1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lao động nhập cư và vai trò của nó đối với phát triển nguồn nhân lực ở thành phố hồ chí minh (TT)

25 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 531,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự hiện diện của mình, một mặt, lao động nhập cư đã đĩng gĩp đáng kể cho sự phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực của thành phố; mặt khác, lao động nhập cư cũng đặt thành phố

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử nhân loại, dân số, dân cư là một trong những điều kiện tất

yếu, khách quan hợp thành kết cấu tồn tại xã hội Trong một phương thức sản

xuất vật chất nhất định của xã hội, yếu tố dân số, bao gồm cả chất lượng và số

lượng của nĩ, nhân tố con người sản xuất, nguồn nhân lực trong quá trình sản

xuất vật chất, giữ vai trị quyết định đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội

Trong thời đại tồn cầu hĩa hiện nay, tính chất và đặc điểm của yếu tố dân số,

dân cư đã cĩ những biến đổi Người lao động đã luơn cĩ sự thay đổi mơi trường

lao động một cách năng động, linh hoạt Lao động nhập cư gắn với hiện tượng

di dân, đã giữ một vị thế đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội

hiện nay Di dân là một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến, gắn liền với lịch sử phát

triển của xã hội loài người Trong lịch sử, di dân luôn giữ vai trò rất quan trọng trong

quá trình phát triển dân số, kinh tế – xã hội của loài người - lịch sử của loài người luôn

gắn liền với quá trình di dân Những người dân di cư được gọi là “lao động nhập cư”

hay “lao động tạm trú” Ở Việt Nam, lực lượng lao động nhập cư có mặt trong hầu hết

các lĩnh vực đời sống xã hội của cả nước với tỷ lệ không nhỏ, góp phần quan trọng trong

việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng của các tỉnh, thành phố trong cả nước Đặc biệt,

ở thành phố Hồ Chí Minh, do khoảng cách phát triển cĩ sự cách biệt khá lớn so với các

tỉnh, thành khác của cả nước cho nên lao động nhập cư vẫn sẽ tiếp tục đến thành phố Với

sự hiện diện của mình, một mặt, lao động nhập cư đã đĩng gĩp đáng kể cho sự phát triển

kinh tế, phát triển nguồn nhân lực của thành phố; mặt khác, lao động nhập cư cũng đặt

thành phố trước nhiều thách thức khơng nhỏ, trong đĩ cĩ những vấn đề rất nan giải như:

vấn đề chính sách quản lý, đào tạo và sử dụng, vấn đề chính sách, nhà ở, đất đai, cư trú,

giáo dục, y tế Quán triệt Nghị quyết số 16 – NQ/TW của Bộ Chính trị, hiện nay, Đảng bộ,

chính quyền và nhân dân thành phố đang nỡ lực phấn đấu xây dựng thành phố Hồ Chí

Minh trở thành một thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh, hiện đại với vai trị đơ thị đặc

biệt, đi đầu trong sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố, đĩng gĩp ngày càng lớn với

khu vực và cả nước; từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại,

khoa học - cơng nghệ của đất nước và khu vực Đơng Nam Á Trong xu thế hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay, để thực hiện thành cơng sự nghiệp ấy, việc phát huy tiềm năng của các

nguồn lực trong nhân dân là nhu cầu, nhiệm vụ được Đảng và nhà nước ta đặt lên hàng

đầu Song song với quá trình cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa đất nước và phát triển kinh tế,

sự tái cấu trúc về cơ cấu kinh tế, sự chuyển dịch mạnh mẽ sang lĩnh vực cơng nghiệp, dịch

vụ, sự phát triển nhanh chĩng của các đơ thị, khu cơng nghiệp, sự phân bố lại lao động đã

và đang diễn ra Số lao động dư thừa ở nơng thơn ngày càng tăng lên, khu vực thành thị

với cơ cấu kinh tế mở năng động, đã trở thành điểm thu hút lao động nơng thơn hướng về

Trong điều kiện đĩ, di dân và lực lượng lao động nhập cư trở thành một hiện tượng

thường xuyên, đặc biệt đối với các quốc gia đang bước vào thời kỳ cơng nghiệp theo

hướng hiện đại hĩa như Việt Nam Sự thiếu ổn định của tăng trưởng kinh tế, nhu cầu cơng

Trang 2

ăn việc làm, sự chênh lệch giữa các vùng, miền tạo nên làn sóng di dân và từ đó hình thành hiện tượng “lao động nhập cư” tại các đô thị lớn, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh

và Hà Nội Ở các tỉnh, thành phố có ít khu chế xuất, khu công nghiệp, quá trình tăng trưởng kinh tế chậm, nhu cầu việc làm cao thường có hiện tượng dư thừa về số lượng lao động Và tất nhiên, các tỉnh, thành tập trung nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp như thành phố Hồ Chí Minh sẽ là điểm đến có sức thu hút mạnh mẽ đối với lực lượng lao động này ở các địa phương

Sự phát triển của các thành phố lớn gắn liền với sự phát triển chung của khu vực, cũng như của cả nước Đồng thời với sự tăng trưởng kinh tế, luôn kéo theo sự phát triển nguồn nhân lực và sự phát triển thị trường lao động Trong đó, lao động nhập cư là nhân

tố quan trọng, một mặt thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển thị trường lao động cho thành phố; mặt khác cũng tạo nên sự quá tải của cơ sở hạ tầng, gây ra những khó khăn nhất định cho công tác quản lý trật tự an toàn xã hội

Hiện nay, tại thành phố Hồ Chí Minh, vấn đề lao động, trong đó có lao động nhập

cư với những vấn đề về chính sách đối với lao động và nguồn nhân lực, luôn là một trong những vấn đề bức thiết của chính quyền thành phố Theo Tổng cục thống kê năm 2012, dân số thành phố có 7.681,7 ngàn người Trong đó, có trên 5,4 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm 70,3% dân số; có khoảng 4,1 triệu người đang tham gia vào lực lượng lao động của thành phố, chiếm 53,37% dân số (số người nhập cư vào thành phố bình quân trong 3 năm 2010, 2011, 2012 là trên 200.000 người/năm – Tổng cục thống kê năm 2010,

2011, 2012) Trong tổng dân số của thành phố, có trên 2,2 triệu dân nhập cư, chiếm gần 30% Cũng theo Tổng cục thống kê năm 2012, trong số này, có trên 1,66 triệu người đang tham gia vào lực lượng lao động của thành phố, chiếm 40,49% lực lượng lao động của thành phố, chiếm 75.45% tổng số dân nhập cư Với cơ cấu và tỷ lệ như trên, có thể thấy lao động nhập cư có vai trò đáng kể trong sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế -

xã hội thành phố trong những năm qua Trong thời gian qua, mặc dù chính quyền thành phố đã có nhiều chủ trương, chính sách thoáng hơn nhiều so với những năm trước đây để quản lý, đào tạo và sử dụng lao động nhập cư Tuy nhiên, với sự gia tăng ngày càng nhanh lao động nhập cư, một số chủ trương, chính sách trở nên bất cập, đặc biệt là chưa có được đánh giá đầy đủ về sự đóng góp của lao động nhập cư vào sự phát triển kinh tế nói chung, nguồn nhân lực của thành phố nói riêng Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu một cách thấu đáo, đánh giá đúng đắn thực trạng, tác động của lao động nhập cư, cũng như nhận diện những mặt tích cực và tiêu cực của lao động nhập cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhằm đưa ra phương hướng và các giải pháp phát huy vai trò của lao động nhập cư trong phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh, không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn

có ý nghĩa thực tiễn Do đó, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Lao động nhập cư và vai trò của nó đối với phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án

tiến sỹ chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề di dân, di cư nói chung, trong đó có lao động nhập cư, là một vấn đề lớn, với nhiều nội dung sâu sắc, mang tính nhân văn và thực tiễn cao Chính vì vậy, vấn đề

Trang 3

di dân, lao động nhập cư đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học với nhiều cơng trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến trao đổi khác nhau Các cơng trình nghiên cứu về lao động nhập cư được tập trung theo các hướng: các cơng trình liên quan đến những quan điểm, lý luận chung về lao động nhập cư và phát triển nguồn nhân lực; các cơng trình liên quan đến những quan điểm về thực trạng lao động nhập

cư và những vấn đề đặt ra về chính sách đối với lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh; các cơng trình liên quan đến những giải pháp để khai thác và quản lý cĩ hiệu quả đối với lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh Nhìn chung, cĩ thể khái quát các cơng trình nghiên cứu đĩ thành ba chủ đề chính

Chủ đề thứ nhất, đĩ là các cơng trình liên quan đến những quan điểm, lý luận chung về lao động nhập cư và phát triển nguồn nhân lực Trong chủ đề này cĩ các cơng trình nghiên cứu khoa học đã được cơng bố như: Từ nơng thơn ra thành phớ – tác đợng kinh tế – xã hợi của di cư ở Việt Nam của Lê Bạch Dương – Nguyễn Thanh Liêm,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008; Lao động nữ di cư tự do Nông thôn – Thành thị

của Hà Thị Phương Tiến và Hà Quang Ngọc, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2000; Tác động của di cư tự do vào thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới của Ths Trần Hồng Vân, Nxb Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh, 2002; Báo cáo sơ bộ một số kết quả nghiên cứu về di dân của Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí

Minh, 2005; Giáo trình kinh tế nguờn nhân lực, Nxb Đại học kinh tế Quốc dân, Hà

Nội, 2009 của PGS TS Trần Xuân Cầu (chủ biên) – PGS.TS Mai Quốc Chánh; Cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa ở Việt Nam lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2002 của TS Nguyễn Trọng Chuẩn – PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa - PGS.TS Đặng

Hữu Tồn (chủ biên); Quản trị nguờn nhân lực, Nxb Phương Đơng, Tp.Hồ Chí Minh,

2011 của TS Bùi Văn Danh - MBA Nguyễn Văn Dung – Ths Lê Quang Khơi; Phát triển nguờn nhân lực dựa trên các chiến lược kinh tế, Hà Nội, 2009 của Phùng Lê

Dung – Đỡ Hồng Hiệp, hà Nội, 2009, đăng trên Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và

Trung Đơng; Di cư trong nước – Cơ hợi và thách thức đới với sự phát triển kinh tế – xã hợi ở Việt Nam, Hà Nội, 2010 của Veronique Marx và Katherine Fleischer thuộc tổ chức United Nations Viet Nam; Hội thảo khoa học phát triển bền vững kinh tế – xã hội của các thành phố theo hướng hiện đại, Hà Nội, 2011 do Viện kinh tế phát triển Hà

Nội tổ chức Trong công trình Di dân tự do đến Hà Nội, thực trạng và giải pháp quản

lý của TS Hoàng Văn Chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 đã phân tích khá

rõ thực trạng, nguyên nhân dẫn đến di dân, đặc điểm của di dân đồng thời đưa ra một số giải pháp đối với vấn đề di dân Trước tiên, tác giả đã nêu những nhận định khái quát nhất về di dân: Di dân là một hiện tượng kinh tế – xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều về kinh tế – xã hội giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới Bên cạnh đĩ, trong cơng trình của mình, tác giả cũng đã giới thiệu lại định nghĩa của Liên

Trang 4

hợp quốc về di dân Theo Liên hợp quốc thì Di dân là sự di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính này vào một đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định Theo tác giả, nguyên nhân cơ bản, có tính phổ biến, dẫn đến di dân là nguyên nhân kinh tế Bên cạnh nguyên nhân kinh tế còn có các nguyên nhân khác như: nguyên nhân chính trị, tôn giáo, tâm lý, tình cảm, quốc phòng hoặc các nguyên nhân về điều kiện tự nhiên (động đất, núi lửa,…) Trong công trình này, ngoài việc phân tích các nguyên nhân dẫn đến di dân, tác giả còn đưa ra những nhận định về đặc điểm của di

dân Theo đó, di dân có 3 đặc điểm chính: thứ nhất, con người di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi nào đó với một khoảng cách nhất định; thứ hai, người

di chuyển có mục đích, họ rời nơi ở cũ đến nơi ở mới thực hiện mục đích của mình;

thứ ba, thời gian ở lại nơi mới phải kéo dài trong khoảng thời gian xác định, tối thiểu

phải từ 6 tháng trở lên mới xác định đó là di dân Ngoài ra, theo tác giả, chúng ta có thể nhận biết di dân qua một đặc điểm nữa đó là sự di chuyển nơi ở và thay đổi nơi làm việc, nghề nghiệp và các hoạt động sinh sống hằng ngày

Chủ đề thứ hai, đĩ là các cơng trình liên quan đến thực trạng lao động nhập cư và những vấn đề đặt ra về chính sách đối với lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh Trong chủ đề thứ hai, cĩ các tác phẩm như: Hội thảo quốc gia tăng cường năng lực xây dựng chính sách di dân nội địa Việt Nam, phần II của Bộ Nông nghiệp và phát

triển nông thôn, 1998, thành phố Hồ Chí Minh; Chi cục phát triển nông thôn thành

phố Hồ Chí Minh (2005), Hành trình hội nhập của di dân tự do vào thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ góc độ kinh tế và xã hội, thành phố Hồ Chí Minh; Cư dân đơ thị và khơng gian đơ thị trong tiến trình đơ thị hĩa ở thành phớ Hờ Chí Minh: Thực trạng và dự báo của Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2010; Sự thớng nhất và mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhĩm, giai tầng xã hợi ở thành phớ Hờ Chí Minh hiện nay – Thực trạng và giải pháp, của Viện nghiên cứu xã

hội thành phố Hồ Chí Minh - Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ - Báo Sài Gịn giải

phĩng, thành phố Hồ Chí Minh, 2006; Mợt sớ vấn đề về di cư nơng thơn – đơ thị – Thách thức và cơ hợi cho thành phớ Hờ Chí Minh của Bùi Việt Thành, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2011; Vấn đề lao đợng di cư ra thành thị, khu cơng nghiệp trong bới cảnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO – Thực trạng và giải pháp, của Trung tâm phát triển và mơi trường Vùng thuộc Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội, 2012; Đời sớng văn hĩa tinh thần của cơng nhân ở các khu chế xuất – khu cơng nghiệp thành phớ Hờ Chí Minh của

TS Phạm Đình Nghiệm, thành phố Hồ Chí Minh, 2007; Di cư và đơ thị hĩa ở Việt Nam: Thực trạng, xu hướng và những khác biệt của Tổng cục thống kê, Hà Nội, 2011 Trong cơng trình Sự thớng nhất và mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhĩm, giai tầng xã hợi ở thành phớ Hờ Chí Minh hiện nay – Thực trạng và giải pháp của Viện nghiên cứu xã

Trang 5

hội thành phố Hồ Chí Minh - Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ - Báo Sài Gịn giải phĩng, thành phố Hồ Chí Minh, 2006, các tác giả đã đặt ra những vấn đề chính sách cịn nan giải của thành phố đối với lao động nhập cư trên khá nhiều lĩnh vực như: nhà ở, điều kiện hạ tầng, giáo dục, y tế, tiếp cận tín dụng, việc làm, hộ khẩu, hội nhập cộng

đồng Đới với lĩnh vực nhà ở, cơng trình cho rằng chất lượng nhà ở là vấn đề khĩ khăn

của lao động nhập cư Lao động nhập cư thường phải sống trong điều kiện chật hẹp, vệ

sinh mơi trường khơng đảm bảo chất lượng, tình trạng an ninh trật tự kém Đới với lĩnh vực hạ tầng cơ sở, cụ thể là điện, nước, lao động nhập cư phải trả tiền điện, nước cao hơn nhiều so với lao động sở tại Đới với lĩnh vực giáo dục, mặc dù ngành giáo dục

khơng cĩ chủ trương hạn chế lao động nhập cư nhưng việc thiếu trường, lớp là áp lực lớn nên các trường đã cĩ sự chọn lọc mà một trong những tiêu chí để chọn lọc chính là

hộ khẩu Đới với lĩnh vực y tế, cơng trình cho rằng việc thu hút lao động nhập cư vào các chương trình giảm nghèo, trong đĩ cĩ hỡ trợ về y tế, vẫn cịn cĩ hạn chế Đới với lĩnh vực tiếp cận tín dụng, cơng trình cho rằng ngồi các lĩnh vực tín dụng cĩ tính chất

xã hội từ thiện như Quỹ hội phụ nữ, Quỹ xĩa đĩi giảm nghèo thì việc tiếp cận để vay vốn từ ngân hàng cịn rất khĩ khăn đối với lao động nhập cư bởi để được vay vốn từ ngân hàng thì phải cĩ các yếu tố để thế chấp và đảm bảo như: nhà, đất, hộ khẩu,…trong

khi lao động nhập cư thì khĩ hoặc khơng thể cĩ các yếu tố này Đới với lĩnh vực việc làm, cơng trình khẳng định rằng lao động nhập cư hầu như khơng cĩ cơ hội làm việc

trong khu vực nhà nước do khơng cĩ hộ khẩu và khi làm việc trong khu vực tư nhân, họ

dễ bị người sử dụng lao động vi phạm về quyền lợi như: khơng ký hợp đồng lao động,

kéo dài thời gian thử việc, nợ bảo hiểm xã hội,… Đới với lĩnh vực hợ khẩu, cơng trình

cho rằng chính sách hộ khẩu với sự phân biệt người tại chỡ và người nhập cư, đã gia tăng thêm tâm lý “ngụ cư” vốn tiềm tàng Đồng thời việc ăn theo hộ khẩu của các chính sách, quy định và giao dịch dân sự đã làm cho cuộc sống của lao động nhập cư vốn đã

cĩ nhiều khĩ khăn lại tiếp tục phải gánh thêm rất nhiều khĩ khăn nữa Đới với việc tham gia đời sớng cợng đờng, cơng trình khẳng định rằng lao động nhập cư thường ít tham

gia các đồn thể trong cộng đồng Điều này một phần do người nhập cư khơng muốn tham gia nhưng phần lớn là do cách nhìn của người tại chỡ, người quản lý cộng đồng khơng xem trọng vai trị của họ

Chủ đề thứ ba là các cơng trình liên quan đến những giải pháp để khai thác và quản lý cĩ hiệu quả đối với lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh Trong chủ đề này, cĩ các cơng trình nghiên cứu khoa học như: Báo cáo thuyết minh tổng hợp “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025” của Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2013; Hành trình hợi nhập của di dân tự do vào thành phớ Hờ Chí Minh – nhìn từ gĩc đợ kinh tế và xã hợi của Nguyễn Trọng Liêm và các thành viên, thành phố Hồ Chí Minh, 2005; Chính sách lao động nhập cư của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay của Th.s Nguyễn Văn Lâm, thành phố Hồ Chí Minh, 2005; Về nguồn nhân lực của Việt

Nam trong năm 2010 và những năm sau của PGS.TS Phạm Đức Vượng, Hà Nội, 2010;

Trang 6

Hiện tượng di dân đến thành phố: nhận định và đề xuất chính sách của PGS.TS Lê Xuân Bá, Hà Nội, 2010; Di dân với phát triển kinh tế - xã hợi thành phớ Hờ Chí Minh của Lê

Văn Thành, thành phố Hồ Chí Minh, 2011; Hội thảo khoa học phát triển bền vững kinh tế

– xã hội của các thành phố theo hướng hiện đại, Hà Nội, 2011 do Viện kinh tế phát triển

Hà Nội tổ chức; Giải pháp cho doanh nghiệp lao động nhập cư tại thành phố Hồ Chí

Minh của Nguyễn Đức Thuấn, Hà Nội, 2011; Nhân lực chất lượng cao và lao động nước

ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh của Trần Anh Tuấn, thành phố Hồ Chí Minh, 2013 Trong các cơng trình nghiên cứu này, phải kể đến cơng trình Di dân với phát triển kinh tế - xã hợi thành phớ Hờ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, 2011 của tác giả Lê Văn

Thành này, tác giả đã nêu một số dự báo quan trọng về tình hình dân số thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 – 2025 Theo đĩ, từ 2020 – 2025, thành phố sẽ cĩ 10 – 12 triệu dân, tăng gấp đơi trong vịng 15 năm Cơng trình cũng khẳng định, người nhập cư sẽ ngày càng gia tăng trong tình hình Vùng kinh tế phía Nam đã giải tỏa bớt áp lực Từ dự báo đĩ, cơng

trình đã đưa ra một số giải pháp đối với lao động nhập cư Thứ nhất, cần quản lý tốt người nhập cư, đưa các cơng trình xã hội vào những cộng động người nhập cư Thứ hai, cần cĩ

cơ chế thơng tin tốt cho người nhập cư về việc làm, điều kiện sống đồng thời đảm bảo các

chế độ bảo hiểm xã hội Thứ ba, cần gắn vấn đề phân bố dân cư (cĩ người nhập cư) với

quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng đơ thị, tại thành phố Hồ Chí Minh

Bên cạnh đĩ, các cơng trình, đề tài nghiên cứu về di dân, về lao động nhập cư cịn

được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Lê Văn Thành, Dân nhập cư với vấn đề phát triển kinh tế xã hợi của thành phớ Hờ Chí Minh, Tạp chí Khoa học xã hội, thành phố

Hồ Chí Minh, năm 2007; Trần Đan Tâm, Vấn đề của người nhập cư vào thành phớ Hờ Chí Minh, Tạp chí Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007; Nguyễn Thị Thiềng - Vũ Hồng Ngân, Khĩ khăn của người di cư đến Hà Nợi và thành phớ Hờ Chí Minh, Tạp chí Kinh tế và phát triển, Hà Nội, năm 2006; Phạm Thị Xuân Thọ, Về quá trình

di dân ở thành phớ Hờ Chí Minh, Tạp chí Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh, năm 1997; Lê Văn Năm, Di dân nơng thơn - đơ thị và sự phát triển đơ thị bền vững tại thành phớ Hờ Chí Minh, Tạp chí Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh, năm 1999 Ngồi ra,

cịn nhiều cơng trình khác cũng trình bày nhiều khía cạnh khác nhau đối với vấn đề di dân

và lao động nhập cư

Trong các cơng trình nghiên cứu trên, các tác giả đã tập trung làm rõ khái niệm di dân, đặc điểm, xu hướng của di dân trên thế giới cũng như các quan điểm, các vấn đề đặt

ra đối với di dân và các giải pháp cho vấn đề di dân ở Việt Nam giai đoạn hiện nay Tuy

nhiên, vấn đề “Lao đợng nhập cư và vai trị của nĩ đới với phát triển nguờn nhân lực ở thành phớ Hờ Chí Minh” cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống ở bất

kỳ cơng trình nào đã cơng bố

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu về vấn đề lao động nhập cư, thực trạng lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh và về vai trị, tác động của lao động nhập cư đối với sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển kinh tế, xã hội ở thành

Trang 7

phố Hồ Chí Minh trên cả phương diện lý luận và thực tiễn

- Phạm vi nghiên cứu: luận án chỉ tập trung nghiên cứu về lao động nhập

cư, trong tổng thể nguồn nhân lực, trong phạm vi địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

4 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án là tập trung nghiên cứu, làm rõ vai trị to lớn của lao động nhập cư cũng như sự tác động, ảnh hưởng của lao động nhập cư đối với sự phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đĩ, đề xuất các giải pháp gĩp phần quản lý và khai thác cĩ hiệu quả lao động nhập cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Để đạt được mục đích trên đây, luận án xác định cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày, phân tích cơ sở lý luận chung về lao động nhập cư, mối quan

hệ giữa lao động nhập cư và phát triển nguồn nhân lực

Thứ hai, trình bày, phân tích thực trạng của lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí

Minh và những vấn đề đặt ra về chính sách đối với lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh

Thứ ba, đề xuất những giải pháp có tính định hướng và khả thi, để gĩp phần quản lý và khai thác một cách cĩ hiệu quả lao động nhập cư trên địa bàn thành phố, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Hồ Chí Minh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, phù hợp: hệ thống cấu trúc, lơgích và lịch sử, tổng hợp và phân tích, diễn dịch và quy nạp, thống kê, … để thực hiện luận án

- Phương pháp tiếp cận: luận án được triển khai nghiên cứu từ phương diện triết học chính trị, triết học xã hội; vận dụng lý luận triết học để giải quyết vấn

đề cụ thể do thực tiễn đặt ra

6 Đĩng gĩp mới của luận án

Luận án cĩ những đĩng gĩp mới trong nghiên cứu học thuật như sau:

Thứ nhất, từ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử và những luận

điểm của các nhà nghiên cứu về lao động nhập cư, về các đặc điểm của lao động nhập cư và nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh trên phương diện lý luận, luận án đã hệ thống hĩa, khái quát, làm rõ những vấn đề lý luận chung về lao động nhập cư và phát triển nguồn nhân lực, về sự tác động biện chứng giữa lao động nhập cư và sự phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh

Thứ hai, từ sự lý giải, phân tích bằng các số liệu chứng minh, luận án đã

chỉ ra thực trạng lao động nhâp cư và vai trị của nĩ đối với phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh Từ đĩ, trên phương diện thực tiễn, đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu để quản lý và sử dụng hiệu quả lao

Trang 8

động nhập cư đối với sự phát triển lực lượng sản xuất và nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hĩa – hiện đại hĩa của thành phố

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Nghiên cứu về lao động nhập cư và vai trị của nĩ đối với phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh cĩ ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất sâu sắc đối với sự phát triển kinh tế, xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Về lý luận, luận án đã gĩp phần khái quát hĩa, hệ thống hố và làm rõ

những quan điểm về lao động nhập cư trên thế giới nĩi chung, ở Việt Nam nĩi riêng, làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa người lao động nhập cư với phát triển nguồn nhân lực; làm rõ sự tác động, ảnh hưởng to lớn của lao động nhập

cư đối với sự phát triển nguồn nhân lực nĩi riêng, với các yếu tố của lao động sản xuất nĩi chung, ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Về ý nghĩa thực tiễn, từ thực trạng và giải pháp cĩ tính định hướng đối với

lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh mà luận án đề xuất, cĩ thể gĩp phần thiết thực vào việc phát triển, hồn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả vai trị quản lý nhà nước của chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đối với vấn đề lao động nhập cư

Luận án cĩ thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử chuyên ngành triết học chính trị, triết học xã hội,…trong các trường cao đẳng

và đại học

8 Kết cấu của luận án

Ngồi phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận

án được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết, được thực hiện trong 212 trang

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ

VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 LÝ LUẬN MÁC – LÊNIN VÀ LÝLUẬN HIỆN ĐẠI VỀ LAO ĐỘNG NHẬP CƯ

1.1.1 Khái niệm lao động và lao động nhập cư

Khái niệm lao đợng

“Lao động là hoạt động cĩ mục đích của con người trong những lĩnh vực, ngành, nghề kinh tế khác nhau, nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất, các sản phẩm tinh thần để đáp ứng nhu cầu của xã hội”

Khái niệm lao đợng nhập cư

“Lao động nhập cư là những người lao động di chuyển từ nơi này sang nơi khác để làm việc, sinh sống”

1.1.2 Hiện tượng di dân và nguồn gốc của lao động nhập cư trong xã hội

Di dân là hiện tượng mà người dân, từ một nơi này di chuyển đến một nơi khác,

Trang 9

nhằm thực hiện mục đích của mình là tìm nơi sinh sống, làm việc tốt hơn nơi ở cũ, kèm theo việc thay đổi chỗ ở tạm thời hoặc vĩnh viễn

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến di dân Tuy nhiên, xét đến cùng, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng di dân vẫn là do sự dư thừa dân số, do sức ép của dân số quá đông đối với mơi trường sống hoặc do thiếu nguồn tài nguyên để cĩ thể sinh tồn

1.1.3 Đặc điểm và xu hướng của lao động nhập cư trên thế giới và Việt Nam hiện nay

Đặc điểm của lao động nhập cư trên thế giới và Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, lao động nhập cư thường là những người trẻ, thiếu kỹ năng nghề

nghiệp, có trình độ chuyên môn thấp, thậm chí không có chút kỹ năng gì và đang trong

giai đoạn thất nghiệp, mong muốn tìm việc làm Thứ hai, có một đội ngũ lao động nhập

cư có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cao Tuy nhiên, có thể do thu nhập, môi trường làm việc, các điều kiện để thỏa mãn đời sống tinh thần ở nơi xuất cư không đáp ứng được nhu cầu của họ nên họ ra đi tìm đến những nơi phù hợp hơn với nhu cầu của

họ Thứ ba, người lao động nhập cư sẵn sàng làm những loại công việc mà người lao động sở tại không làm hoặc không thông thạo bằng lao động nhập cư Thứ tư, người lao

động nhập cư tạo sự cạnh tranh sôi động của thị trường lao động

2) Xu hướng của lao đợng nhập cư trên thế giới và Việt Nam hiện nay

Quá trình lao động nhập cư thường diễn ra theo hai xu hướng chính Trong đó, quá

trình đô thị hóa và sự hình thành các khu công nghiệp hấp dẫn lao động nhập cư là xu hướng chủ yếu Tìm kiếm môi trường sống và làm việc tốt hơn đối với những lao động có trình độ chuyên môn cao là xu hướng chính thứ hai

1.2 SỰ TÁC ĐỘNG BIỆN CHỨNG CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƯ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia là chính là

sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo của con người và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực

1.2.2 Vấn đề di dân và phát triển nguồn nhân lực trong thực tiễn đời sống xã hội

Vấn đề di dân và phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồn nhân lực luơn có mối quan hệ biện chứng Di dân vừa là nguyên nhân lại vừa là hệ quả của quá trình phát triển Di dân gĩp phần nâng cao chất và gia tăng số lượng của nguồn nhân lực – một yếu

tố để phát triển nguồn nhân lực Ngược lại, phát triển nguồn nhân lực lại là tiền đề để di dân hay lao động nhập cư cĩ động lực để tiếp tục dấn thân vào quá trình di chuyển, quá

Trang 10

trình tìm kiếm cơ hội sống, lao động tốt hơn

1.2.3 Ttác động biện chứng của lao động nhập cư đối với việc phát triển nguồn nhân lực, yếu tố con người trong lực lượng sản xuất, ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, di cư vừa là động lực thúc đẩy lại vừa là kết quả của sự phát triển kinh

tế – xã hội của đất nước và có đóng góp đáng kể vào sự phát triển lực lượng lao động

xã hội của một quốc gia, sự phát triển kinh tế – xã hội của một đất nước Thứ hai, di cư

không chỉ góp phần tăng phúc lợi và an sinh cho người di cư mà còn mang lại lợi ích cho các hộ gia đình và cộng đồng có người di cư thông qua việc nhận các khoản tiền

gửi về quê hương của người di cư Thứ ba, di cư tác động tới cơ cấu phân công trách

nhiệm trong gia đình, tạo cơ hội để phụ nữ nâng cao vị thế của mình

Thứ tư, di cư mang lại sự phát triển con người không chỉ đối với cộng đồng nơi

đến mà còn đối với cả cộng đồng nơi đi

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hoạt động lao động của con người là nền tảng của sự tồn tại và phát triển của xã hội Nhờ lao động, con người sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, đảm bảo cho sự tồn tại; và như vậy, thơng qua hoạt động lao động, con người đã tạo ra lịch sử - xã hội của mình Theo C.Mác, lao động là hoạt động cĩ ý thức và cĩ mục đích cụ thể của con người, là hoạt động mang bản chất của con người, lồi người Chương 1 của luận án cĩ nhiệm vụ nghiên cứu, tập trung khái quát, làm rõ các vấn đề lý luận chung về lao động, lao động nhập cư và về sự tác động của lao động nhập cư đối với sự phát triển nguồn nhân lực nĩi chung, đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay nĩi riêng Thực hiện nhiệm vụ này, kết quả nghiên cứu của chương 1 đã phân tích, trình bày, làm rõ được những nội dung chủ yếu sau đây:

1 Hoạt động lao động là hoạt động đặc trưng, tất yếu và riêng cĩ của con người Thơng qua lao động, con người tác động vào giới tự nhiên, làm ra sản phẩm vật chất, thỏa mãn nhu cầu sống của con người Như vậy, lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của tồn

bộ lồi người; nĩi cách khác, lao động đã tạo ra con người và lồi người Trong lịch sử, lao động đã được nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau, trên nhiều phương diện khác nhau; và như vậy, đã cĩ nhiều quan niệm khác nhau về lao động Tiếp cận trên phương diện lịch sử, triết học và kinh tế - chính trị học, tổng hợp tồn bộ các quan niệm khác nhau

về lao động, luận án đã khái quát rằng “lao động là hoạt động cĩ mục đích của con người trong những lĩnh vực, ngành, nghề kinh tế khác nhau, nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất, các sản phẩm tinh thần để đáp ứng nhu cầu của xã hội” Trong lịch sử nhân loại, hoạt động lao động gắn liền với con người – chủ thể của tiến trình lao động, sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội - con người là nhân tố đặc biệt quan trọng trong hoạt động lao động Trong khi đĩ, con người – lao động – bị phụ thuộc và ảnh hưởng bởi các yếu tố tự nhiên, mơi trường sống, mơi trường lao động xã hội,… Do vậy, sự dịch chuyển lao động động, di cư, di dân,… là hiện tượng tất yếu khách quan và phổ biến trong lịch sử nhân loại,

đã là nguyên nhân chủ yếu tạo ra hiện tượng lao động nhập cư Và khi bàn về lao động nhập cư, đã cĩ nhiều quan niệm khác nhau; trong đĩ, luận án đã khái quát “Lao động nhập

Trang 11

cư là những người lao động di chuyển từ nơi này sang nơi khác để làm việc, sinh sống” để xác định khái niệm lao động nhập cư một cách chung nhất

2 Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội, do sự phát triển sản xuất, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, thay đổi sự phân công lao động, những biến đổi về chính trị - xã hội đã làm cho vấn đề lao động nhập cư trở thành yếu tố phổ biến Chúng ta biết rằng, lao động nhập cư liên quan trực tiếp đến vấn đề di dân, di cư, dịch chuyển lao động

xã hội Lịch sử loài người luôn gắn liền với quá trình di cư, di dân của người lao động Vấn đề di dân, lao động di cư, là hiện tượng xã hội phổ biến, mang tính quy luật, một yếu

tố tất yếu của lịch sử, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội đối với mỗi quốc gia cũng như đối với toàn bộ thế giới nói chung Lịch sử di dân, di cư trên thế giới chứng minh rằng đã có rất nhiều những thay đổi to lớn, với ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phân

bố cơ cấu dân cư giữa các châu lục Chẳng hạn các cuộc di dân với cường độ lớn, quy mô rộng từ các nước châu Âu sang châu Mỹ, châu Đại dương; từ châu Phi đến châu Mỹ, châu Âu; từ châu Á đến châu Âu, Bắc Mỹ,… Ở Việt Nam chúng ta, trong lịch sử cũng đã có nhiều cuộc di dân, di cư lớn theo dòng chảy di dân Bắc – Nam, đã tạo nên diện mạo dân

cư, dân tộc Việt Nam như hiện nay

Hiện tượng di dân và lao động di cư, nhập cư trong lịch sử diễn ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng xét đến cùng, nguyên nhân kinh tế và chính trị vẫn là nguyên nhân chủ yếu, có tính phổ biến Lao động nhập cư có những đặc điểm đặc chung, đó là quá trình người lao động di chuyển với mục đích tìm kiếm nơi sinh sống, việc làm, môi trường lao động phù hợp, tốt hơn cho họ Ở Việt Nam hiện nay, lao động nhập cư, do mục tiêu là mong muốn có việc làm, thu nhập, môi trường làm việc, môi trường sống, chất lượng cuộc sống tốt hơn nơi cũ, nên quá trình dịch chuyển, diễn ra theo hai xu hướng chủ yếu, cho cả người lao động phổ thông và người lao động có trình độ chuyên môn cao Những thành phố lớn, những đô thị mới, những trung tâm kinh tế - công nghệ lớn, là địa điểm thu hút mạnh mẽ lao động nhập cư

3 Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế sâu rộng, lao động nhập cư

là một nguồn lực rất quan trọng, không thể tách rời trong quan hệ kinh tế - xã hội Vì thế, vấn đề di dân, lao động nhập cư và nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực có mối quan hệ gắn kết tất yếu, biện chứng Di dân, lao động nhập cư đã góp phần nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực Mặt khác, phát triển nguồn nhân lực lại là động lực để thu hút

di dân, lao động nhập cư tìm kiếm cơ hội sống, lao động tốt hơn Đối với vấn đề nguồn nhân lực, lao động nhập cư là nguồn lao động bổ sung hữu ích; đồng thời, còn là tiền đề quan trọng để phát triển nguồn nhân lực của vùng, địa phương, quốc gia – nơi lao động nhập cư chuyển đến Đối với lao động nhập cư, sự phát triển nguồn nhân lực của nơi họ chuyển đến tạo ra những điều kiện, cơ hội cho họ thực hiện được mục đích đặt ra của quá trình di cư Đó là mối quan hệ, tác động có tính chất hai chiều, khẳng định rõ vai trò quan trọng của lao động nhập cư đối với phát triển nguồn nhân lực Do vậy, nhận thức đúng đắn

về hiện tượng di dân, làm rõ nguyên nhân, đặc điểm, xu hướng của lao động nhập cư; mối quan hệ giữa lao động nhập và nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết Bởi vì, xác định đầy đủ, chính xác, rõ ràng vai trò quan trọng của lao động nhập

Trang 12

cư, đánh giá đúng đắn sự đĩng gĩp to lớn của lao động nhập cư đối với nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực sẽ gĩp phần quan trọng vào việc xây dựng và hồn thiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, vùng, miền, khu vực, từng quốc gia trong từng thời kỳ phát triển khác nhau

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ VAI TRỊ CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƯ

ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY 2.1 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NHẬP CƯ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

2.1.1 Khái quát quá trình phát triển lao động nhập cư và sự biến động cơ cấu dân số ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ 1975 đến nay

Từ năm 1975 đến nay, việc nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh cĩ thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn nhập cư tự giác và giai đoạn nhập cư tự phát Giai đoạn nhập cư tự giác cĩ thể tính từ sau 1975 đến năm 1986 Giai đoạn nhập cư tự phát, từ năm 1986 đến nay Từ 2010 đến nay, trung bình mỡi năm cĩ 200.000 người nhập cư

2.1.2 Quy mơ và đặc điểm của lao động nhập cư, nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Quy mơ của lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh

Theo số liệu của Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, giai đoạn 1975 - 1979, trung bình hàng năm, tỷ lệ dân nhập cư tăng 5,2%; giai đoạn 1984 -

1989 tăng 2,1%; giai đoạn 1994 - 1999 tăng 8,91%; giai đoạn 1999 - 2009 tăng 13,67%

Và trong 3 năm 2010 - 2012, trung bình hàng năm thành phố có khoảng 200.000 người nhập cư Hiện nay, một phần ba dân số thành phố - 30,1% - là dân nhập cư

Đặc điểm của lao động nhập cư ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Đặc điểm thứ nhất, lao động nhập cư phần lớn cĩ độ tuổi trẻ do xuất cư chủ yếu từ

nơng thơn, những nơi thiếu việc làm hoặc cĩ việc làm nhưng thu nhập thấp Đặc điểm thứ

hai, lao động nhập cư thường gắn liền với tính khơng ổn định Đặc điểm thứ ba, thành phần người lao động nhập cư thường phức tạp, do nguồn gốc xuất cư khác nhau Đặc điểm thứ tư, lao động nhập cư là nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nhập cư nam giới

Theo Tổng điều tra dân số nhà ở năm 2009, cấu tạo giới của số người nhập cư ở thành phố có đặc điểm: nam chiếm 48,37%; nữ chiếm 51,63%

2.2 VAI TRỊ CỦA LAO ĐỘNG NHẬP CƯ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI, ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NHẬP

CƯ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.2.1 Vai trị của lao động nhập cư đối với việc phát triển nguồn nhân lực, yếu

tố con người trong lực lượng sản xuất, ở thành phố Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 20/02/2016, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w