1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tri thức khoa học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở việt nam hiện nay (tóm tắt)

26 386 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 413,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tri thức khoa học luôn luôn là một trong những yếu tố quyết định trình độ của người lao động, của công cụ lao động và phương tiện lao động… Nếu như công cụ, phương tiện lao động được xem

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY

TRI THỨC KHOA HỌC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Trường Đai hoc Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS.Vũ Văn Gầu

Thư viện trường Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

Thư viện Khoa học tổng hợp, số 1 Lý Tự Trọng Q.1 TP HCM

Thư viện trường Đại học Quy Nhơn

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở tất cả mọi thời đại của lịch sử xã hội, trong một phương thức sản xuất nhất định, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - được biểu hiện thông qua trình độ của người lao động, trình độ công cụ, phương tiện lao động - là yếu tố quyết định trình độ phát triển của phương thức sản xuất nói riêng, của nền sản xuất xã hội nói chung Tri thức khoa học luôn luôn là một trong những yếu tố quyết định trình độ của người lao động, của công cụ lao động và phương tiện lao động… Nếu như công cụ, phương tiện lao động được xem là sức mạnh trí tuệ của con người được vật chất hóa trong nền sản xuất, và người lao động với năng lực trí tuệ của họ là khâu then chốt trong lực lượng sản xuất, thì tri thức khoa học chính là nền tảng đầu tiên, là đòn bẩy phát triển cho các bộ phận giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất, khi tri thức khoa học được vật chất hóa trong nền sản xuất, sẽ tạo thành công nghệ - kỹ thuật, ứng dụng để phát triển công

cụ, phương tiện lao động; còn người lao động, một khi được dẫn dắt bởi tri thức khoa học thì sẽ tạo nên năng lực trí tuệ, là một sức mạnh to lớn để làm biến đổi thế giới Cho nên, có thể nói, sự phát triển của nền sản xuất, của các thời đại kinh tế, của xã hội loài người…phụ thuộc vào sự phát triển của tri thức khoa học

Từ thập niên 1990 đến nay, sau khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về cơ bản,

đó là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu chiến lược “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại”1

Bản chất của kinh tế thị trường là hoạt động xã hội hóa lao động ngày càng được đẩy mạnh, cả chiều rộng và chiều sâu, dưới sự tác động của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Nền kinh tế thị trường hiện đại phát triển đầy biến động với tốc độ khá nhanh, luôn tạo ra những lực lượng sản xuất mới để không ngừng phát triển, tiến lên giai đoạn cao hơn - giai đoạn kinh tế tri thức Như vậy, tiến lên kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu, khách quan của kinh tế thị trường, do đó để phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam cần nhanh chóng đầu tư cho tri thức khoa học để tạo động lực cho phát triển nhằm tất yếu hình thành và phát triển kinh tế tri thức

Trên thực tế, bản đồ kinh tế - chính trị của thế giới đã có sự thay đổi khá phức tạp, thể hiện ở sự thăng trầm và chuyển đổi thứ bậc xếp hạng của nhiều cường quốc, nhiều khu vực trên thế giới, và một trong những nguyên nhân sâu xa của tất cả sự thay đổi đó chắc chắn rằng đều nằm ở vị trí ưu tiên đối với khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong chiến lược phát triển của các quốc gia Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, để giành được vị trí dẫn đầu trong mọi lĩnh vực, các nước phải chú trọng xây dựng, triển khai các chiến lược và chính sách khoa học công nghệ quốc gia có tính vĩ mô và lâu dài Ngày nay, việc hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ nhằm phát triển tri thức khoa học cũng được

đề cập và phân tích như một chiến lược hội nhập rất quan trọng, là một trong những mục tiêu hàng đầu của các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới

Kinh tế nước ta đang còn ở trình độ lạc hậu, kém phát triển, tuy nhiên nếu biết phát huy nguồn vốn trí tuệ, dựa vào tri thức khoa học và có những chính sách phát triển

1 Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia– Sự thật, Hà Nội, tr.70.

Trang 4

nguồn lực này một cách hiệu quả, thì tri thức khoa học sẽ trở thành một lực đẩy vô cùng

to lớn làm chuyển biến xã hội và có thể hỗ trợ Việt Nam rút ngắn con đường đến đích, so với các nước đi trước trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đã được Đảng ta đề ra và triển khai thực hiện từ khá sớm, ở Đại hội

X, Đảng ta xác định rõ khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá mới, đây cũng là lần đầu tiên trong Nghị quyết Đại hội Đảng, đề cập đến vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời gian tới Điều này cho thấy, phát triển tri thức khoa học chính là một trong những nhiệm vụ đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm Đại hội XI, Đảng ta khẳng định tiếp tục phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ vẫn là mấu chốt để phát triển quốc gia Vậy, sự phát triển tri thức khoa học được coi như là một trong những điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững của một quốc gia ở mọi giai đọan lịch sử, đặc biệt, trong điều kiện hiện nay phát triển tri thức khoa học còn là một trong những yếu tố mang tính quyết định để hoàn thành mục đích phát triển kinh tế tri thức, Đại hội XI cũng khẳng định: cần

nỗ lực “phát huy và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tri thức của con người Việt Nam và khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại Xây dựng và triển khai lộ trình phát triển kinh

tế tri thức đến năm 2020”2

Việc phân tích vị trí, vai trò, những vấn đề đặt ra của tri thức khoa học, những giải pháp phát triển tri thức khoa học trong quá trình phát triển kinh tế tri thức tại Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi mô hình phát triển, thực hiện sâu rộng tái

cơ cấu nền kinh tế, chỉ ra những thành quả bước đầu, những hạn chế của sự phát triển tri thức khoa học, tác động đa chiều của nó đến kinh tế tri thức giữa một thế giới phẳng, thế

giới không biên giới nhưng hết sức phức tạp như hiện nay là điều cần thiết

Tìm hiểu tri thức khoa học và vai trò to lớn của nó giúp chúng ta nhận thức và xác định đúng trọng tâm của quá trình phát triển, tiến hành đầu tư, thúc đẩy và triển khai đúng hướng, đảm bảo rút ngắn quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời đại mới, nhằm định hướng và triển khai hiệu quả quá trình xây dựng kinh tế tri thức,

đáp ứng nhu cầu của thời đại đặt ra Vì vậy nghiên cứu sinh chọn đề tài “Tri thức khoa

học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay”

làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về tri thức khoa học trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay theo ba hướng cơ bản sau:

Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tri thức khoa học và vai trò của tri thức khoa học Ở nước ngoài, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các

công trình như công trình của David – Clandes ( 1998), The wealth and Poverty of

London; Word Bank Report (Asia – Paciffic Economic Cooperation) (2000), Knowledge for development (tri thức cho sự phát triển). Sách đã dịch sang tiếng Việt có khá nhiều

như công trình của tác giả Ikujiro Nonaka, Ryoko Toyama và Toru Hirata (2010), Quản trị dựa vào tri thức (Knowledge – based Management), Nhà xuất bản Thời đại, Hà Nội

2 Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia– Sự thật, Hà Nội, tr.78.

Trang 5

Bộ ba tác phẩm: Alvin Toffler (1992) Cú sốc tương lai; Làn sóng thứ ba; Thăng trầm quyền lực, Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội Steven Benton and Melissa

Giovagnoli (2008), Khám phá nguồn lực tiềm ẩn, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội Chính phủ Anh (2000), Sách Trắng về khoa học và đổi mới: Sự vượt trội và cơ hội, Anh Quốc

Ở trong nước, có nhiều công trình liên quan đến vấn đề này như Bộ khoa học công nghệ

và môi trường, (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Trần Hồng Lưu (2011), Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Danh Sơn (2000), Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế

gia, Hà Nội Mạch Ngọc Thuỷ (2004), Góp phần tìm hiểu vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ,

Tp Hồ Chí Minh Đặng Mộng Lân – Lê Minh Triết (1999), Công nghệ thế giới đầu thế

kỷ XXI, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh Hoàng Đình Phu (1998), Khoa học và công

Các công trình trên tìm hiểu về tri thức khoa học và tầm quan trọng của nó trong thời đại mới, là những cơ sở dữ liệu luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu vấn đề ở góc

độ sâu hơn, gắn nó với bối cảnh thực tế ở Việt Nam, từ đó vận dụng vào giải quyết các nhiệm vụ của luận án một cách có hiệu quả hơn

Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức nói chung trên thế giới và xu thế phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Ở nước ngoài, liên quan

đến vấn đề này có khá nhiều tác giả với các tác phẩm như: Admade M(2009),

Knowledge – Based Economy and Local Innovative Network: Recent theoretical and Methodogical Trend, Glasgow, Scotland; APEC (1999), Toward knowledge – based

dịch thì có Ngô Quý Tùng (2001), Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ XX, Nhà

xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội Ở trong nước có rất nhiều công trình như công trình

tiêu biểu của Đặng Hữu (2001), Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội GS TSKH Vũ Đình Cự – Trần Xuân Sầm (2006), Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn

Kế Tuấn (2004), Phát triển kinh tế tri thức, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Trần Văn Tùng (2001), Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội PGS, TS Trần Cao Sơn (2004), Môi trường xã hội nền kinh tế tri thức – những nguyên lý cơ bản, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội TS Trần Đình Thêm và TS Trần Đức Ba (2011), Kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ cao, Nhà xuất bản Thanh

Niên Tập thể tác giả GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS Đào Duy Huân, TS Lương

Minh Cừ (2005), Hướng đến nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Đặng Mộng Lân (2002), Kinh tế tri thức, những khái niệm và vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội Lê Thị Ngân (2005), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ; Nguyễn Thị Ngọc Hương

Trang 6

(2014), Phát triển Kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Luận án tiến sĩ

Trên đây là những công trình tìm hiểu về nền kinh tế tri thức: quá trình hình thành, phát triển của kinh tế tri thức ở các nước, ở Việt Nam, thực trạng xã hội Việt Nam trên con đường tiến đến nền kinh tế tri thức và các giải pháp chủ yếu đảm bảo xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, là những tài liệu tham khảo hữu ích cho luận án

Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay Liên quan đến nội dung này, có nhiều

công trình nghiên cứu như: Ban Tuyên giáo Trung ương (Trung tâm tư liệu quốc gia) (2000), Nền kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam – Kỷ yếu Hội thảo

(2 tập), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Bộ khoa học công nghệ và môi trường (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và cách mạng công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Bộ khoa học và công nghệ (2002), Khoa học

và công nghệ Việt Nam 2001, Hà Nội GS TSKH Vũ Đình Cự (2006), Khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất hàng đầu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Văn Thuỵ (1994), Một số vấn đề về chính sách phát triển khoa học và công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội TS Vũ Trọng Lâm (2004), Kinh tế tri thức ở Việt

Khánh Đức (2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.TS Nguyễn Thanh (2007), Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ góc độ triết học xã hội, Nhà xuất bản Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng – kinh nghiệm của thế giới, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội TS Hồ Đức Việt (2010), Xây dựng, phát triển thị trường khoa học công nghệ trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Viện nghiên cứu chiến lược

và chính sách khoa học công nghệ, Nguyễn Thị Anh Thu (chủ biên) (2000), Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ trong cơ quan nghiên cứu – phát triển, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội

Đó là tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, nhiều công trình đã tìm hiểu và đưa ra cái nhìn toàn diện về tri thức khoa học, kinh tế tri thức, nhưng chưa một công trình nào

đi sâu nghiên cứu về những tác động to lớn và vai trò hạt nhân của tri thức khoa học trong kinh tế tri thức để xây dựng những định hướng và giải pháp phát triển tri thức khoa học nhằm hướng đến xây dựng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay Tiếp biến một cách nghiêm túc tất cả những kết quả nghiên cứu đã nêu, luận án có điều kiện để tập trung giải quyết các mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra cho luận án một cách toàn diện, đa chiều, sâu sắc và có giá trị thiết thực

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

3.1 Mục đích của luận án

Mục đích của luận án là từ sự nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học và kinh tế tri thức, luận án tập trung phân tích làm rõ thực trạng và tính tất yếu của việc phát triển tri thức khoa học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay, để từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển tri thức khoa học

3.2 Nhiệm vụ của luận án

Trang 7

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như sau:

Thứ nhất: Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học, và vai

trò của tri thức khoa học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện đặc thù ở Việt Nam hiện nay; khái luận chung về kinh tế tri thức và môi trường phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam

trong điều kiện hiện nay; tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia đi trước trong việc phát triển tri thức khoa học để phát triển kinh tế tri thức, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong phát triển tri thức khoa học để xây dựng và phát triển kinh tế tri thức

Thứ ba: Trình bày và phân tích làm rõ định hướng cơ bản, từ đó đề xuất những

giải pháp nhằm góp phần phát triển tri thức khoa học để thực hiện quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của luận án

Luận án được nghiên cứu dựa trên nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lập trường quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Ngoài ra để giải quyết các mục đích

và nhiệm vụ mang tính đặc thù của luận án, tác giả còn sử dụng tổng hợp những phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp logic – lịch sử, thống kê xã hội học, phân tích, xử lý số liệu, v v…

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án

Luận án tập trung nghiên cứu về tri thức khoa học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ của một luận án tiến sĩ triết học Do đó, tri thức khoa học ở đây được xem là một trong những yếu tố tiên quyết của lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định trong quá trình tri thức hóa nền kinh tế, là một động lực to lớn thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức song song với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

6 Cái mới của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án đã có đóng góp mới về mặt học thuật, thể hiện trên

một số điểm sau đây: Thứ nhất, luận án đã góp phần hệ thống hóa và luận chứng vai trò

hạt nhân của tri thức khoa học đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam, nhìn tri thức khoa học không chỉ từ góc độ là yếu tố bên trong mà còn được “khách quan hóa” thành yếu tố tác động cơ bản đến kinh tế tri thức

Thứ hai, từ sự đánh giá, phân tích thực trạng, làm rõ mặt mạnh, mặt hạn chế của sự phát

triển tri thức khoa học ở Việt Nam, luận án đã gợi mở những định hướng, nêu rõ mục tiêu và những giải pháp cơ bản để phát huy vai trò của tri thức khoa học đối với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở nước ta gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế hiện nay

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án

học và thực trạng, tính tất yếu phải định hướng xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức ở

Việt Nam hiện nay Về mặt thực tiễn, những giải pháp cơ bản để xây dựng phát triển

thành công hệ thống tri thức khoa học mà luận án đề xuất sẽ góp phần vào quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam Ngoài ra, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu

Trang 8

tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành triết học và một số ngành khoa học xã hội nhân văn khác

8 Kết cấu của luận án

Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ đã được xác định trên đây, kết cấu của luận

án gồm có phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận án được cấu trúc thành ba chương, 6 tiết, phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục

Chương 1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRI THỨC KHOA HỌC VÀ KINH TẾ TRI

THỨC 1.1 KHÁI LU ẬN VỀ TRI THỨC KHOA HỌC VÀ KINH TẾ TRI THỨC

1 1.1 Khái niệm, cấu trúc và phân loại tri thức khoa học

Phần này tập trung trình bày làm rõ những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa

học và kinh tế tri thức như là cơ sở lý thuyết cho luận án

Thứ nhất, về khái niệm tri thức khoa học Trên cơ sở tổng kết và kế thừa có chọn

lọc tất cả những kết quả nghiên cứu trên, luận án cho rằng: tri thức khoa học là kết quả

đi sâu phản ánh đúng đắn bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế

Thứ hai, về cấu trúc và phân loại tri thức khoa học

Về cấu trúc, xét về mặt cấu trúc, tri thức khoa học bao gồm: tri thức kinh nghiệm,

là trình độ thấp, chủ yếu thu nhận được thông qua quan sát và thí nghiệm, phản ánh cái

đơn nhất, cái cụ thể trực tiếp, bề ngoài của sự vật; và tri thức lý luận, là trình độ cao của

tri thức khoa học, về mặt bản chất, tri thức khoa học được phản ánh thành một hệ thống chỉnh thể các khái niệm, phạm trù, quy luật, có liên hệ nội tại với nhau Hai trình độ tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận có mối liên hệ gắn bó hữu cơ không tách rời nhau trong hoạt động nhận thức

được dùng phổ biến trong các báo cáo về kinh tế tri thức của OECD, chia tri thức khoa

học thành 4 loại cơ bản: Tri thức về sự vật, tri thức về nguyên nhân, tri thức về cách thức, tri thức về con người

Cách mạng tri thức hứa hẹn sẽ phá vỡ nhanh chóng những giới hạn tạm thời trong trình độ nhận thức của con người đối với thế giới, mở đầu cho một kỷ nguyên mới của nền văn minh nhân loại – nền văn minh dựa vào tri thức

1.1.2 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức

Khái niệm kinh tế tri thức, tham khảo kết quả của nhiều tác giả, luận án thống nhất kinh tế tri thức là: Nền kinh tế mà trong đó tri thức khoa học thẩm thấu vào tất cả các quá trình phát triển kinh tế xã hội, và đặc biệt sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức

là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế

Về đặc trưng của kinh tế tri thức luận án đi đến tổng kết thành năm đặc trưng cơ bản: Thứ nhất, đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức; thứ hai, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động và biến đổi nhanh, sáng tạo trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển; thứ ba, mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của xã hội và nền kinh tế; thứ tư, tổ chức sản xuất trở nên linh hoạt hơn,

Trang 9

sản phẩm có xu hướng phi trọng lượng và doanh nghiệp là nhân vật trung tâm của toàn

bộ hệ thống; thứ năm, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hóa Là nền kinh tế học

hỏi, chủ trương xây dựng xã hội học tập

là phát triển bền vững Ngày nay, trong cục diện mới, tri thức phát triển vượt bậc, kinh tế thị trường phải có sự thay đổi định hướng bảo đảm sự phát triển đồng thuận giữa kinh tế

với xã hội và môi trường

1.1.3 Những điều kiện để tri thức khoa học trở thành yếu tố cơ bản của kinh

tế tri thức

Từ thực tiễn đời sống và từ sự phân tích, lý giải của khoa học đều khẳng định tri thức khoa học là động lực giữ vai trò quyết định, là đầu tàu kéo theo sự phát triển kinh tế tri thức, tuy nhiên, để tri thức khoa học thực sự thẩm thấu vào nền kinh tế và trực tiếp chuyển thành hàng hóa, thành sản phẩm thì theo nghiên cứu và đánh giá của các chuyên

gia kinh tế học, sẽ cần có sáu điều kiện cụ thể, đó là sự phát triển vượt bậc của: Cơ học lượng tử, cách mạng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, thị trường khoa học công nghệ và khoa học xã hội và nhân văn Toàn bộ các yếu tố trên liên

kết với nhau một cách chặt chẽ và phát triển lớn mạnh sẽ tạo nên nền tảng, giúp tri thức

khoa học thực sự chuyển hóa vào nền kinh tế, từng bước làm lộ diện nền kinh tế tri thức

1.2 VAI TRÒ CỦA TRI THỨC KHOA HỌC ĐỐI VỚI KINH TẾ TRI THỨC

1.2.1 Tri thức khoa học là cơ sở, phương tiện để phát triển kinh tế tri thức Tri thức khoa học là cơ sở để phát triển kinh tế tri thức vì thực chất từ việc hình

thành cho đến sự phát triển và tốc độ tăng trưởng của kinh tế tri thức đều bắt nguồn từ sự phát triển của tri thức khoa học, có thể nói tri thức khoa học là nền tảng cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế tri thức Vì thế Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta đã viết: “ Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ”3 Tri thức khoa học còn là phương tiện để hoàn thành mục đích phát triển kinh tế tri thức Nền kinh tế thế giới đang chuyển đổi sang kinh tế thông tin,

cuộc cạnh tranh sắp tới không phải là chiếm hữu đất đai, tài nguyên, chiếm hữu người lao động và công cụ sản xuất như trước, mà quan trọng hơn là sở hữu tri thức Trình độ phát triển của tri thức khoa học cũng như năng lực đổi mới, sáng tạo của khoa học và khả năng biến tri thức khoa học thành kỹ thuật – công nghệ được xem như là những phương tiện hỗ trợ hữu hiệu nhất để nền kinh tế nhanh chóng được tri thức hóa, thực hiện thành công mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong thời đại mới

1.2.2 Tri thức khoa học là động lực cơ bản để phát triển kinh tế tri thức

Tri thức khoa học là động lực của kinh tế tri thức bởi chính tri thức khoa học là

yếu tố thúc đẩy, làm cho kinh tế tri thức biến chuyển, phát triển lên trình độ mới Tri thức khoa học cùng với những tiện ích nó mang lại, đặc biệt là sau khi đã được vật chất hóa trong nền kinh tế, những phát minh, sáng chế thành kỹ thuật, công nghệ, thì nó sẽ trở thành nhân tố trực tiếp làm cho nền kinh tế nhanh chóng chuyển lên trình độ kinh tế tri

thức Vai trò động lực của tri thức khoa học đối với kinh tế tri thức thể hiện trước hết ở

chỗ, nó là đòn bẩy thúc đẩy tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ các trụ cột của kinh tế tri thức, tri thức khoa học còn trực tiếp, hoặc gián tiếp tác động vào các thành tựu kinh tế - xã hội

và tri thức khoa học được xem là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế tri thức Tri

3 Đảng Cộng sản Việt Nam(2011), Văn kiện Đại hội Đảng lần XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia– Sự thật, Hà Nội, tr.220

Trang 10

thức khoa học thấm vào tất cả các lĩnh vực của nền sản xuất xã hội, nó còn giải phóng con người ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, nó làm thay đổi tận gốc rễ những yếu tố

của lực lượng sản xuất

Ngày nay với trình độ phát triển cao, tri thức khoa học đi trước kỹ thuật và hướng dẫn cho kỹ thuật phát triển làm biến đổi toàn bộ các lĩnh vực của kinh tế - xã hội

Kết luận chương 1

Qua tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học và kinh tế tri thức,

tác giả đi đến một số kết luận sau: Thứ nhất, luận án đã nỗ lực góp phần đưa ra một bức

tranh toàn cảnh về tri thức khoa học và kinh tế tri thức thông qua việc phân tích làm rõ khái niệm, cấu trúc và phân loại của tri thức khoa học; tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về kinh tế tri thức, về khái niệm, những đặc trưng cơ bản và tính chất đặc thù của

quá trình tiến lên kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay Thứ hai, luận án cũng đã phân

tích sáu điều kiện để tri thức khoa học chuyển hóa và trở thành kinh tế tri thức là: sự phát triển của cơ học lượng tử, cách mạng thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano, thị trường khoa học công nghệ sôi động và sự bùng nổ của khoa học xã hội và nhân văn

Thứ ba, tri thức khoa học luôn có những tác động tích cực đến xã hội trên bình diện rộng,

đặc biệt là đến tiến trình phát triển kinh tế tri thức, ở đây, luận án khẳng định tri thức khoa học vừa là cơ sở, vừa là phương tiện, lại vừa là động lực cơ bản, tác động đến sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức

Những cơ sở lý luận trên là nền tảng nhận thức để luận án tiếp tục đi vào khảo sát thực trạng phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam trong chương tiếp theo

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YÊU CẦU KHÁCH QUAN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1.1 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng nghiên cứu khoa học, hoạt động trí tuệ của đội ngũ những nhà nghiên cứu để tạo ra thành quả là tri thức khoa học

lĩnh vực cơ bản nhất là khoa học xã hội - nhân văn và khoa học tự nhiên Khoa học xã

hội và nhân văn đã có những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn, những nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn đã đưa lại một hệ thống tri thức khoa học đồ sộ, cung cấp cơ sở lý luận cho sự chuyển biến quá trình công nghiệp hóa kiểu cũ, sang công nghiệp hóa gắn liền hiện đại hóa, và đặc biệt là gắn liền với phát triển kinh tế tri thức Nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên có những bước phát triển mạnh, tạo tiền đề hình thành và phát triển một số lĩnh vực khoa học và công nghệ như nano, vũ trụ, y sinh Trên nhiều lĩnh vực từ nông - lâm - ngư - nghiệp cho đến cơ khí, máy móc, y học…kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học ở nước ta đã có nhiều tiến bộ, cụ thể ngày 18/12/2012 tại Hà Nội Bộ Khoa học công nghệ và Hội đồng giải thưởng cấp nhà nước đã trao giải thưởng Hồ Chí Minh cho 32 công trình thuộc 5 lĩnh vực khoa học, trong đó có 3 cụm công trình và 9 cụm công trình đặc biệt xuất sắc có giá trị ứng dụng cao cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước

Năng lực và chất lượng nghiên cứu khoa học của Việt Nam bị xếp vào khu vực

Trang 11

chậm phát triển Theo công bố mới nhất của viện SCImago, xếp hạng năng lực và chất

lượng nghiên cứu khoa học của các viện, trường đại học của Việt Nam giảm mạnh Đáng chú ý là đại học Quốc gia Hà Nội bị tụt gần 200 bậc ở mức thế giới, xếp hạng khu vực cũng bị tụt đáng kể Bảng xếp hạng năm 2012 cho thấy, có bốn đơn vị của Việt Nam lọt vào bảng xếp hạng của SCImago Nếu tính theo quốc gia, viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đứng đầu, kế đến là Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội và trường Đại học Bách khoa Hà Nội (xếp thứ 4 quốc gia, 857 khu vực và 3.160 thế

giới) Hiện tượng chảy máu chất xám diễn ra nghiêm trọng

BẢNG XẾP HẠNG CÁC TỔ CHỨC KHCN VIỆT NAM 2011 - 2012

Nguồn: SCImago xếp hạng các tổ chức KHCN 2012

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, năng suất nghiên cứu khoa học ở Việt Nam

có được cải thiện và tương đối nhanh so với khu vực, tốc độ tăng trưởng của năng lực

nghiên cứu khoa học hàng năm đạt khoảng 15 – 16 % (tương đương với Thái Lan và Malaysia), trong khi các nước có nền kinh tế tiên tiến thì có xu hướng chững lại trong thời gian gần đây như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore khoảng 9 -11%/năm, Hồng Kông 5%/năm, Nhật Bản 1%/năm, cho thấy Việt Nam cao hơn so với Philippines, ở mức 5,7%, chỉ có Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, khoảng 20%/năm Như vậy, so sánh về năng suất nghiên cứu khoa học thì hiện nay Việt Nam không còn thua kém các nước, thậm chí còn vượt qua một số nước phát triển, tuy nhiên hiệu quả ứng dụng thì chưa tương xứng với năng suất nghiên cứu khoa học khá cao đó

Số lượng sáng chế công bố quốc tế và trong nước (thành quả của hoạt động nghiên cứu khoa học) của Việt Nam trong những năm gần đây có tăng đáng kể nhưng vẫn còn kém xa khu vực và thế giới Năm 2012, số lượng sáng chế công bố quốc tế của

Việt Nam là 1761, tăng 7% so với năm 2011 (1556) Số lượng đơn đăng ký sáng chế năm 2012 là 4257 và văn bằng bảo hộ độc quyền được cấp là là 1112 (số liệu tương ứng năm 2011 là 3995 và 1054) Qua đó cho thấy trong những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu khoa học của Việt Nam có chiều hướng tăng nhanh Số lượng bài báo và công trình khoa học được công bố quốc tế giai đoạn 2006 – 2010 tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2001 – 2005, gấp 4 lần so với giai đoạn 1996 – 2000 và gấp 6 lần so với giai

1.967

561

2.058

ÐH QG

TP.HCM

720

2.765

744

2.774

2.965

854

3.155

Trang 12

đoạn 1991 – 1995 (Cụ thể giai đoạn 1991 – 1995 là 837; 2001 – 2005 là 2517; 2006 –

2010 là 5286; riêng năm 2011 là 1044, gấp 2 lần giai đoạn 1991 – 1995, và cao hơn giai đoạn 1996 – 2000 (1420)

Nguồn: Số liệu thu thập từ cơ sở dữ liệu ISI Web of Science của Thomson Reuters, tra

cứu ngày 1/03/2013

Biểu đồ 1: Tổng số bài báo trên mọi lĩnh vực của Việt Nam và một số nước

trong 5 năm gần đây (2008-2012)

Nguyên nhân của những yếu kém trong hoạt động nghiên cứu khoa học: thứ nhất,

do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể vì cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ nhân tài khoa học, do hoạt động, tổ chức nghiên cứu thiếu hiệu quả cho nên hầu hết thành tựu của Việt Nam trên các mặt còn yếu Thứ hai, do Việt Nam mạnh về nghiên cứu cơ bản, nên

những ứng dụng và giá trị thực tiễn không nhìn thấy rõ rệt Thứ ba, do khâu đầu tư cho

khoa học công nghệ còn yếu Thứ tư có thể là do chính sách giữ chân thu hút nhân tài

kém hiệ quả nên có hiện tượng chảy máu chất xám ra nước ngoài và sang khu vực tư nhân Thứ năm là sự tách biệt giữa đào tạo - nghiên cứu - ứng dụng đã không tạo nên

động lực đủ mạnh để phát triển tri thức khoa học

2.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực khoa học công nghệ và cơ sở giáo dục – đào tạo ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng về nguồn nhân lực khoa học công nghệ và cơ sở giáo dục – đào tạo

- những điều kiện về nguồn lực con người và tình hình giáo dục, đào tạo nguồn lực con người – chủ thể của hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm sáng tạo ra tri thức khoa học

Th ứ nhất, nguồn nhân lực khoa học công nghệ trong nước dồi dào, nhưng chất

lượng còn kém Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2012, cả nước có

24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ, so với năm 1996, đội ngũ này tăng trung bình 11,6 % / năm, trong đó tiến sĩ tăng 7% năm, thạc sĩ tăng 14% năm Độ tuổi bình quân là 38.5, đây

là lực lượng nhân lực chất lượng cao giữ vai trị chủ chốt trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, sáng tạo hệ thống tri thức khoa học của đất nước Riêng nhân lực cho khoa học công nghệ tính đến thời điểm năm 2012 Việt Nam có hơn 62 nghìn người làm việc trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển, trong đó nhân lực có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên khoảng 50 nghìn người (gần 5000 tiến sỹ và trên 11000 thạc sỹ), số cán bộ nghiên

Trang 13

cứu và phát triển đạt 7 người/ 1 vạn dân, so với năm 1996, con số này tăng gần gấp 3 lần,

tỉ lệ phân bổ số lượng cán bộ nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam hiện tại là: khoa học

xã hội và nhân văn chiếm 10.6 %; khoa học tự nhiên chiếm 7,3 %; khoa học nông nghiệp chiếm 23.5 %; khoa y học – dược chiếm 10.8 %; khoa học kỹ thuật và công nghệ chiếm

tỉ lệ rất cao 45.9% Điều đó cho thấy, nhìn trên phương diện tổng thể, nguồn nhân lực cho khoa học và công nghệ của Việt Nam gia tăng đáng kể và có xu hướng phát triển trong thời gian gần đây Tuy nhiên, cơ cấu nhân lực của Việt Nam còn rất nhiều bất ổn,

có tình trạng phân bố không đồng đều về nguồn nhân lực có trình độ cao giữa các vùng miền và các lĩnh vực kinh tế, sản xuất Điểm đáng lưu ý là dù số lượng nguồn nhân lực Việt Nam khá dồi dào, nhưng chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam là còn tương đối thấp Nước ta vẫn thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu, thiếu các nhà khoa học có kinh nghiệm làm nghiên cứu tầm cỡ quốc tế

Nguyên nhân của thực trạng: Việc bồi dưỡng, đào tạo, chế độ trọng dụng và đãi ngộ nhân tài còn nhiều bất cập; dù đã có nhiều nỗ lực nhưng đầu tư cho khoa học công nghệ nhìn chung còn thấp và hiệu quả chưa cao so với các quốc gia khác trong khu vực

và trên thế giới; cơ chế quản lý hoạt động khoa học công nghệ còn chưa đáp ứng yêu cầu; thị trường khoa học công nghệ phát triển còn chậm…

triển tích cực, nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu và yếu

Những năm gần đây, giáo dục đào tạo đã có những chuyển biến tích cực, nhưng

vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực và nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong giai đoạn mới Tính đến cuối năm 2012, cả nước có 215 trường đại học, trong đó 187 trường công lập; 204 trường cao đẳng, trong đó 150 trường công lập; 295 trường trung cấp chuyên nghiệp Tổng số sinh viên đại học, cao đẳng của cả nước là xấp

xỉ 2,2 triệu sinh viên; đạt tỉ lệ 270 sinh viên trên 1 vạn dân (tỉ lệ này năm 2002 là 118 sinh viên) số học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 623 nghìn học sinh Cả nước có 142 trường cao đẳng nghề, 316 trường trung cấp nghề, 850 trung tâm dạy nghề Số học sinh học nghề được tuyển mới trong năm nay là 1,9 triệu lượt người, trong đó cao đẳng nghề

và trung cấp nghề là 0,4 triệu lượt người; sơ cấp nghề 1,5 triệu lượt người Nhưng có thể thấy so với Trung Quốc có hơn 4.000 trường Đại học, cao đẳng trên 1,3 tỉ dân, so với Singapore có khoảng 68 trường Đại học, cao đẳng trên 3 triệu dân, so với Hoa Kỳ 4.495 trường Đại học, cao đẳng trên 314 triệu dân thì số lượng trường Đại học, cao đẳng mà Việt Nam đang có không phải là nhiều

Qua từng năm, quy mô giáo dục tăng lên thường xuyên, cố gắng từng bước đáp

ứng nhu cầu học tập, nâng cao trình độ trong nhân dân Giai đoạn 2001 -2010 tất cả các

bậc học đều gia tăng, mẫu giáo tăng 25%, tiểu học tăng 3%, trung học cơ sở tăng 13%, trung học phổ thông tăng 17%, quy mô đào tạo nghề tăng 3,08 lần, trung cấp chuyên nghiệp tăng 2,69 lần, giáo dục đại học tăng 2,35 lần Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng liên tục tăng, năm 2010 so với năm, 2001 tỉ lệ giáo viên các cấp đều tăng, giáo viên mầm non tăng lên 1.5 lần, giáo viên tiểu học khá ổn định, trung học cơ sở tăng 0.5 lần, giáo viên trung học phổ thông tăng 1.9 lần, giáo viên dạy nghề tăng nhiều nhất 3,6 lần, trung học chuyên nghiệp tăng 1,7 lần, cao đẳng 3,1 và giảng viên đại học tăng 1,9 lần; đến năm 2010, 100% giảng viên các trường cao đẳng nghề đều có trình độ từ đại học trở lên, trong đó 12% thạc sỹ, 16,8% tiến sỹ, giảng viên trường trung học chuyên

Ngày đăng: 20/02/2016, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w