, là ” Bộ luật " chính thức bằng văn bản của một làng Còn làng

truyền thống Việt nam là công xã tụ cư mang tính dân sự, các quan hệ kinh tế -

xã hội phong phú phức tạp đan xen Cộng đồng làng là một thực thể, một đơn

vị hoàn chỉnh vẻ tín ngưỡng tôn giáo (đình chùa) về kinh, tế (chợ làng, ruộng đất công, nghề nghiệp) và với nhiều quan hệ hôn nhân - gia đình, họ hàng, láng giêng, kết cấu kinh tế - xã hội của làng vừa có tính chất phổ biến của làng Việt nam mang nhữngđặc thù riêng (mà hai - làng cạnh nhau vẫn có nét khác

nhau) Còn xã là địa bàn hành chính cơ sở ở nông thôn Nói chung, vào trước năm 1945, mỗi xã gồm vài ba làng gọi là " nhất xã nhị, tam thôn" cũng nhiễu trường hợp một xã chỉ có một làng gọi là " nhất xã, nhất thôn " Do đó nên

trong ngôn ngữ Việt nam thường có từ ghép " làng xã ",

Hương ước xuất hiện gắn liên với tổ chức làng xã nghĩa là gắn liên với

sự xuất hiện hiện tượng kết hợp cộng đồng dân sự với tổ chức hành chính Xết

về quá trình lịch sử, Hương ước có lẽ (sớm nhất cũng chỉ vào cuối thế kỷ XIV hoặc đầu thế kỷ XV trong cải cách của Hồ Quí Ly: Chuyển đối từ hương sang

Xã, từ xã quan sang xã trưởng Khi Le Thánh Tông hoàn thành cải cách hành

chính vào những năm 60 -70 thế kỷ XV thì Hương ước mới xuất hiện công

khai được chính quyền chấp nhận và can thiệp (như đã ghi chép trong Hồng

Đức Thiện chính thư)

Vào thời Lý Trần (Thế kỷ XI -XTV) đơn vị hành chính cơ sở là hương

Hương bao gồm nhiêu làng, có địa bàn rộng lớn,

Làng ở thời Lý và Trân là cộng đồng dân cư phụ thuộc vào quí tộc, quan lại và các hào trưởng địa phương Nhiều làng mang tên dòng họ, làng của họ Dương (Dương xá) làng của họ Trân (trần xá) làng của họ Nguyễn (Nguyễn xá) Làng xã Việt nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh (từ Bác trung bộ)

Trang 12

trở ra có khoảng 200 làng mà phần lớn đã có từ thời Lý Trân” Các làng trong thời này chịu ảnh hưởng, thạm chí chịu sự chỉ phối của quý tộc và hào trưởng

Cư dân trong làng bị phụ thuộc nặng nề vào tầng lớp thống trị của địa phương

Từ thế kỷ XV về sau, một bước ngoặt trong quá trình phát triển của làng Tầng lớp quý tộc, hào trưởng cũ bị suy yếu rồi tan rã, làng được nhà nước quản

lý trực tiếp thành thôn, thành xã Từ đấy về sau do kinh tế tăng trưởng, dân số

ngày càng nhiều, cộng đồng làng xã càng ngày càng chặt, yếu tố địa vực ngày càng nổi lên khép đóng làng lại Gia đình, tông tộc, phường, hội theo đà vận động của kinh tế - xã hội nổi lên thành cộng đồng nhỏ có hoạt động riêng trong

cộng đồng làng xã

Ở vùng đồng bằng sông Hồng đến thế kỷ XV (trừ vũng ven biển)đã được

cư dan Việt chiếm lĩnh hết, Zap thanh các làng,xã, yeu tố địa vực - Lãnh thổ thành chủ yếu đứng trên yếu tố dân cư Tập hợp làng là những cộng đồng đa nguyên về huyết hè, về kinh tế (nhiều nghề và sở hữu ruộng đất, vẻ thành phân xã hội (sĩ, nông, công, thương) về tôn giáo (tín ngưỡng dân gian hoà đồng với Nho, phật, đạo) về tổ chức xã hội (họ tộc, tư văn, phc giáp )

mà thời Lý Trần chưa rõ nét Từ thế kỷ XV về sau, làng Việt mang nhiễu yếu

tố của phường hội (thủ công nghiệpvà buôn bán) bên cạnh cư dân nông nghiệp, khiến cho nhiều làng có cấu trúc giống như công xã thành thi‘

Những yếu tố này cũng đồng thời tỏn tại, cùng hoạt động trên địa bàn cố

định Lang có khuynh hướng tự điểu chỉnh, tự tổ chức Đây là một trong

những yêu cầu (vừa là điều kiện) cho sự xuất hiện hiện tượng các lệ tục thành

văn bản như tộc lệ, tộc ước, phường lệ, phường quy, hội quy và tổng hợp

là Hương ước ra đời, một sự tự trị của làng xã.xuất hiện

Hương ước xuất hiện trong thế kỷ XV, và theo quá trình phát triển của làng Việt: tộc họ, phường hội, phe giáp tiếp tục được củng cố trong các thế KYXVIL, XVII cho đến đâu thế kỷ XX Những thành tổ phường hội họ tộc,

phe giáp này vốn riêng biệt về tổ chức nhưng lại có quan hệ chặt chế với nhau

về kinh tế xã hội (cùng chung tín ngưỡng, thành hoàng, đình, cùng một ngôi

chùa, cùng chợ, có ruộng công của làng xã ) có thể cho rằng làng Việt nam

trong cdc thé ky XVI, XVI về sau là cộng đồng tổng hợp chồng xếp các quan hệ:

3 Trương Hữu Quýnh chế độ ruộng đất ở Việt nam, NXB Khoa học xã hội, Hà nội, tập

f, tr 172

* xem Phan Dai Doan, làng Việt nam, mấy vấn dlkinh tế Xã hội NXH khoahoe Xã

hội, Hà nội, 1992.

Trang 13

+ Nhà nước (xã trưởng, lý trưởng)và xã hội đân sự (gia đình và thân tộc, phường hội và xớm ngõ) ©

+ Các tầng lớp xã hội với các nghề nghiệp khác nhau: Šĩ, nông công, thương, được phân chia thành giai cấp địa chủ, quan lại, sĩ phu, nông dân và

các tổ chức của các tầng lớp này

+ Sở hữu ruộng đất đa nguyên: Có công điển, tư điển,có các loại ruộng nửa công nửa tư (ruộng họ, ruộng giáp, ruộng hội) Đồng thời lại có thủ công nghiệp và buôn bán

+ Tín ngưỡng phức tạp, nhưng dung hợp trong ngôi đình, ngôi chùa

Vay là trong làng xã dẫu có nhiều tổ chức và quan hệ đa dạng phức tạp,

nhưng nó đã là một cộng đồng hoàn chỉnh, ổn định về kinh tế - chính trị - xã

hội Điều này là điểm khác biệt giữa nông thôn Việt nam (chủ yếu ở Bácbộ và

Trung b6) với nông thôn các nước lấng giéng Thai Lan, Camp uchia, Lào (có

đất rộng người thưa, một tôn giáo thuần nhất) Tổ chức bản làng của các nước này nói chung là lỏng lẻo, cũng có lệ làng, lệ bản nhưng không chặt chẽ như ở Việt nam và nông thôn Trung quốc, Nhật bản Có thể vì điều này mà ở các nước Thái Lan, Lào, Cămpuchia, lệ làng không thành văn bản, không phổ biến như ở Việt nam

4 Những điều lệ ' ràng buộc thành văn bản của làng xã Việt nam có nhiều

loại Có loại của họ tộc, có loại của xóm ngõ, có loại của phường hội và có

loại của cả làng xã với nhiều tên gọi khác nhau như khoán ước khoán lệ điều

lệ, hương lệ, tục lệ, giáp lệ

Trong từng cộng đồng bộ phận của làng có những quy ước sử dụng chợ

giếng, quy ước của xóm ngõ, làng có Hương ước chung cho cả làng, nhưng nội dung và giá trị pháp lý có phần giống nhau (đêu chỉ c6 giá trị trongmột phạm vi lãnh thổ nhất định và nhóm người nhất định) Đồng thời các phường lệ, hạng

lệ, đoạn ước trên vẫn song song tổn tại bố sung cho Hương ước Hương ước không thay thế cho các ước thúc của xóm, ngõ, phe, giáp, phường, hội

Văn bản Hương ước còn lại vào loại cổ là Mộ trạch xã cựu khoán (1665) được sao thành nhiêu bản để tại đình và các chức sắc trong làng cất giữ ngoài ra có loại được khác vào bia đá như Điều lệ bản giáp thạch ký(1733) tại

xã Đại Lâm (Yên phong, Hà bác) quy định về thể lệ cũng tế của cư đân trong một

giáp của Đại Lam Hoặc như Tam bảo thị bi kỷ (xã Phong xá Tiên sơn, Hà

bắc) ghi rõ điển ước sử dụng chợ Tam Bảo: " người nào chiếm đoạt, bớt xén, gian đối sẽ bị trời đất, thân phật trừng phạt" Văn bản khác đá " Tạo lập bản xã

5

Trang 14

trạo độ tự bị” (1817) cũng của xã Đại Lam nổi rõ quy ước sử dụng bến đò, tránh những va chạm trong làng (như tranh giành khách)

Như vậy, những quy ước sử dụng bến đò, giếng nước, chợ phiên đến ruộng đất, tế lễ, bảo vệ an ninh trong ngõ xóm, giáp, phe đêu có những điều lệ ước thúc cho từng người, từng gia đình, dòng họ, tùng bộ phận cộng đồng

đến cả làng xã Các tổ chức, các đơn vị từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao có quy

ước riêng, nhưng giữa chúng không loại trừ nhau (tuy nhiên không phải tất cả xóm ngõ, phe, giáp, phường, hội đêu có quy ước thành văn bản)

C6 nhà nghiên cứu cho rằng khoán ước của từng tổ chức nhỏ hẹp là tiền

để, là " tiên tấu " hoặc là " đồng tấu " của Hương ước làng xã Có thể như

vậy Hương ước không phải được hình thành một lúc là xong, mà nó được xây

dựng qua nhiều thể hệ, thế hệ sau viết tiếp thế hệ trước Các Hương ước làng

Mộ Trạch (Hai Hung) Hương ước làng Quỳnh Đôi (Nghệ An) được xây dựng

hàng trăm năm Hương ước làng Quỳnh Đôi có 115 diéu khoản được xây dựng

từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thé ky XX nay, c6 3 phần là khoán hội, khoán phe

và khoán làng Những điêu mục trong Hương ước Quỳnh Đôi để cập đến tất cả các mặt xã hội, văn hoá, giáo dục và kinh tế

Hiện tượng có nhiêu Hương ước và Hương ước có nhiêu điều khoản phong phú, phức tạp đêu có liên quan đến đân số và tình hình phát triển kinh

tế xã hội Rõ ràng làng nào dân số đông, nhiều thành phần kinh tế, nhiều

tầng lớp thì Hương ước phức tạp; ngược lại nếu đân thưa ruộng nhiều, nghề ít,

thành phần dân cư không đa đạng thì Hương ước giản đơn LàngViệt có tính tổ

chức, tự điều khiển theo khuynh hướng liên kết chặt, ổn định do đó dân đồng

"nhiều nghề thì Hương ước sẽ phong phú, phức tạp, để cập nhiều mật của

trong giai đoạn này cũng không cố gì thay đổi lớn, nhưng vẫn tiếp tục được

bổ sung, được duy trì Làng nào mà Hương ước còn giản lược thì tăng bổ thêm Một số làng khai hoang do Nguyễn Công Trứ tổ chức ở Tiên Hải Kim

Sơn ven biển châu thổ sông Hồng vào năm 1818-1829 cũng xây dựng Hương

ước Chẳng hạn như Hương ước ấp Thủ Trung gọi là " Hương trung tương ƯỚC

" biên soạn xong vào ngảy 2 tháng giêng năm Minh Mệnh 15 (1834) khá công

phu, có 212 điều với hàng chục chữ ký của các chức sắc, hương lão của ấp này."

+ Theo tài liệu của Nguyễn Cinh Minh - Đào Tố Liên, ” Công cuộc khẩn hoang

thành lập huyện Kim Sơn “(Ký Sửu, 1829), Kim Son, 1990, tr 147-148

é

Trang 15

Một số làng thuộc huyện Tiên Hải cũng lập Hương ước vào cuối thế kỷ XIX

như làng Đồng Châu, Đức Cơ

Từ Quảng Trị, Thừa thiên Huế trở vào đến Ninh Thuận, Bình Thuận phần

lớn các làng xã được thành lập vào thế kỷ XV về sau Sang đến thế kỷ XVIH,

XIX thi vùng đất này cũng đã xuất hiện nhiều Hương ước - Khoán ước Có lê bản khoán ước vào loại đấu tiên là " Vĩnh nghiệp điền thổ khoán " của làng Phúc Kinh (Hải lăng, Quá» trị quy định các điều khoản về sử dụng ruộng đất Ở một số làng lại có khoán ước từng phần, chẳng hạn như làng Câu hoan (Hải lăng, Quảng Trị)đồng thời có 3 văn bản là ” Định điển điều ước ” (1866),

" Hội ước quy định về lễ mừng và phúng điếu các bậc khoa bảng chức sắc “ (1859) và "Hội định quan hàm phương đanh ” (1863) Cả 3 văn bản này đều

có quy định xử lí theo từng loại quan hệ Hương tước hai làng Phú Bài và Dạ là Thượng (Hương Thuỷ - Thừa Thiên - Huế) được lập vào đầu thể ky XIX co

nhiều điều khoản phong phú quy định về việc bảo vệ cây rừng, sử dụng công

trình thuỷ lợi, bảo vệ đình chùa, miếu vũ”

Ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận vào cuối thế ký XVIH XIX

nhiêu làng có hương ước Theo ghi nhớ của các cụ già địa phương thì trước đây một số làng thuộc các huyện Điện Bản, Hoà Vang, Duy Xuyên (Quảng Nam) và các huyện An Nhơn Tuy Phước Phù Cát (Bình Định) cũng có hương ước,

khoán ước”

Vào thế kỷ XIX ở vùng Bắc Kỳ đã xuất hiện một số " làng Công giáo ” hoặc một số làng có đân giáo đân lương ở chung xen kẽ Tại một số làng này lại

cần có hương ước chung cho cả hai bên lương giáo Tiêu biểu như ” hương

ude lang La Tinh (Hoài Đức, Hà Tây) Có lẽ vào đầu thế ky XIX vé trước,

làng La Tinh đã có hương ước, nhưng chỉ phù hợp với đân lương Đến cuối thế

kỷ XIX, đân giáo (Công giáo) ở làng đã có một ty lệ cao, mâu thuẫn hai bên

làm cho các quan hệ trong làng không được hòa thuận Để giải quyết êm đẹp tình hình này, làng La Tình đã lập một bản hương ước chung cho cả hai bộ

phận dân cư vào tháng 9 năm Thành Thái thứ 8 (1896) Hương ước La Tinh ghi rõ: " Hai bên lương giáo xã La Tỉnh tại đình có đông đủ mọi người: hương

lý, hương trưởng, giáp trưởng, kỳ mục hương lão, xã binh, xã nhiêu,

+ Theo từ liệu Bùi Thị Tân, Đại học Tổng hợp Huế:

? Theo tư liệu Bùi Thị Tân, Đại học Tổng hợp Huế:

® Rat tiếc trong thời kỷ chiến tranh vừa qua, các tài liệu về hương ưóc của các dia phương trên đã bị mát hết Tác giả bài viết này cô khảo sắt, nhưng cũng không thấy tài liệu nào Có thể một số làng Ở Trả Kiệu (Duy Xuyên) côn lưu lại, nhưng chúng tỏi chưa

có điều kiện đến tận nơi.

Trang 16

thống nhất làm tờ khoán \ ước " Bản hương ước này có 17 điều quy định chung „

Đáng lưu ý là vùng đồng bằng sông Cứu Long, ở các tỉnh đông dân như

An Giang, Bến Tre, Long An dòng họ hoạt động khá mạnh; một số dòng ho

có gia phả, có tộc lệ, nhưng làng ấp của các tỉnh này cũng không có hương

ước Tại đây, làng ấp không bên chặt như Bắc Bộ; hơn nữa cư đân lại đi động nhiêu hơn, không cần có sự ràng buộc bằng hương tước Có lẽ đây là một lý do

mà hầu hết làng ấp Nam Bộ cho đến cuối thé ky XIX khong cé huong ude

2 Thời thuộc Pháp cho đến năm 1945 là một giai đoạn phát triển của

Hương ước Việt Nam Trong thời gian đầu khi mới đặt nên đô hộ trên đất nước

ta, nhà cầm quyên Pháp có ý thức lợi dụng bộ máy và cơ chế quần lý cũ sản có Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cho rằng: " Nhờ cơ cấu vững chắc của

làng xã An Nam trước mắt chúng ta không phải là hàng triệu cá nhàn mà chỉ

có vài ngàn tập thể tổ chức chặt chẽ và có kỹ luật, Hiên hệ với chúng ta theo từng

đơn vị khối mà chúng ta chỉ biết có Hội đồng kỳ mục mà thôi" '', Nhưng rồi sau đó chính quyền thực đán phải thực hiện một số cải tổ công cuộc quan lý

xã thôn, được gọi là " cải lương hương chính " (Reorganition de administration communal)

Trong ” cai luong hương chính ", Hương ước được chính quyên thực đân chú trọng Chính quyền thực đân vẫn duy trì Hương ước nhưng đưa ra khuôn

mẫu chung để làm chuẩn mực Các làng xã căn cứ vào khuôn mẫu này vận dụng vào từng địa phương cụ thể Do đó các Hương ước thời kỳ này vừa mang đặc điểm chung lại vừa phẩn ánh chỉ tiết đặc điểm quản lý địa phương Theo thống kê trong tập " Hương ước Việt Nam " (1991), tại Viện thông tin khoa học

xã hội Việt Nam (thuộc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia) có trên

5 000 bản Hương ước cải lương của các Tỉnh Bắc Kỳ, Trung Kỳ đến Dồng Nai

Thượng

Về đại thể các Hương ước cải lương có cấu trúc giống nhau theo thể thức

của chính quyền đưa ra, thường được chia ra thành hai phần " chính trị " và ” Tục lệ".Theo nhận định của nhà nghiên cứu sử học Nguyễn Quang Ngọc: ”

đành rằng việc khuôn tục lệ của các làng xã vào một khuôn mẫu chung thật

không phải là việc làm giản đơn, nhưng phải thừa nhận là trong công việc này thực dân Pháp đã có những thành công Hương ước cải lương trong thực tế đã góp phần hướng đãn và điều chỉnh các hành vi và lối sống truyền thống của

° Theo tài liệu của Bùi Xuân Dính, Viện Dân tộc học

19 Dân theo Phạm Xuân Nam, Cho Văn Biên, mấy nét về tình hình các làng xã tinh Bac Ninh thời kỷ 1921-1945 qua Hương ước.T/c Nghiên cứu lịch sử số 1-1994 tr 14

Trang 17

người nông dân trong mỗi một làng xã theo định hướng có lợi cho chính quyên

thực dân " !,

Có thể nói trên vùng đông bằng Bắc Bộ và Trung Bộ hầu như làng xã nào

cũng có Hương ước Chẳng hạn như Huyện Chương Mỹ (Hà Tây) thời Pháp thuộc có 78 đơn vị làng xã! thì cũng có 78 bản Hương ước Hoặc như huyện

Mỹ Hào (Hải Dương) có 50 đơn vị! làng xã thì ở lưu trữ thư viện Viện thông tin

khoa học xã hội có 43 bản có tên là Hương tước hay tục lệ (có thể do điều kiện tập hợp chưa đủ)

Hương trốc cải lương do các quan viên chức sắc, hương lão xây dựng trên khung luật nhà nước, nhưng có kế thừa luật tục làng xã (đặc biệt về tín ngưỡng,

về sinh hoạt tại chốn đình trung, về tục lệ khao vọng) Hương ước cải lương hấu như chỉ tập trung giải quyết những vấn dé dan sự thuộc nội bộ làng xã

chủ yếu theo tập quán truyền thống mà không đi quá xa vượt quá pháp luật,

chính sách Nhà nước đương đại Rõ ràng, Hương ước thể hiện tính tự trị, tự

quần trong hành lang pháp luật, là lợi thế khi quần lí nông thôn của chính quyền thực đân

Đáng lưu ý là trong số hơn 5 000 Hương ước trên có không ít loại Hương ước của " làng công giáo " hoặc là làng có dân giáo dân lương, chẳng hạn như các Hương ước các làng Doanh Châu, Trùng Quang, Trung Phương (thuộc Hải Hậu, Nam Hà) các làng Định Giáo, Thuý Dĩnh, Tén Thanh (thuộc Xuân Thuỷ, Nam Hà) Xin nêu một đẫn chứng tiêu biểu là Hương ước làng Lưu

Phuong (Kim Son - Ninh Binh) lập ngày 7/9/1922 Cũng theo khuôn mẫu chung,

Hương ước làng công giáo Lưu Phương (75% là giáo dân) được viết thành 3 thứ

chữ Quốc ngữ, Hán, Pháp và có hai phần điều lệ tổng cục (vê chính trị) và tục lệ

(riêng), tất cả cô 79 điêu lệ Ngoài phân thể hiện pháp luật đương đại, Hương ước quy định các hoạt động như vệ nông, ngụ cư, ký táng, quân phân điển thổ, hôn lệ, tang lệ, canh phòng : Hương ước cũng kêu gọi " Đoàn kết lương

giáo, ăn ở thuận hoà " '*,

Cũng như các Hương tước cũ, các Hương ước cải lương phải có đủ chữ

ký của lý trưởng, chánh hội Và nhất thiết Hương ước phải có dấu ấn và chữ

ký của trỉ huyện sở tại Điêu này thể hiện nội dung của Hương ước không trái với phép nước mà quan trí huyện đã xét duyệt * Người Pháp đã lợi dụng

nN Nguyễn Quang Ngọc, một số nhận định quản lý nông thôn được phản ánh trong

Hương ước cÃi lương của các làng thuộc huyện Chương Mỹ dâu thế kỷ 20.Bài viết cho

đề tài khoa học cấp Nhà Nước KXD8-09

12 Theo Ngo Vi Lién Nomenclature des communes du Tonkin (tén céc lang x4 Bac Ky),

Hà Nội, 1928 thì huyện Chương Mỹ có 80 đơn vị làng xã, huyện Mỹ Hào 06 50 don vi 3° - Nt

14 7âí liệu của Nguyễn Hồng Dương - Viện nghiên cứu tôn giáo

“+

Trang 18

được truyền thống quản -lý làng xã của người Việt thông qua Hương ước, khôn

khéo đưa luật pháp của nhà nước bảo hộ vào trong lệ làng, lệ làng hoá phép +

Quá trình bình thành, pháp triển của Hương ước cũ trong chế độ

phong kiến thể hiện tinh hai mat: một mặt, Hương ước có ưu điểm rất lớn là

duy trì sinh hoạt cộng đồng cư dân thôn, làng, hỗ trợ cho pháp luật nhà nước theo chiêu dưới lên ở tâm vi mô, góp phần duy trì an nỉnh, trật tự an toàn xã

hội, duy trì phong tục, tập quán, giữ gìn nên văn hiến và bản sắc dân tộc Việt

nam, phát huy tỉnh thân nhân đạo, tương thân, tương ái, hỗ trợ giúp đỡ lẫn

nhan trong cuộc sống sinh hoạt cộng đồng cư dân mang tính tự quản mà pháp

luật nhà nước, do đặc thù của nó, không thể quy định được hết Mặt khác,

Hương ước cũ cũng có những hạn chế như: Có nhiêu quy định trái thuần phong

mỹ tục, duy trì các hủ tục, là mảnh đất cho những tư tưởng cục bộ, chia rẻ rất đoàn kết, phân biệt đối xử, vi phạm quyền tự do đân chủ của công dân Và trong trường hợp bộ máy nhà nước yếu kém, không có sự quản lý hiệu quả thì

nội dung của Hương ước có thể có quy định không phù hợp với pháp luật

Có thể coi đây là bài học quản lý nông thôn của quá khứ lịch sử Các Hương ước cải lương được xây dựng trên nguyên tắc khá chặt chẽ, có chỉ đạo sát sao Trong thực tế, chưa thấy có Hương ước nào chính thức chống lại phép nước đương đại Câu tục ngữ " phép vua thua lệ làng ” đã để cho nhiều người mặc cẩm với Hương ước, xem nó như một đi sẩn độc hại Chúng tôi cho rằng:

nhận xét như vậy là thiếu khách quan " Phép vua thua lệ làng " là sẩn phẩm của các thời kỳ Nhà nước yếu, không quản lý nổi làng xã, để cho làng xã vận hành theo tục lệ riêng, không văn bản, theo sự điêu khiển riêng của quan viên chức sắc trong làng, bất chấp phép nước Nếu như Nhà nước mạnh, biết

cách tổ chức quản lý phù hợp với văn hoá tộc người và chặt chẽ thì ” lệ làng ”

phải tuân thủ " phép nước" Sau cách mạng tháng Tâm 1945, nông thôn Việt nam đã trải qua nhiều biến động lớn, qua nhiêu cải cách kinh tế xã hội, phương thức quản lý cơ cấu quản lý theo làng, thôn không được chú trọng, thay vào đó là cơ chế quản lý hành chính - kinh tế của bộ máy hợp tác xã nông nghiệp Cùng với việc xoá bỏ các Hương ước cũ, coi Hương ước cũ là di sản lỗi

thời, bất hợp pháp của chế độ cũ, chúng ta đã không đặt ra vấn để xây dựng

Hương ước mới

ˆ Trong phong trào hợp tác hoá mạnh mẽ trước đây, chúng ta sử dụng hợp tác xã trong việc tổ chức đời sống cộng đồng người nông dân ở cơ sở Trong thời kỳ này, ban chỉ huy đội sản xuất, ngoài nhiệm vụ quản lý kinh tế còn kiêm thêm nhiệm vụ quảnlý hành chính và văn hoá xã hội trên địa bàn thôn, làng Tuy có vai trò lịch sử quan trọng và đã để lại dấu ấn trong sự nghiệp phát

triển nông thôn Việt nam, cơ chế này đã không còn phù hợp trong điểu kiện

!s Aguyên Quang Ngọc một số nhận định về quân lý nông thôn tài liệu đã đâu

Trang 19

mới hiện nay, khi đường lối, chính sách phát triển nông thôn của Đẳng ta đã

Chính sách khoán hộ trong nông nghiệp là sự khởi đầu đưa chúng ta trở về

với phương thức quản lý nông thôn nông nghiệp phù hợp với quy luật tự nhiên,

với truyền thống Nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ

5 và nghị quyết hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 5 (khoa VII)

đã tạo điêu kiện, tiên dé để xây dựng một thiết chế chính trị, xã hội mới ở nông thôn Bên cạnh việc khẳng định vị trí chiến lược của cấp xã, cấp quần lý hành chính cơ sở, khẳng định vai trò của chính quyển cấp xã trong quản lý nông thôn, trong tổ chứquản lý xã hội - dân sự, quản lý các mặt kinh tế, văn hoá,

xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng điện, đường trường, trạm ở nông thôn, chúng

ta khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế hộ gia đình và lấy thôn, làng làm địa

bàn trực tiếp phát triển các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố chỉ bộ thôn,

bản, xác lập chức đanh trưởng thôn Sự tái lập cấp thôn với chức danh trưởng

thôn, là xác định tính tự quản, làm chủ của cộng đồng dân cư trên địa bàn

thôn, làng, đã thể hiện sự nhìn nhận hợp quy luật khách quan đặc thù của Xã hội Việt nam

Cùng với việc khẳng định, thừa nhận vị trí cấp thôn trong tổ chức đời sống sinh hoạt cộng đồng, chúng ta cũng nhìn nhận lại vai trò của Hương ước,

quy ước làng, coi Hương ước là công cụ thể hiện tính tự quản, tỉnh thần làm

chủ của cộng đồng cư dân trên địa bàn thôn làng Cả về mặt lý luận lẫn thực

tiến, thôn, làng là một chủ thể tích cực, là bước đệm, câu nối quan trọng giữa

chính quyền cấp xã, cấp quản lý hành chính cơ sở và người nông dân, hộ nông

dân, là địa bàn truyền thống để người nông dân tổ chức đời sống sinh hoạt cộng

đồng Và Hương ước, quy ước làng là công cụ hỗ trợ cho phấp luật nhà nước,

là sự kết hợp giữa pháp luật và phong tục tập quán, giữa truyền thống và hiện

đại, giữa quản lý nhà nước và tỉnh thần làm chủ, tính tự quản của nhân dân

trên địa bàn

Với cơ chế " Khoán ruộng cho các hộ nông dân " được thực hiện từ năm

1989 và xu hướn‡ tái lập làng tiểu nông đang hình thành rõ nét, nhiều làng ở

Bác bộ, Trung bộ đã tự nghiên cứu các Hương ước cũ, đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành để soạn thảo ra các bản Hương ước, quy ước làng

văn hoá

Năm 1993, xuất phát từ nhu cầu thực tiến của các địa phương cũng như

nhận thức được vai trò, mặt tích cực của các Hương ước, Nghị quyết Hội nghị

Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 (khoá VI) đã để ra chủ trương khuyến khích xây dựng và thực hiện Hương ước, các quy chế về nếp sống văn

minh ở các thôn, xã Hiện nay, việc xây dung và thực hiện Hương ước, quy

ước làng văn hoá ở địa phương đang trở thành phong trào có bể rộng và chiêu

11

Trang 20

sâu trên phạm vi cả nước: ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, ở cả các vùng đồng

bằng, trung du, miền núi, không chỉ trên địa bàn nông thôn truyền théng ma ~

cả trên địa bàn đô thị và được sử dụng như là một công cụ hỗ trợ, bố sung

cho pháp luật Nhà nước , thể hiện tỉnh thần làm chủ của cộng đồng cu dan thon,

làng Hương ước mới, quy ước làng văn hoá được soạn thảo theo tỉnh thần mới,

nội dung tiến bộ, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, có kế thừa

và phát huy những tỉnh hoa của Hương ước truyền thống, phát huy thudn phong

mỹ tục, để cao các chuẩn mực đạo lý và đạo đức truyền thống dân tộc đang đóng vai trò tích cực, hỗ trợ cho chính quyên cấp cơ sở và pháp luật của Nhà

nước trong quản lý mọi mặt đời sống xã hội trên địa bàn Tại nhiền địa phương

các Hương ước mới, quy ước làng văn hoá đang thực sự trở thành công cụ hỗ trợ đấc lực cho các đợt vận động duy trì an ninh, trật tự, phòng chống các tệ nạn xã hội, bài trừ matuý, mại dâm, mê tín dị đoan, nạn cờ bạc, phát huy

tỉnh thần nhân đạo, tương thân tương ái, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau phát triển kinh tế, ngành nghề, khuyến khích học hành, giải quyết các tranh chấp, những

vi phạm nhỏ trong nhân đân, xoá đói, giảm nghèo mà Đảng, Nhà nước và các cấp các ngành đang quan tâm hiện nay

Tuy nhiên, do chưa có sự định hướng và quần lý chặt chẽ của các cấp

chính quyền, việc ban hành và thực hiện Hương ước, quy ước làng xã đang có

nhiêu hạn chế như: Hoặc phục hồi lại một số quy định của Hương ước cũ về hủ

tục, tệ phân biệt đối xử, hạn chế các quyển tự do dân chủ của nhân đân, quy

định hình thức, mức xử phạt nặng nề, vi phạm các quy định của pháp luật hiện hành nhất là luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự, luật hôn nhân gia đình,

luật đất đại Hoặc Hương ước quá chung chung mờ nhạt thiếu hẳn tính đa

dạng, phong phú, thiếu bản sắc văn hoá dân tộc, không đi vào đời sống

nhân dân, không được nhân dân chấp nhận Những sai sót về nội dung nêu trên

hoặc do việc buông trôi, bỏ mặc của các cấp chính quyền, để cho việc biên soạn Hương ước tiến hành tự phát, khoán trắng cho một số cá nhân thiếu hiển biết pháp luật lẫn phong tục tập quán, hoặc do việc biên soạn Hương ước bị " hành chính hoá " thiếu sự chủ động tham gia xây dựng thảo luận của các tầng lớp nhân dân hoặc nhân dân chỉ tham gia một cách hình thức Xét trong môi

tương quan chung thi những nơi ban hành Hương ước tốt thường là những nơi

có bề dày truyền thống văn hoá, đân trí cao, chính quyển, đoàn thể mạnh Ngược lại những nơi dân trí thấp, chính quyền yếu thì Hương ước thường có

ước Tuy nhiên tại một số địa phương khác vẫn còn tình trạng bổ mặc, khoán

Trang 21

trắng chò cơ sở hoặc chó ngành van hoa - thérg tin chi đạo theo kiểu phong trào; ` thiếu sự phối hợp đồng bộ liên cấp liên ngành Xét trên bình diện cả nước,”

việc ban hành Hương ước, quy ước làng vẫn còn nhiều yếu tố tự phát, việc chỉ đạo không rõ ràng, dứt khoát và nhiêu lũng túng

Il NOI DUNG CO BAN CUA HUONG UGC QUA CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIÊN

1- MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HƯƠNG ƯỚC TRƯỚC CẢI

LƯƠNG HƯƠNG CHÍNH (TỪ 1921 TRỞ VỀ TRƯỚC)

Trước khi trình bày những nội dung cơ bửwøáa Hoảng d#, xin giới thiệu đôi

nét về diện mạo của nó về mặt văn bản Như đã trình bày, những bản lệ làng thành văn trước cuộc cải lương hương chính của thực dân Pháp đều đo các làng

xã tự soạn thảo Bởi vậy, cả nội dung và hinh thức đều không hoàn toàn nhất

quán với nhau Vẻ hình thức, đa số các bẩn Hương ước đều được viết trên

giấy Có làng khác Hương ước trên ván gỗ (làng Thọ Trai, Hà Bắc), có làng lại khắc trên các lá đồng (sách đồng làng Đông Lao - Hà Tây) Tuỳ theo cách

ghi chép của từng làng mà Hương ước được gọi bằng những tên khác nhau: hương biên, hương khoán, hương lệ, khoán ước, khoán lệ, tục lệ, cự khoán,

điều ước, điều lệ Trong nội dung của nó, tuỳ điều kiện cụ thể của từng làng

mà mỗi bản Hương ước gồm nhiêu hay ít các điêu khoản và tỷ lệ các điều

khoản của từng vấn đề có những chênh lệch khác nhau và sự sắp xếp chúng

cũng theo những trình tự khác nhau Ở những làng " nho học ”, làng ” khoa

bảng", các điểu khoản khuyến khích việc học hành, quy định các chế độ của làng đối với những khoa cử chiếm nhiều hơn và được ghi lên trên đầu (làng

Quỳnh Đôi thuộc tỉnh Nghệ An) Những làng có nhiêu người làm quan, các

điều khoản quy định việc khao vọng, chúc mừng lại chiếm vị tí đâu tiên và với

số lượng nhiều hơn đàng Mộ Trạch thuộc tỉnh Hải Hưng) Ở các làng có chế độ thờ cúng phiển phức (nhất là các làng thờ những vị thành hoàng là người có

công với đất nước ) thì các điêu khoản liên quan tới lịch thờ cúng và các nghỉ

lễ hội hè lại chiếm số lượng nhiều hơn,chẳng hạn Hương ước làng Yên Sở (Hà

Tay), lang Đào Xá (Vĩnh Phú) Những làng mà sự phân tầng " đẳng cấp"

trong cộng đồng phức tạp thì các điều khoản liên quan tới vấn để này chiếm một

số lượng đáng kể (cũng Hương ước làng Yên sở) Có những làng dành ra những bản khoán ước riêng đối với một số vấn để nào đó của đời sống làng

xã, chang hạn: Kiêu trì tam phiên khoán (khoán về tổ chức 3 phiên của thôn kiểu trì, xã Phú điễn huyện Từ Liêm (Hà nội), hay khoán hội, khoán phe (khoán

về việc tổ chức hội tư văn) của làng Quỳnh Đôi (Nghệ An)

18

Trang 22

Về nội dung cụ thể của Hương ước do mỗi làng, tuỳ theo đặc điểm riêng

mà cĩ những tập tục, qui ước riêng; bởi vậy, nhìn chung các điều khoản phi

trong Hương ước rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, chất gạn những di biệt của từng làng, chúng tơi thấy, Hương ước phản ảnh những nội dung chính sau

4/ Trước hết là những qui ước liên quan tới các thiết chế tổ chức trong

làng, chức năng, quyền hạn và lê lự làm việc của từng tơ chức cũng nhĩr của

các thành viên trong đĩ: Các thiết chế đĩ là xĩm ngõ (tổ chức tập hợp người

theo lớp tuổikết hợp với huyết thống, địa vuc cu tri); déng họ (tẾ chức tập hợp người theo quan hệ huyết thống), phe giáp (tập hợp người theo địa vực kết hợp dịng họ của nam giới), phường hội (các tế chức tập hợp người theo nguyên

tắc tự nguyện đựa trên nghề nghiệp chức nghiệp) và bộ máy quản lý hành chính

làng xã (hội đồng kỳ mục và lý dịch)

Cĩ thể cơi các qui ước về thiết chế tổ chức này nhằm quản lý con người

và làng xã theo chiều ngang (hay theo mãt bằng.)

b/ Những quy ước về các quan hệ xã hội hay thứ bậc xã hội bao gồin các

Lão quyên: Quyền người già trong làng

Nam quyền: Quyền của nam giới trong sinh hoạt làng xã (chỉ cĩ nam

giới mới được vào giáp, mới được ra đình, nam giới mới được cơi trọng)

Phu quyền: Quyển của người cha trong gia đình chịu trách nhiệm về moi hành vi của các thành viên trong gia đình

Trưởng quyền: Quyền theo vị trí ngơi thứ, căn cứ vào phẩm hàm, chức tước, bằng sắc và tài sản Đây là quan hệ " trội nhất ", chủ đạo nhất, xuyên suốt đời sống làng xã

Cĩ thể coi đây là những quan hệ xã hội theo trục đứng mà nét nổi bật là sự

phân biệt giữa " quan viên "và " bạch định", giữa già và trẻ,giữa " trên " và " dưới, giữa nam và nữ, giữa chính cư và ngụ cư

Trước hết, là các điêu khoản về phân định ngơi thứ trong làng theo bằng

cấp, phẩm hàm, chức tước, tài sản và tuổi tác tuỳ điều kiện mơi làng

Trang 23

Đi kèm là các điều khoản quy định chức năng, quyên hạn, quyền lợi và

nghĩa vụ của các thang bậc xã hội trong chia ruộng đất công, hội hợp ở đình để ` bàn việc làng, việc biện lễ và tế lễ, thờ cúng thành hoàng, vị trí ngôi thứ ở chốn đình trung, việc phân chia phần biếu Những quy định cụ thể tuỳ theo đặc điểm của từng làng, -nhưng xu hướng chung là những người ở thang bậc cao thường được trọng vọng và được hưởng quyền lợi nhiều hơn về mọi mặt Đây là vấn để nổi bật nhất trong đời sống xã hội làng xã cế truyền

Những quy ước về việc cư xỈ giữa người với người trong làng xã chiếm

số lượng tương đối lớn trong Hương ước Nhìn chung, Hương ước đề cao tỉnh thần đoàn kết, đùm bọc làng xóm Điều này thể hiện ở chỗ, trong Hương ước của nhiễu làng, trước khi trình bày các điêu khoản cụ thể, déu khẳng định

những mặt tốt đẹp trong quan hệ giữa người với người trong làng và mong muốn

lap khoán ước để giữ gìn những quan hệ tốt đẹp ấy Có làng còn đưa cả lời thé

và " Lê minh thệ " vào Hương ước, khuyến khích dân làng ăn ở hoà thuận Hầu hết các làng có những điều khoản phạt những cá nhân vi phạm Có làng,

Hương ước còn phạt cả những người đi ra khỏi làng gây sự với người làng

khác, đi chợ tống, chợ huyện mà ý thế lăng mạ, đánh nhau với người làng

khác, ức hiếp, mua của cải thì bị dẫn đi bêu ở chợ và đuổi về Nếu có người làng khác đến tự ý tháo đê thì người giữ đê của làng phải giữ lại, cho người

trình quan viên trong xã, không được gây gố, nếu để gây gổ kiện tụng thì người giữ đê ấy phải chịu tội

Hương ước cũng để cao việc mọi người giúp đỡ nhau trong đời sống hàng -ngày Điều 74 Hương ước làng Quỳnh Đôi quy định mọi người phải đến giúp người khác lợp nhà, đưa ma mà không cần lời mời, khi đưa ma thì tuỳ tang chủ kính biếu, không được đòi hỏi Điều 83 có ghi : " ai gặp người già cả mà

không giúp sức mang vác thì bị phạt", hoặc ở điều 97: gặp loạn lạc, người

trong làng phải giúp đỡ nhau, nếu không, khi trở về làng bị phạt 20 quan (tiên

năm 1802) mới được ghi tên lại vào số làng (tức mới được công nhận lại là

thành viên của làng ), mới được làm nhà trong làng

Tuy nhiên, ˆ khi để ra những quy ước về quan hệ giữa người với người trong làng xã, một số làng đã có những quy định " quá tẩ”, hoặc che đấu những

" tính xấn " của người làng mình, hoặc gây bè kéo cánh Đối với người ngụ cư,

hầu hết các làng đều quy định hai điều kiện để họ được trở thành dân chính cư:

Một là phải sinh sống ở làng ít nhất được 3 đời; hai là, phải có của cải để

khao vọng Dân ngụ cư bị dân hàng xã khinh miệt, không được sinh hoạt ở

giáp, ởlàng Trong bối cảnh xã hội phong kiến, các quy định về quan hệ

giữa con người với con người trên đây cũng thấm nhuần tư tưởng nho giáo

Điều đó phần nào thể hiện ở ton ty trật tự đẳng cấp

15

Trang 24

Mot khia canh khác của quan hệ xã hội làng xã được phản ánh trong Hương ước là những quy định về người gia trong làng xã Nội dung của các ø

qui định này liên quan đến:

- Tuổi lên lão (đa số các làng đều quy định ở tuổi 50 hoặc 55)

- Nghĩa vụ của người lên lão (khao lão hay vọng lão)

- Quyên lợi của các hạng lão liên quan tới ngôi thứ ở đình, khẩu phần

ăn uống mỗi khi làng, giáp có tiệc lệ, khẩu phần ruộng đất công các quyền lợi

vật chất khác khi làng tổ chức mừng thọ, quyên tham gia vào các việc quản lý làng xã, trong tế lễ rước xách Nhìn chung, hầu hết các làng đều có những quy ước chiếu cố đến quyền lợi của các bạc người già cả,người cao tuổi

Một khía cạnh khác liên quan tới thiết chế tổ chức và các quan hệ xã hội làng xã được phản ánh qua Hương ước là việc chia cấp ruộng đất công mỗi

làng đều có lệ chia cấp riêng Trong thực tế, từ đâu thể kỷ XIXtrở đi, chỉ trừ

các làng ở ven sông hay các làng xã được hình thành dưới hình thức Nhà nước khẩn hoang, ruộng đất công còn nhiều, việc chia cấp mới tuân thủ những quy định của Nhà nước phong kiến; còn đa số các làng có Ít ruộng công, việc chia cấp được vận dụng linh hoại

1-2 Những quy ước về bảo vệ an nính làng xã

Bảo vệ an ninh, trật tự trị an làng xã là một khái niệm rộng Ngoài các

điêu khoản nhằm ngăn ngừa việc đánh chửi nhau, các Hương ước đều có các điêu khoản ngăn chặn, hạn chế nạn trộm cấp, tệ cờ bạc, ngăn ngừa quan hệ nam nữ bất chính theo phong tục Cùng với những quy định ngăn cấm, các

Hương ước đều có quy định hình thức mức độ xử phạt những người vi phạm:

phạt tiên, đánh roi, cát tóc gọt đầu bôi vôi, thả bè trôi sông.V.V

Việc giữ gìn trât tự trị an thôn xóm gan lién với việc tổ chức tự vũ trang

bảo vệ làng xã Đây là một trong những vấn đề sống còn và thường xuyên của từng làng, được quy định tỉ mỉ trong Hương ước Có làng còn lập ra khoán ước riêng về điều lệ canh phòng như Kiểu trì tam phiên khoán vừa dẫn ở trên

Mỗi làng có những qui ước riêng vể việc tổ chức vũ trang, canh phòng với những nét chung như sau: Trước hết, làng xã cơi trọng việc lập các điểm canh, điểm tuần phòng, việc trang bị khí giới và đặc biệt là việc trồng, tu bổ

và bảo vệ các luỹ tre bao quanh làng - Bộ áo giáp và " biểu tượng " của làng

xã Hương ước quy định trách nhiệm của từng xóm ngõ, phe giáp trong việc -

bảo vệ và tu bổ các luỹ tre theo định kỳ hàng năm, và phải chịu sự kiểm tra của

các chức dịch Cùng với những quy ước trên, Hương ước cũng quy định tỷ mỹ

việc lập ra lực lượng vũ trang hay các hội dân binh làng xã Trên đại thể, công việc này được thực hiện theo các quy tắc sau:

Trang 25

- Các nam giới từ 18-49 tuổi (trước tuổi ¡ lên - lão và thường là người „ không có ngôi thứ ở đình) của các xóm được tổ chức thành các đội đân bình

thường gọi là phiên tuần hay hàng phiên

- Trai định của mỗi xóm được lập thành một đội gọi là một phiên Môi phiên lại chia thành nhiêu nhóm gọi là các dâu hay các bàn, lần lượt thay nhau

làm nhiệm vụ Cũng có làng chỉ lấy vào phiên những người từ 18-30 tuổi, lập thành những đội cơ động với số người nhất định Qua tuổi 30, họ được nghỉ

để lớp tuổi kế tiếp lần lượt thay thế

- Phiên tuân của các xóm chịu sự điều động của trưởng phiên hay trùm phiên, có nơi gợi là khán thủ Tất cả dưới quyền điều hành của người phụ

trách việc bảo vệ trật tự trị an của làng xã là quản xã, xã khán hay trương tuần (Vùng Thanh - Nghệ, Tĩnh gọi là hương kiểm) tuỳ tên gọi của từng làng

Chế độ tuần tra, canh gác của các đội tuân phiên trên đây tuỳ thuộc tẬp tục từng làng, đồng thời các Hương ước đều có quy định nghĩa vụ cư dân phải tham gia chống trộm cướp Các Hương ước cũng quy định cụ thể biện pháp thưởng phạt đối với những người có công hay những người vi phạm các quy định nêu trên

1-3 Những quy ước nhằm bảo đảm đời sống tâm linh của cộng đồng

Đây là các điều khoản về tôn giáo, tín ngưỡng mà việc tổ chức thờ củng

Thành hoàng là trọng tâm Nội dung cụ thể gồm:

- Lịch thờ cúng (số lễ vật, loại lễ vật)

- Việc tổ chức biện lễ thờ cúng

Thông thường làng giao cho các Giáp thay nhau hoặc cùng nhau đảm

nhiệm, trong đó mỗi năm hay mỗi kỳ cầu cúng có một Giáp đăng cai, chịu trách nhiệm chính Các Hương ước cũng quy định chỉ tiết chặt chế việc thờ cúng rước xách, tế lễ.Gắn với các nghỉ thức này là các quy định phân biệt ngôi thứ các hạng dân trong làng khi tham gia tế lễ cũng như hưởng phần được chia (Lễ vật) sau khi tế lễ Những kiêng ky trong các dịp hội hè, tế lễ cũng được quy định cụ thể nghiêm nghặt

Ngoài việc thờ cúng thành hoàng, tế lễ, Hương ước còn có các quy định

về việc thờ phật Nhiêu làng có các quy định về việc tổ chức các nghỉ lễ liên

quan đến sản xuất nông nghiệp như lễ gieo mạ, lễ xuống đồng, lễ lên đồng

lễ cơm mới v v,

17

Trang 26

1-4 Những quy woe vé viée bdo dim caéc nghia vu vot Nhà nước

Ngoài các qui ước nhằm giải quyết công việc trong làng, Hương ước còn

có những điều khoản nhằm bảo đảm các nghĩa vụ của làng đối với Nhà nước phong kiến Trước hết là nghĩa vụ sưu thuế, gồm có hai loại:

Thuế định (thời Pháp thuộc gọi là sưu) đánh vào các nam giới từ 18

đến 60 tuổi và thuế điển (thuế ruộng đất) Thông thường mỗi năm đến kỳ bổ thuế, lý trưởng của xã đem bài chỉ thuế về, hội đồng kỳ mục họp với đại diện các Giáp xét duyệt lại số thuế phải nộp đối chiếu với sổ đình, số điển hiện có,

từ đó phân bổ cho các Giáp Trửơng Giáp phân bổ thuế cho các đối tượng và

nhận rồi nộp cho lý trưởng; lý trưởng nộp cho đại diện chính quyền Nhà nước cấp trên - Bảo đảm đủ thuế cho Nhà nước là việc hệ trọng đối với làng xã

và mỗi người nông dân Hương ước của các làng đều có những điều khoản liên quan tới việc nộp thuế, việc phạt những cá nhân không nộp đủ thuế hay lợi

dụng dịp thu thuế để kiếm lời

Sau việc sưu thuế, là việc bảo đảm các nghĩa vụ binh dịch Tuỳ từng thời

kỳ, Nhà nước bổ cho các làng một số lượng lính nhất định Tuổi đăng lính,

quyên lợi và nghĩa vụ của người đi lính, việc xử phạt những người trốn lính (chưa tại ngũ cũng như đang tại ngũ) Tất cả đều được ghi trong Hương ước Tiêu biểu là Hương ước làng Quỳnh Đôi, các điêu khoản về người đi lính, chiếm tới 18 trong tổng số 118 điều của bản Hương ước Nói chung, trai đỉnh

của các làng từ 18 tuổi bắt đầu phải ghi tên vào sổ đăng lính để nhà nước điều

động Những người đi lính đên được làng xã dành cho một số ruộng đất công

(gọi là binh điển hay ruộng lính) nhiều ít tuỳ từng làng

1-5 Những quy ước về khen thưởng xử phạt

a) Các hình thức khen thưởng

Hình thức phổ biến nhất mà các làng áp dụng cho tất cả các loại công

trạng là thưởng tiền hay hiện vật (chủ yếu là gạo, thóc) Số này được trích ra

hoặc từ công quỹ, hoặc của người vi phạm mà người được thưởng đã có công phát hiện hay cáo giác, tuỳ tập tục từng làng, tuỳ mức độ công trạng và

tuỳ thời giá

Một hình thức khen thưởng khác mà các làng áp dụng cho người có công

là ban thêm hay tăng vị tí ngôi thứ trong làng, tuỳ thuộc vào công trạng và có khi là thành phan xuất thân của người đó Ở làng Vĩnh Lại, sỉ bất được kể gian, ngoài các quyền lợi khác, còn được phép khao vọng để vào tư văn ; nếu

người ấy là đân ngụ cư thì được công nhận là dân chính cư ngay Những người

đến ở làng mà tham gia bất được trộm cướp cũng được thưởng như dân làng

a

Trang 27

Cho giảm bớt một số nghĩa vụ phải đóng gộp đối với người có công cũng là hình thức khen thưởng của lệ làng Hình thức này chỉ áp dụng đối với

nhữngcông trạng chống trộm cướp, ai bất được cướp, ngoài việc được phép

khao vọng còn được miễn việc quan dịch Ngoài việc khen thưởng, làng xã

còn có các khỏan bổi thường cho những người bị thiệt hại trong khi làm nhiệm

vụ, đặc biệt là trường hợp bị thiệt hại khi tham gia chống bất trộm cướp

Ngoài tiễn trợ cấp thương tật hay tiền tuất, người bị nạn còn được giảm các

nghĩa vụ đóng góp, không chỉ của bản thân mình mà đôi khi của cả con cháu,

có khi cả con rể, ;

b) Các hình thức xử phạt:

Những người vi phạm lệ làng phải chịu một trong những hình phạt sau:

- Phạt tiền hay hiện vật (trầu lợn, gà, trâu, rượu) tuỳ theo mức độ của hành vi vi phạm Số tiền nộp phạt được nộp vào công quỹ sau khi đã trích một

phân (thường từ 2-3/10)để thưởng cho người cáo giác Các hiện vật thu được nếu ít và nhỏ (như gà, trầu, rượu) thường do những người đảm nhiệm các công việc có kể vi phạm- quản lý và sử dụng Nếu hiện vật là trâu, lợn thì để làng

“an va" Trường hợp này thường áp dụng đối với những cá nhân vi phạm

nghiêm trọng (làm mất danh dự của làng, không tham gia bất trộm cướp, xám phạm phần biếu hay vị trí của người khác đến mức kiện cáo, thù hần nhau v

v) Có trường hợp, toàn bộ nam giới trong làng đến " ăn vạ ", ai không có

mặt thì được chia phần, ăn hết bao nhiêu, đương sự phải chịu Trong trường

hợp ấy đương sự chỉ có " mất nghiệp"

- Bất bồi thường thiệt hại là hình thức xử phạt thứ hai của lệ làng Mọi hành vi vi phạm quy ước, xâm phạm và làm hại đến quyên lợi, của cải riêng của người khác cũng như của làng, đương sự không chỉ chịu nộp phạt mà còn phải trả lại, đến bù cho người bị mất hay bị thiệt hại Đối với người làm nhiệm vụ hay người có chức quyên vi phạm, việc xử phạt còn nghiêm khác hơn

~ Đánh đập cũng là hình thức xử phạt mà làng xã áp dụng, nhằm làm cho

kể vi phạm " đồn đau nhớ đời " Đa số các làng đêu đánh bằng roi va gay Mức thấp nhất là từ 30 roi ( hay gậy) trở lên Việc đánh đập thường áp dụng đối với đân thường Chẳng hạn, ở làng Mộ Trạch, nếu quan viên đánh chửi nhau thì phạt tiên và hạ ngôi thứ, nhưng nếu là thường dân đánh chửi nhau thì

nam đánh gậy, nữ đánh roi, với mức độ 100-50-30 gậy, roi, tuỳ theo tội nặng

nhẹ Tương tự, ở thôn Lộc Dư, chỉ những ai có ngôi thứ từ bàn thứ tư trở xuống bị đánh 30 roi, còn từ bàn ba trở lên thì bị hạ ngôi thứ

- Hạ vị trí ngôi thứ của kẻ vi phạm cũng là hình thức xử phạt nặng của lệ làng Như đã trình bây, toàn bộ đân làng được phân định thành những cấp bậc

19

Trang 28

riêng tuỳ theo bằng cấp, phẩm hàm, chức tước, tài sản và tuổi tác Vị trí ngôi

thứ của từng người liên quan tới quyển lợi về nhiều mặt ; khẩu phần ruộng đất công, phần chia biếu, những nghĩa vụ được giảm bớt, hay phải gánh vác

Đó không đơn thuần là quyên lợi vật chất mà còn là uy thế chính trị, tỉnh thuần, là niềm tự hào của mỗi người và của con cháu họ Mất ngói thứ hay bị

giángchức, giáng ngôi thứ không chỉ mất quyên lợi vật chất mà còn mất thể

diện và mất danh đư trước dan làng Bởi vậy, ngăn ngừa và hạn chế việc vi

phạm lệ làng bằng hình thức hạ thấp vị trí ngôi thứ, nhằm đánh vào cả uy thế

chính trị và quyền lợi kinh tế của những người muốn vượt khỏi " khuôn phép

" của làng - Đó là hình thức xử phạt tỉnh vi của lệ làng

- Một hình thức xử phạt khác mà khá nhiều làng áp dụng đổi với những

trường hợp vi phạm lệ làng một cách nghiêm trọng, đó là việc đuổi khỏi làng

Có thể nói đây là mức hình phạt cao nhất của làng xã đối với kể vi phạm Bởi vì, đối với người nông dân Việt xưa kia, làng là tất cả, làng là nơi có ruộng vườn riêng của họ tạo ra những nguồn thu nhập theo lối tự cấp tự túc Bị đuổi khỏi làng, không khác gì " án tửhình " đối với họ Đấy là căn nguyên sâu xa của

việc các làng xã áp dụng hình thức xử phạt này

Ngoài các hình thức xử phạt trên đây, một số làng còn áp dụng các hình thức lệ biệt khác Làng Quỳnh Đôi có lệ định, vào địp giáp hạt, hay mưa

gió, bão lụt, nếu những gia đình nào giấu có, dân làng đến hồi vay mà

không cho vay, lại để thóc đem bán với giá cao, làng sẽ không cho người đến lam thuê mướn trong vụ cẩy cấy hay gặt hái Đây là một biện pháp nhằm ngăn

chặn những người giầu có đầu cơ trong thời kỳ đói kém (Thực ra, làng xã

không có quyên lực tuyệt đối để có thể ngăn chặn xu hướng phân hoá giầu

nghèo tất yếu xẩy ra của một xã hội có tư hữu ) Một hình thức khác ma một số làng áp dụng đó là việc tẩy chay đám ma của kẻ vi phạm Trừng phạt những

người vi phạm lệ làng bằng sự đe doạ, tẩy chay đám ma là hình thức xử phạt

nặng nề của làng xã

Xem xét các hình thức xét xử của lệ làng, có mấy điểm đáng lưu ý:

1- Môi người vi phạm lệ làng không chỉ chịu một mà thông thường phải chịu hai, ba hình thức xử phạt một lúc Sự kết hợp các hình thức phạt tiền

đánh đập hạ ngôi thứ và đuổi khỏi làng, v v Là nết phổ biến trong cách

xét xử của làng Chính điêu đó góp phần làm táng thêm tính chất nghiêm khác

của tục lệ hạn chế và ngăn ngừa các vụ việc vi phạm

2- Khi xử phạt, nếu là lỏi nhẹ (phạt trau, rượu, gà hay tiền với số lượng

ít) thì những người phụ trách bộ phận có kẻ vi phạm, trực tiếp xét xử Trường

hợp vi phạm nặng (với hình thức phạt trâu, lợn, có cỗ bàn ăn trống), phải có sự hop ban thống nhất của cả hội đồng kỳ mục và hội đồng lý dịch, trong trường hợp này, sau khi có quyết định xử phạt chính thức có hiệu lực, mõ làng đảm nhiệm việc thông báo với toàn thể đàn làng

Trang 29

3-Nói chung, làng xã áp dụng chế độ xử phạt trực tiếp với kể vi phạm (ai<

làm người ấy chịu) Song ở một số làng, trong một số trường hợp, lệ làng áp

dụng chế độ liên đới chịu trách nhiệm, chịu sự trừng phạt của lệ làng

Sau cùng, xét tới quyền lực của làng trong việc giải quyết những kiện cáo trong làng Nói chung làng nào cũng cô quy định được ghi trong hương ước: Tất cả các thành viên trong làng khi có mâu thuẫn xích mích hay tranh chấp với

nhau phải trình làng phân xử Làng xử không được mới được phép đưa lên quan trên Ai tự ý kiện lên quan trên không thông qua làng hay nếu không bằng lòng với việc làng phân xử thì mà tiếp tục dua kiện quan trên, nhưng quan trên xử giống như làng xử thì không chỉ bị phạt, mà còn phải chịu những phí tổn chỉ cho việc kiện cáo ấy

Để bảo đấm tính chất nghiêm minh của Hương tước ở đa số các làng, vào tháng giêng hành năm, thường tổ chức lễ mỉnh thệ (lể ăn thể) đem

Hương ước ra đọc cho toàn dân làng nghe và thể tuân thủ theo Hương ước Ai

vắng mặt phải có trầu, có xin phép, nếu vắng mặt vô lý do bị phạt Như vậy dưới góc độ pháp lý, các bản Hương tước có những yếu tố Sau:

1- Đó là những quy ước của cộng đồng làng buộc mọi tổ chức và thành

viên trong đó phải tuân thủ nghiêm túc

2- Hâu hết các điều khoản ghi trong Hương ước quy định quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn của cá nhân đối với cộng đồng ; gan lién với đó là những quy định thưởng phạt, khuyến céo va ran de nhằm thực thi

2- HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG

Phần trên là những nội dung cơ bản của các bản Hương ước được soạn thảo trước khi thực dân Pháp can thiệp vào làng xã Tuy vậy, cần lưu ý rằng không phải bản Hương ước nào cũng cô đầy đủ những nội dung trên

Như đã trình bây, tuỳ điều kiện cụ thể của từng làng mà Hương ước có nội

dung đài, ngấn và những điều khoản liên quan đến các mặt của đời sống làng

21

Trang 30

xã chiếm tỉ lệ và vị-trí khác nhan đồng thời áp dụng những hình thức xử phạt khác nhau Đây chính là biểu hiện của tính đa đạng và cũng là tính độc lập+

tương đối của làng xã

Nam 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt nam Việt nam từ một

xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến mà đặc trưng cơ

bản là sự cấu kết giữa đế quốc và phong kiến Trong hơn hai mươi năm, từ

những năm cuối cùng của thế kỷ XIX, đến đại chiến thế giới lấn thứ nhất, thực

dân Pháp giữ nguyên cơ cấu làng Việt cổ truyền,, duy trì những hủ tục nặng nề, kìm hãm nông thôn và nòng đán Việt nam trong vòng lạc hậu để đê bề thống tri,

vơ vét và bóc lột Trong tình hình đó, những bản Hương ước vẫn tồn tại và trong chừng mực nhất định, có tác dụng phục vụ ý đồ của thực dan Pháp trong việc quản lý nông thôn Việt nam Thậm chí ở một số làng, những

năm đầu tiên của thế kỷ XX vẫn còn soạn thảo Hương ước

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc

khai thác thuộc địa lần thứ hai đối với Việt nam và các thuộc địa khác Để

nắm được nông thôn nhằm phục vụ đác lực cho chương trình khai thác bóc lột thuộc địa, lôi kéo nông dân khỏi ảnh hưởng của cách mạng, thực dân Pháp phải có một chủ trương mới đối với bộ máy quản lý làng xã và các tục lệ ở nông

thôn Bọn cai trị Pháp cho rằng, cách tổ chức làng xã cổ truyền với hai bộ

phận: hội đồng kỳ mục và hội đồng lý địch rất lỏng lẻo tuỳ tiện, kém hiệu

lực, gây ra sự lũng đoạn của chức dịch làng xã, tạo ra một tầng lớp cường

hào đục khoét nông dân, lừa dối chính quyển bảo hộ bên trên về các nghĩa vụ sưu thuế binh dịch, sử dụng bừa bãi công quỹ, lấn chiếm miộng đất công, duy

trì các hủ tục, cắt xém tham 6 các khoẩn tiên cheo, tiên mua bán ngôi thứ -tiền

để xây dựng các công trình công cộng, gây ra sự bất bình trong nhân dân

mà mũi nhọn chính chĩa vào những người Pháp Bởi vậy "-phải hạn chế nạn

cường hào hoành hành ở nông thôn " - Như báo chí của thực dân Pháp hỏi đó

tuyên truyền - bằng cách cải tổ bộ máy quản trị làng xã Nhưng cải tổ bằng

cách nào? xem xét cơ cấu tổ chức của làng Việt, thực dân Pháp cho rằng, các dong họ trong làng Việt có một sự cố kết chặt chẽ Bởi vậy, chỉ cần nắm được các đòng họ là nắm được làng xã và do vậy, cần phải thay thế hội đồng kỳ

mục trước đây bằng một hội đồng mà thành viên là đại biểu các đồng họ (nên

gọi là hội đồng tộc biểu hay hội đồng hương chính) Nghị định số 1949 ngày

12 tháng 8 năm 192! do Thống sứ Bắc kỳ ký quy định thành lập ở mỗi làng một hội đồng tộc biểu với số lượng thành viên tuỳ thuộc vào số đồng họ và số

nhân khẩu trong làng; các tộc biểu phải từ 25 tuổi trở lên, biết chữ quốc ngữ và

có tài sản Nhiệm vụ của hội đồng là quản lý làng, thi hành các chỉ thị của

Nhà nước, phân bổ sưu thuế, dự toán và quyết toán ngân quỹ, quản lý tài sản

v v nghị định còn quy định việc bầu cử chánh phó hương hội (những người

đứng đầu hội đồng tộc biểu, thay thế nhiệm vụ của các tiên, thứ chỉ trước đây)

cùng các tay chân giúp việc: thư ký, thủ quy, chưởng bạ, hộ lại trách

Trang 31

nhiệm, quyền hạn của những thành viên đô Cũng với việc thay đổi hội đồng

kỳ mục, thực dân Pháp cũng chấn chỉnh bộ máy lý dịch, bằng cách quy định lại nhiệm vụ quyển hạn của nó Nghị định 1949 còn nêu rõ, lý trưởng là trung gian giữa làng với nhà nước, có nhiệm vụ giữ con dấu, công văn, địa bạ, các chỉ thị của nhà nước, lo việc thu thuế, giữ gìn an ninh Lý trưởng không có

quyển tự ý quyết định việc làng, phải theo ý chung của hội đồng tộc biểu

Một trọng tâm khác của công cuộc cải lương của thực dân Pháp là chấn chỉnh lại việc chỉ tiêu của làng xã: qui định việc lập-lại ngân quỹ, các quy tác chỉ

thu, cho vay lấy lãi

Toàn bộ những vấn để trên đây được cụ thể hoá trong bản Hương ước cải lương mà thực dân Pháp thống nhất soạn thảo mẫu dé cho các làng xã vận

dụng Mỗi bản gồm hai phan: Phản chính trị, tức tổ chức hội đồng tộc biểu và

lý dịch và phần hai là phong tục Trong các bản hương trớc mới này một số yếu

tố tích cực của các bản hương ước cũ như việc canh gác tuần phòng, việc đường

xá, cầu cống, bảo vệ sản xuất được bảo lưu và có cải tổ chút ít cho phù hợp

Một số vấn để khác như ma chay cưới xin, thực dân Pháp cũng hướng các làng làm theo ý chúng nhằm " xoá bổ hủ tục " Ngược lại, một số vấn để như việc chia cấp công điền, việc nộp cheo, tế tự, ngôi thứ trong làng v v đã in sâu vào nếp sống của từng làng, thực dân Pháp không thể thay đổi được đành bất lực, do vậy, chúng chỉ khuyên các quan phủ, huyện hết sức " hiểu dụ " dân "

cải cách "chokhỏi " phiển phí " ,

Với cuộc cải lương hương chính, thực dân Pháp đã thực sự can thiệp

sẵu vào đời sống làng xã và trực tiếp nắm lấy bộ máy quần lý của từng đơn vị

tụ cư đó Tuy nhiên, vấn để không hoàn toàn đơn giản Hội đồng tộc biểu vấp phải sự phần ứng gay gắt của các kỳ mục , dẫn tới những xung đột có hại

cho việc quản trị làng xã giữa các cựu kỳ mục với các nhân viên trong hội đồng

tộc biểu mà hậu quả nhất là sự phản ứng hoặc ngấm ngầm, hoặc công khai của các làng xã với chính quyên nhà nước Về cơ bản, Pháp vẫn không khống chế nông thôn chặt chẽ như ý đồ ban đầu Vì vậy đến năm 1927 chúng phải lập

lại hộ đồng kỳ mực bên cạnh hội đồng tộc biểu, để cùng kiểm soát các công

việc trong làng Đến năm 1941, cả hai hội đồng trên đây đêu bị bãi bỏ thay thế vào đó là hội đồng kỳ hào (Với thành phần tập hợp rộng rãi như hội đồng kỳ mục trước đây ) Sau hai lần cải cách, các làng xã sửa đổi lại một số điểu khoản trong hương ước, chủ yếu là các điều khoản liên quan tới việc bầu cử và hoạt động của bộ máy quản trị làng xã

Mặc dù không đạt được hoàn toàn ý đồ " Cải lương” song một trong

những thành công của người Pháp trong thời kỳ này là đã lợi dụng truyền

thống quản lý làng xã của người Việt thông qua hương ước, khôn khéo đưa luật

pháp của nhà nước bảo hộ vào trong lệ làng, hay nói một cách khác " lệ làng

23

Trang 32

hoá phép nước ", khuôn tất cả các hương trớc vào một khuôn mẫu chung có

lợi cho thực dân Pháp để buộc các làng xã phải thực hiện Một điêu quan trong”

khác là trong hương ước cải lương, các hình phạt hà khắc của làng xã mà

hương ước cũ quy định như đánh đòn, đuổi khỏi làng, tẩy chay đám ma đã

bị loại bỏ, thay thế bằng hai bình phạt phổ biến nhất là phạt tiên (hay hiện vat)

và hạ vị trí ngôi thứ

3- MỘT SỐ NỘI DƯNG CƠ BẢN CỦA HƯƠNG UGC MGI

3-1 Trước hết về tên gọi, đa số các làng đều gọi là quy ước làng văn hoá Khái niệm làng văn hoá đo ngành văn hoá Hà Bắc khởi xướng là vấn dé con

dang thảo luận Bởi vậy nhiêu làng " thận trọng " hơn, chỉ gọi là quy ước làng

hay quy ước nông thôn, có làng ghỉ rõ là qui ước về xây dựng nếp sống văn minh, lap lại ký cương trật tự xã hội.Sau lời giới thiệu về lịch sử và những

truyên thống tốt đẹp của làng, các bản quy ước làng khẳng định mục đích, ý nghĩa của việc soạn thảo, sau đó trình bẩy những nội dung cụ thể Mỗi làng đưa

ra một nội dung gồm số lượng các điểu khoản khác nhau và trật tự các vấn dé

cũng khác nhau Quy ước làng Hồi quan (được in ty po vào tháng 7-1990, sớm

nhất trong các bản quy ước làng ở tỉnh Hà Bắc) gồm 4 phẩn: Xây dựng nếp sống văn hoá gồm 4 điều khoản về bảo vệ di tích, tổ chức ma chay, cưới xin, lập hội đồng niên (mỗi khoản này lại được cụ thể hoá bằng những tiểu mục

khác), Xây dựng kỷ cương trật tự xã hội thôn xóm gỏm 4 điệu về cấm cờ bạc,

ngăn chặn nạn trộm cấp gây rối trật tự, bảo vệ và giữ gìn các công trình công

cộng cấm nuôi chó và quy địnhviệc đi lại ban đêm; những quy ước về bảo vệ

đồng tiên và những hình thức khen thưởng và xử phạt

Làng Trang Liệt (huộc huyện Tiên Sơn ) - Làng được công nhận là làng văn hoá đầu tiên của tỉnh,có bản quy ước được chia thành 6 chương:

- Chương I: Những quy định chung (2 điều)

- Chương H: Lễ nghỉ tôn giáo: 4 điều quy định về ban khánh tiết, ban trưởng, ban chạ là những thiết chế cũ của làng xã được khôi phục lại dé dam

đương các công việc trong làng, việc lễ hội và việc tang ma

- Chương HI: Nếp sống văn hoá: 5 điều về lễ hội, cưới xin, tang ma, cải táng, bài trừ mê tín đị đoan

- Chương IV Đạo lý gia đình xã hội: 2 điểu về các quan hệ trong gia đình, làng xóm

- Chương V/ An nỉnh trật tự xóm làng, 2 điêu vê chống cờ bạc trộm cắp, bảo vệ các công trình tập thể

- Chương VI: Tổ chức thực hiện, khen thưởng và kỷ luật 2 điều (các hình phạt cụ thể ghi ở phụ lục riêng)

Trang 33

Bản quy ước thôn Trung (xã Nghĩa Trung Huyện Việt Yên) ngoài những nội

dung trên, còn có thêm chương bảo vệ sản xuất và quần lý đất đai, đặc biệt có

phần phụ lục về phạt vi cảnh theo quy ước làng gồm 9 mục với 44 điều khoản (trong đồ có mục quản lý điện -3 điều khoản)

Quy ước nếp sống của làng Đông cao (tỉnh Thanh Hoá) được trình bầy

tổng hợp hơn gồm 4 phần chính:

Van hoa xa hoi: 7 điểu về xây đựng gia đình văn hoá mới, khuyến

khích học hành, tổ chức cưới xin, tang ma, lễ bội, mừng thọ lão Theo đời

sống mới

- Xay dựng kinh tế: 5 điêu về nghĩa vụ của người nhận ruộng khoản, khai hoang phục hoá đất đai, bảo vệ đường sá và các công trình thuỷ lợi phát triển chăn nuôi trong mmổi liên quan với bảo vệ thành quả của sản xuất nông

3-2 Nội dung của các bản quy ước làng nhìn chung khá toàn diện

tuân thủ các nguyên tác của pháp luật và chính sách cha Dang, nhà nước; kế

thừa được nhiều mặt tích cực của các bản Hương ước cũ Tuy nhiên, các điều khoản liên quan tới văn hoá xã hội và bảo vệ trị an thôn xom vẫn là nội đung ”trội " trong các bản quy ước

Hầu hết ở các bẩn quy ước làng hiện có quy định về cấm tệ nạn cờ bạc, cấm trộm cấp, cấm gây rối trat ty, bảo vệ giữ gìn các công trình công cộng, bảo vệ đôn điên đã cụ thể hoá các quy định của pháp luật và hỗ trợ cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống

Quy ước làng văn hoá còn có những chương, điều quy định riêng về những mảng phong tục, tập quán tưởng như nhỏ nhặt nhưng rất cẩn thiết trong cuộc sống của cộng đồng làng xã Những mảng này luật pháp không thể quy định chỉ tiết mà chỉ có quy ước làng mới có thể tác động được một cách hữu

hiệu như: Việc cưới xin, ma chay, cũng giỗ, cải táng, đạo lý gia đình và xã

hội

25

Trang 34

Một số quy định trong các quy ước làng có thể có tác dụng nhất định trong việc giữ gìn trật tự trên địa bàn nhưng lại không phù hợp với Hiến pháp và pháp luật

- Điều 26 quy tốc làng văn hoá Đồng Lâm: Mợi công dân trong làng

hoặc người lạ đi lại trong làng đều không quá 23h đêm Ngoài giờ quy định nếu có việc đột xuất đi lại phải mang theo đèn

- Điêu 25 quy ước làng văn hoá thôn Đồng Ngò: Khi đưa rẻ, đón dâu

không đi quá 20 người, không cho tiền cô dâu, chú rỂ, :

- Quy ước làng văn hoá thôn Hữu Nghị: Đi đêm trong thôn, xóm ngoài

22h phải cầm dèn hoặc đuốc

- Quy ước làng Hỏi quan: Cảm nuôi chó, từ 2!h đến 22h trở đi ai có việc

gì cần đi đèm nhất thiết phải có đèn và ánh sáng

3 3 - Các hình thức thưởng phạt trong các quy ước làng

4) Quy định về khen thương:

Khen thưởng là hình thức động viên về mặt tỉnh thần, khuyên khích về

mặt vật chất đối với những ai có thành tích xây dựng và thực biện tốt quy tước làng văn hoá Các làng chủ yếu áp dụng một vài hình thức khen thưởng sau:

- Khen thưởng bằng tiên hoặc hiện vật {chủ yếu là thóc) cho những ai có

công pháthiện, tố giác, truy bát, đấu tranh với các hành vi vi phạm quy ước

làng, và những ai có công xây dựng và thực hiện tốt quy ước cha lang Tuy theo từng vụ việc và của từng làng mà mức hưởng được quy định có khác nhau

Có làng trích thưởng 100%, có làng trích thưởng 80%, lại có làng trích thưởng

40% số tiên (hay hiện vật) do vi phạm của 1ừng vụ việc cho những ai có công

đấu tranh, phát biện vi phạm này

-Khen thưởng bằng hình thức biểu dương những người có thành tích, những người tham gia thực hiện tốt quy ước của làng cũng như phê bình, kiểm điểm những người vi phạm trong các sinh hoạt đoàn thể, cuộc hợp dân làng, những người có hành động dũng cảm cứu người, bảo vệ của công trên các

hệ thống phát thanh, truyền thanh của làng (quy ước xây dựng làng văn hoá

thôn Đồng Ngò, quy ước làng văn hoá rừng Phe, quy ước làng Tư Chỉ )

-Khen thưởng bằng việc bình xét đanh hiệu gia đình văn hoá, gia đình đạt

4 tiêu chuẩn sẽ được công nhận, gia đình tiêu biểu sẽ được khen thưởng (quy ước làng văn hoá thôn Phấn Động) Ai gương mẫu thi hành quy ước tốt sẽ được

ae

Trang 35

biểu dương xét khen thưởng bằng hiện vật hoặc đề nghị lên cấp trên khen thưởng (quy ước làng Trang Liệt)

Trên đây là một số hình thức khen thưởng, chủ yếu trong quy ước làng văn hoá Hà Bắc Mỗi loại hình thức khen thưởng đêu có cái hay riêng Tuy theo

điều kiện của từng làng mà coi trọng hình thức này hoặc hình thức kia Trên

thực tế, một thành tích có thể được áp dụng nhiều hình thức khen thưởng

cùng một lúc Việc khen thưởng như vậy động viên được mọi người tham gia tích cực vào phong trào xây đựng làng văn hoá ngày một hoàn thiện, tốt đẹp

hơn

b) Các quy dịnh về việc xử lý vị phạm:

Người có công trạng thì được khen thưởng, còn người vi phạm phải bị xửlý Có thể xử lý bằng các hình thức như: - kiểm điểm trước đoàn thể, kiểm điểm trước dân, thông báo trên loa đài, góp ý nhấc nhở, bồi thường thiệt hại

xử phạt kinh tế Tuỳ theo mức độ, tính chất của vụ việc mà áp dụng các hình thức xử lỹ khác nhau :

- đốp ý, nhắc nhở, giải thích, thuyết phục của trưởng thôn, Bí thư chỉ

bộ, đại điện các tổ chức xã hội ở thôn, hay tổ hoà giải trực tiếp đến nhà người

vi phạm nhỏ như các tranh chấp, nhỏ trong nhân đản : tranh chấp lối đi, ranh giới nhà đất, mâu thuẫn giữa cha mẹ, vợ chồng, con cái, làng xóm, láng giéng Thực tế, nhiều làng áp dụng hình thức xử lý này có kết quả tạo nếu sự đoàn kết, thông cảm, hiểu biết lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình và

cộng đồng, ngăn ngừa những việc kiện tụng và phạm pháp, bảo vệ trật tự ' trị

an, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nếp sống mới trong nhân dàn ở nông thôn hiện nay Quy ước xây dựng làng văn hoá thôn Nga quy ước xây

dựng làng văn hoá thên Đồng Ngò đã dùng hình thức xử lý này là chủ yếu, còn hình thức xử phạt kinh tế thì rất hãn hữu

-Phê bình, kiểm điểm trong các buổi sinh hoạt đoàn thể, trong cuộc

họp làng hoặc thông báo trên loa đài Hình thức xử lý này được hầu hết các bản quy ước ghi nhận Nó được áp dụng đối với các vi phạm về trật tự công cộng, trộm cấp, cờ bạc, vi phạm quy định về bảo vệ sản xuất, công trình công cộng, đê điểu, về việc cưới xin, tang lễ Thông thường người vỉ phạm trong trường hợp này phải làm bản kiểm điểm đọc trước tập thể nhận

khuyết diém va hứa hẹn sửa chữa không tái phạm Day là cách xử lý tốt thiên về thuyết phục tình cảm, gây tác động tâm lý và lên án mạnh mẽ về

mặt dư luận ngay nơi mà người vi phạm đang sống

-Nhin chung hai hình thức xử lý trên là hợp với lòng dàn, không trái với

luật pháp mà đạt kết quả tốt Nó có tác dụng giáo dục cao, đảm bảo tính

27

Trang 36

khách quan đúng nguyên tắc pháp luật, lại vừa đảm bảo quy ước làng được „ thực hiện một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh

-Bồi thường thiệt hại đối với các vi phạm trộm cấp làm thiệt hại tài

sản của tập thể và công dân, đánh người khi thỉ hành nhiệm vụ Mức

bồi thường thường được xác định là 100% giá trị vật bị mất hoặc thiệt hại

Các xử lý này nhằm khôi phục,bảo đảm lại quyền lợi cho người bị hại và xác

định rõ trách nhiệm đến bù của kể vi phạm, đảm bảo được tính công bằng xã

hội

- Xử phạt về mặt kinh tế bằng tiền hoặc bằng hiện vật (chủ yếu là thóc)

với các mức khác nhau tuỳ theo mức độ vi phạm và theo quy định riêng của mỗi làng Có thể cùng một vi phạm nhưng có làng phạt nặng có làng phạt

nhẹ, có làng phạt bằng tiền, có làng phạt bằng thóc Nhìn chung 1a tit 10

000 đ đến 30 000 đ và do trưởng thôn thực hiện cũng có nơi quy định mức

phạt nặng hơn giá trị 200kg đến 300 kg thóc Đối tượng xử phạt không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, chức tước trong làng Nội dung xử phạt rất

phong phú, da đạng

Có thể nói hình thức xử phạt về mặt kinh tế chiếm tỷ lệ khá lớn trong

nội đung các điều khoản ở hầu hết các quy ước dễ tạo nên cảm giác nặng nể

và khó thực hiện Mức phạt lại khá cao không phù hợp với điêu kiện kinh

tế của người nông dân hiện nay Mặt khác theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành

chính có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/1995 thì chỉ những cơ quan Nhà

nước và người có thẩm quyên quy định tại chương IV (thẩm quyến xử lý vi

phạm hành chính)của Pháp lệnh mới có thẩm quyền xử lý Theo các bản

quy ước thi trưởng thôn có trách nhiệm tổ chức thực hiện quy ước Quy định

như vậy có thể là hợp lý nhưng thiết nghĩ rằng làng chỉ nên áp dụng chủ yếu là

các hình thức xử lý về mặt tình thần, dư luận, còn khi phát hiện vi phạm

thì đề nghị UBND xã xử phạt theo quy định của pháp luật

3-4 Về hiện lực thực tế của quy ước, qua khảo sát một số làng, chúng tôi thấy, việc xử phạt còn rất hạn chế bởi hai lẽ: một là Làng dé ra mức phạt quá cao, việc này ít nhiều cũng gây ra những phản ứng của những

người vi phạm quy ước khi bị phạt, mặc dù trước đó, họ cũng từng tham gia

thảo luận và thoả thuận thông qua quy ước Hai là khi cố người vỉ phạm

trưởng thôn cũng không có quyền phạt mà chỉ lập biên bản gửi lên xã để xã

phạt, ở một số làng, trưởng thôn có quyển phạt song khi thực thi nhiệm vụ,

họ cũng " không nỡ" ra tay phạt người vi phạm, hơn nữa khi người đó là anh

em họ hàng Bởi vậy, ở hầu hết các làng có quy ước, việc tuyên truyền, giáo

dục và đưa cá nhân vi phạm ra kiểm điểm trước dân làng, dùng dư luận thuyết

phục, làm " sức ép " vẫn là biện pháp xử lý chính và tỏ ra hiệu lực hơn mọi thứ

hình phạt hiện vật và các hình phạt khác được ghi trong quy ước Điều này khác

Trang 37

hẳn với Hương ước ngày-xưa là hiệu lye thyeté rất cao nhờ các hình phạt hà

khắc (cố tính chất hình sự, hành chính , phạt vế kinh tế và các mặt khác), kết +

hợp với sức ép du luận và những quan niệm về đạo đức và tín ngưỡng của cộng đồng Mặt khác đo chưa chú ý đầu tư đúng mức, lực lượng soạn thảo quy ước còn nhiều hạn chế về trình độ cho nênnhiều bản quy ước dừng ở mức độ hô hào

chunh chung,việc triển khai thực hiện còn mang tính hình thức,phong trào cho

nên hiệu lực thực tế của quy ước vẫn còn rất nhiều hạn chế

3.5 Kỹ thuật lập văn bản trong quy ước làng kém xa so với Hương

ước xưa Nhiều bản có nội dung với những lời lẽ nặng tính hô hào, nhắc lại chính sách Nhiều bản lại chú trọng đê ra những chỉ tiêu phấn đấu trước mắt Đọc quy ước của nhiều làn g, không thấy sự khác biệt nhau lắm, có thể

ghép tên một làng khác vào quy ước một làng cũng khó phân biệt được

Một điều quan tâm khác là đứng tên ở bên dưới các bản quy ước này là các trưởng thôn, trưởng ban mặt trận thôn đàng) Có nơi thêm cả hội trưởng hội

bảo thọ, cụ thượng của làng, sau đó được chủ tịch uỷ ban nhân dân xã đóng

dấu công nhận Ngày xưa, Hương ước của các làng, dé được công nhận tồn tại, phải được cấp tỉnh (những năm đầu thế kỷ XX là cấp phủ, huyện) duyệt phè

Các bản quy ước làng vừa nêu rõ ràng có nhiều điểm không hợp pháp luật mà

chỉ có uỷ ban nhân dân xã công nhận, không được một cơ quan chính quyền

cấp trên nào xét duyệt là điều phải xem Kết

Ngoài ra, trong nhiều bản quy ước làng có sự lẫn lộn giữa quyền của làng với quyển của hợp tác xã nông nghiệp, giữa quyền của trưởng thôn với

quyên của chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, giữa nghĩa vụ của các thành viên

trong làng với tư cách là cư dân của làng và tư cách xã viên hợp tác xã nòng nghiệp,thạm chí có sự lẫn lộn giữa quyền và nghĩa vụ của công dân do luật định

với quyền và nghĩa vụ của thành viên cộng đồng do quy ước quy định

1 BẢN CHẤT CỦA HƯƠNG ƯỚC (QUY ƯỚC LÀNG) HIỆN NAY VÀ YÊU CẦU QUÂN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HƯƠNG ƯÓC

1- Bản chất của Hương ước (quy ước làng) nhìn từ góc độ quan lý và

pháp lý

1 1- Nhà nước ta là một nhà nươc của nhân đân, do nhân đân và vì nhân đản Thực hiện quyên làm chủ của nhân dan lao động và vì vậy bản chất của

Hương ước cũng không nằm ngoài phạm trù đó Định chế chính trị - xã hội về

quyển làm chủ của nhân đân ở đây có hai phạm ví: làm chủ ở các đơn vị, tổ

2?

Trang 38

chức, thiết chế nhà nước và làm chủ tại các sơ sở ở làng thôn Đi kèm với hai

phạm vi này là hai hình thức làm chủ Thứ nhất là làm chủ trong khuôn khổ và bằng các thiết chế nhà nước và thứ hai là làm chủ ngoài phạm vi nhà nước Như

Lê-nin đã từng nói, hình thức dân chủ là nhà nước song đây chỉ là hình thức cơ bản chứ không phải là tất cả Bởi vậy, có thể nói hai hình thức làm chủ nói trên

bổ sung và hỗ trợ chặt chế cho nhau Trên thực tế, không thể và cũng không

cân thiết phải nhà nước hoá mọi quan hệ xã hội, đặc biệt là những quan hệ điêu chỉnh mối quan hệ giữa các thành viên của cá cộng đồng dân cư ở các cơ

sở và trong vấn đề nay, Hương ước đã thể hiện sự làm chủ cộng đồng ở các làng thôn ở nước ta

Việc thực hiện quyền làm chủ nói trên phải được xét trên hai bình điện

Thứ nhất là mối quan hệ giữa phạm vi tự quản của cơ sở và quần lý nhà nước

Từ đó định ra chuẩn mực cho quyền làm chủ ở cơ sở cũng như cho Hương ước

mới Như đã phân tích trên, việc đặt ra Hương ước, quy ước văn hoá mới là

hòan toàn cần thiết và phần ánh nhu cầu khách quan của việc làm chủ của nhân dantại các đơn vị cơ sở không nằm trong hệ thống phân cấp hành chính của

nhà nước Tuy nhiên, với ý nghĩa là một công cụ góp phần vào quần lý nông

thôn, Hương ước, quy ước không thể tách bạch hoàn toàn khỏi sự quản lý nhà

nước Nhà nước cân phẩi góp phẩn quản lý để Hương ước giữ được bản chất

của nó, không đi chệch khỏi quỹ đạo do nhà nước định hình để trở thành một công cụ quản lý quan trọng của nhà nước đối với xã hội Để giải quyết mối quan hệ này, vấn để cơ bản đặt ra ở dây là cần phải xây dựng chuẩn mực cho

Hương ước, quy ước văn hoá mới Nhưng chuẩn mực nói ở đây có đặc điểm riêng, khác với những chuẩn mực bắt buộc do nhà nước quy định cũng như

những chuẩn mực mang tính chất phổ biến khác Nhà nước ban hành nhiều quy

định vẻ các chuẩn mực trong đó cô những quy tắc xử sự chung mang tính bất

buộc, điển hình Đó là pháp luật, còn đối với hương thôn, những chuẩn mực

này, nên chăng, phải là những chuẩn mực, những quy phạm về làm chủ ở cơ

sở Nói cách khác, đây chính làvấn để định ra những quy phạm, nguyên tác _ tự quần ở hương thôn trên cơ sở quyển làm chủ rộng rãi của nhân dân mà phạm vi tự quần là trong khuôn khổ những gì mà pháp luật không điều chỉnh

! 2 - Hương ước là sự tự nguyện, tự quản của nhân đân ở cơ sở

“Phân tích sâu hơn về vấn để này, có thể thấy rằng vấn để mấu chốt để xác

định được những nguyên tác, quy phạm tự quản nói ở trên chính là cẩn phải xác định cho được ranh giới trong mối liên hệ giữa quản lý nhà nước đối với xã

hội và quyền làm chủ của nhân dân ta ở cơ sở cũng như mối liên hệ giữa những thiết chế làm chủ trong chế độ ta Nét bản sác của Hương ước xết từ góc độ

quyền làm chủ của nhân đản ở cơ sở là ở chỗ nó được chính cư dân ởlàng, thôn

đưa ra và thống nhất với nhau - Các làng thôn khác nhau thi cũng có những đặc

điểm riêng có của mình khác nhau về địa bàn dan cư, về phương thức sản

Trang 39

xuất, vé dac diém dan cu va phong tuc tap quan Chinh tir sy da dang nay

mà mỗi làng, thôn có những yêu cầu riêng, những mục tiêu phấn đấu riêng của

mình và để thực hiên những mục tiêu đồ họ phải sử dụng mọi công cụ mà trước hết là nội lực của chính bản thân cộng đồng dân cư trong làng, thôn đó Chính

vì vậy mà cư dân trong thôn làng cùng ước thúc với nhau đồng tam hiệp lực

thực hiện những mục tiêu nay thông qua hình thứ văn bản của làng là Hương ước Ở đây chúng tôi nmuốn nhấn mạnh rằng Hương ước phải là sự thể biện

nhu cầu cửa chính làng thôn và là sự tự nguyện thoả thuận ý chí của các cư dân trong làng nhằm thực hiện việc tự quần trong cộng đồng Hương ước chỉ có

thể ra đời trên cơ sở nhu cầu của làng, thôn chứ tuyệt nhiên không thể là nội

dung được đưa từ ngoài vào, từ nơi khác đến áp dụng mà phải là của chính

làng, thôn đó đưa ra và để lên thành quy ước của làng Như vậy, từ phân tích

trên, có thể thấy rằng Hương trớc,quy ước làng là những chuẩn mực ty quan do chính nhân dân ở cơ sở đặt ra và tự nhận về mình, để có thể điêu chỉnh các

quan hệ tự quản của cộng đồng cư đân ở làng thôn, được nhân dân tin tưởng và

tự nguyện chấp hành, Hương ước phải hết sức đa dạng, liên quan đến mọi vấn

để cụ thể cần thiết cho sự phát triển văn hoá xã hội của chính thôn làng đó Hơn nữa để phù hợp với đặc điểm phát tiển mang tính thời điểm lịch sử của từng

thôn, làng, Hương ước không thể nhất thành bất biến mà cũng cần phải được

thay đổi theo thời gian cũng như theo tiến trình hoàn thành các nhiệm vụ mà làng tự đặt ra trong Hương ước của mình Do đó phạm vi nội dung của Hương

ước không thể và cùng không nên hạn chế chỉ nhằm tác động tới một loại công việc gì, một hoạt động gì mà cần phải đa dạng Sự đa dạng này rất khác

nhau giữa làng này với làng khác, ở cùng một làng thì thời kỳ này khác với

thời kỳ khác Vì vậy xét về mặt hình thức, để phục vụ mục tiêu quản lý nhà

nước có thể đặt ra một dạng Hương ước mẫu chung quy định những tổng thể

nếu như nhìn nhận rằng phạm vi điểu chỉnh của Hương ước chỉ gói gọn trong một số nội đung nhất định Tuy nhiên nếu nhằm khuyến khích biệu quả tự

quản của Hương ước thì nên chăng có thể để tồn tại nhiều dạng Hương ước

khác nhau Ởđây có hai khía cạnh cần phải chú ý đến:

-Thứ nhất, nội dung của Hương ước khác với những mục tiêu kinh tế-xã hội của địa phương là những tiêu chí phấn đấu đạt đến còn Hương ước chính là

những quy định do cộng đồng tự ước thúc với nhau để làm công cụ thúc đẩy, tạora những đòn bẩy cho việc thực hiện các rnục tiêu đó

-Thứ hai, nội dung của Hương ước phải có sự phân biệt rõ ràng với

pháp luật Pháp luật là sự định biên chung có tính quy chuẩn bắt buộc cho các

quan hệ xã hội của mọi công dan còn Hương ước chỉ là quy ước tự thoả thuận

mang tính tự nguyện của cư dân trong phạm vị thôn làng Vì vậy, như đã nói ở

trên, phạm vi nội đung điểu chỉnh của Hương ước chỉ có thể nằm trong phạm

vi những gì mà pháp luật không điều chỉnh và được thực thi một cách tự

nguyện 6 day có thể lấy mối quan hệ giữa các quy định xẻ nghĩa vụ và xử phạt

a)

Trang 40

trong Hương ước và các chế tài pháp luật làm một minh hoạ rõ nét Chế tài

pháp luật là những quy định xử phạt của nhà nước áp dụng đối với mọi đối “ tượng vi phạm pháp luật nhằm nhiêu mục đích trong đó chủ yếu là nhằm bảo

vệ pháp chế và trừng phạt kể vi phạm Chế tài pháp luật được đấm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Còn quy định xử phạt của Hương ước chỉ là nghĩa vụ tự nguyện, tự nguyện đóng góp và tự nguyện chịu trách nhiệm Các quy định xử phạt của Hương ước là một trong những công cụ cơ bân làm nên hiệu lực thực tế của Hương trớc, là thành phần không thể thiếu được của lệ làng ngày xưa cũng như của Hương ước, quy ước mới ngày nay

Tuy nhiên, mức độ tác động của kiểu xử phạt đó đối với các thành viên của

cộng đồng cũng như mức độ tác động của các thành viên của đổi, với thành viên có vi cộng đồng

phạm phải mang mầu sác tự quần, miều sắc xã hội Từ trước tới nay các hình thức nghĩa vụ trong việc tự quần này luôn luôn là sự kết hợp giữa tính kỷ luật của tổ chức - cộng đồng, tính chất giáo dục và sức ép của dư luận, Quy định xử

phạt của Hương ước hiện đại cũng nên mang mầu sắc như vậy với tính tự giác

cao hơn Quy định xử phạt của Hương ước chỉ có thể mang tính chất giáo đục và

tự nguyện, không thể ẩn dưới hình thức của quy định xử phạt như của quy phạm pháp luật Phạm vi các quy định nghĩa vụ và xử phạt của Hương ước,

nên chăng, cần phải được chia thành 2 loại thứ nhất là những nghĩa vụ mà các thành xiên trong cộng đồng đã tự nguyện cùng nhau nhận về mình một cách dân chủ Thứ hai, đó là những yếu tố mà chúng ta có thể coi là những " chế tài "

xã hội, những " chế tài " của dư luận Các quy định về nghĩa vụ và xử phạt

này không thể mang tính chất trừng trị, không thể được dùng để tước đoạt đi

những quyền lợi hay ban chế các lợi ích chính đáng của người đân một cách cưỡng bức, phi tự nguyện Dù là quy định về mức đóng góp hay quy định vẻ lệ

xử phạt đêu phải đựa trên cơ sở tự nguyện Ở đây cần phân biệt rõ ràng giữa sự đóng góp tự nguyện với cái gọi là ” chế tài " cưỡng bức ảnh hưởng đến tài sẵn

Vẻ mặt cơ sở pháp lý, Hiến pháp (diéu 51) đã quy định rõ ràng moi quyền lợi và nghĩa vụ của chúng ta đều phải do Hiến pháp và pháp luật quy định Đặc biệt là đổi với nghĩa vụ thì càng cần phải được quy định một cách chặt chế và không thể nào được tự đặt ra ngoài khuôn khổ pháp luật Bởi lẽ, nghĩa vụ trước hết phải là điêu mà người dân buộc phải thực hiện chứ không phải là do họ tự nhận

về mình Mặc đù trong chế độ chúng ta, nhiều khi người đân tiếp nhận nghĩa

vụ một cách vui về, tự nguyện Có khi điêu đó còn được coi như là một vinh

dự, chẳng hạn như nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc

Thực tế tái lập Hương ước hiện nay cho thấy rằng có nơi, có lúc đã nhìn nhận chế tải pháp luật và quy định xử phạt của Hương ước như là hai loại chế tài có mới liên hệ tiếp nối với nhau Đó là một thực tế không đúng cần phải được điêu chỉnh lại Sự ” chuyển hoá "lượng thành chất ấy chỉ được phép trong khuôn khổ hệ thống các chế tài pháp luật Ví dụ như Bộ luật hình sự có quy định rằng đối với một số loại vi phạm bành chính thì sự tái phạm bị phạt hành chính

Ngày đăng: 20/02/2016, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w