1.2 Phân loại Công cụ ngoại hối phái sinh bao gồm các nhóm chính là: công cụ kỳ hạn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối, công cụ hoán đổi ngoại hối và công cụ quyền chọn ngoại hối..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TP HỒ CHÍ MINH
-
-MÔN: THANH TOÁN QUỐC TẾ
Đề tài: ỨNG DỤNG CÔNG CỤ NGOẠI HỐI
PHÁI SINH Ở VIỆT NAM
GVHD : Cô Vũ Thị Đan Trà
Lớp : K49E Mã lớp : 142 Nhóm thực hiện: Nhóm 2
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 01năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
1 Tổng quan về công cụ ngoại hối phái sinh 5
1.1 Khái niệm 5
1.2 Phân loại 5
1.2.1 Công cụ kì hạn ngoại hối (Currency forward) 6
1.2.2 Công cụ tương lai ngoại hối (Curency future) 6
1.2.3 Công cụ hoán đổi ngoại hối (Currency swap) 6
1.2.4 Công cụ quyền chọn ngoại hối (Currency option) 7
2 Ứng dụng công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam 7
2.1 Thực trạng ứng dụng công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam 7
2.1.1 Các văn bản pháp lý điều chỉnh các giao dịch ngoại hối phái sinh 7
2.1.2 Tình hình chung trong việc ứng dụng các công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam 9
2.1.3 Tình hình cung cấp các công cụ ngoại hối phái sinh của các NHTM Việt Nam 10
2.1.4 Tình hình sử dụng các công cụ ngoại hối phái sinh của các DN XNK Việt Nam 11
2.2 Định hướng phát triển của các công cụ ngoại hối phái sinh tại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 14
3 Điều kiện để phát triển các công cụ ngoại hối phái sinh tại Viêt Nam trong tương lai 15
3.1 Điều kiện khách quan 15
3.2 Điều kiện về hoạt động của các NHTM 16
3.3 Điều kiện về phương tiện, thiết bị 16
KẾT LUẬN 18
Trang 3KÍ HIỆU VIẾT TẮT
1.Ngân hàng nhà nước : NHNN
2.Ngân hàng thương mại: NHTM
3.Doanh nghiệp xuất nhập khẩu : DN XNK
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập, các hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng được đẩy mạnh và nhu cầu sử dụng đồng ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng xuất nhập khẩu ngày càng trở nên cấp thiết Sự biến động về tỷ giá là nguyên nhân gây ra thua lỗ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước sự biến động khó lường của tình hình tài chính quốc tế Chính vì vậy mà nghiệp vụ ngoại hối phái sinh ra đời để khắc phục những rủi ro và thua lỗ có thể xảy ra cho các chủ thể tham gia vào thị trường ngoại hối Trên thế giới, nghiệp vụ ngoại hối phái sinh đã được sử dụng rất rộng rãi để phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp và tầm quan trọng của các công cụ này ngày càng được khẳng định Về phía các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, mặc dù ngân hàng nhà nước đã cho phép hệ thống ngân hàng thương mại thực hiện các nghiệp vụ phái sinh
để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tỷ giá từ năm 2005, nhưng đến nay, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức rõ lợi ích của công cụ này Để hiểu rõ hơn về các công cụ ngoại hối phái sinh và ứng dụng của chúng tại Việt Nam , chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vấn đề này
thông qua đề tài “ Ứng dụng các công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam”.
Trang 5
1 Tổng quan về công cụ ngoại hối phái sinh
1.1 Khái niệm
- Công cụ phái sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có (trị giá cổ phiếu, lãi suất, hàng hóa ) nhằm nhiều mục tiêu như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận Sự biến động khó lường của trị giá cổ phiếu, lãi suất, hàng hóa… trên thị trường là những nguyên nhân gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư trong hoạt động kinh doanh Để hạn chế thấp nhất những rủi ro thua lỗ có thể xảy ra, các nghiệp vụ tài chính phái sinh đã được hình thành
- Thị trường ngoại hối là thị trường thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi các ngoại
tệ, là nơi tập trung cung cầu ngoại hối để hình thành nên tỷ giá hối đoái
Từ hai khái niệm trên ta có thể hiểu công cụ ngoại hối phái sinh chính là những công cụ được phát hành trên cơ sở một lượng tiền tệ hay hàng hóa nào đó đã có nhằm mục tiêu phân tán rủi ro do sự biến động tỷ giá trên thị trường ngoại hối Những nhà kinh doanh trong thị trường ngoại hối phái sinh được chia ra làm 3 loại:
+ Nhà phòng ngừa (Hedger): là người tham gia thị trường phái sinh với mục đích giảm nguy cơ phải đối mặt với rủi ro biến động tỷ giá
+ Nhà đầu cơ (Speclator) là người mua hoặc bán hợp đồng với hi vọng kiếm lời khi tỷ giá biến động trong tương lai
+ Nhà kinh doanh chênh lệch tỷ giá (Abitrageur): kiếm lợi bằng cách cùng lúc mua hoặc bán một loại công cụ trên thị trường khác nhau
Như vậy, lợi ích nổi bật của các công cụ phái sinh là phòng ngừa hiệu quả các rủi ro về tỷ giá, ngoài ra những công cụ hiện đại này còn giúp doanh nghiệp thu lợi nhuận, cân đối luồng tiền và giảm bớt các chi phí trên cơ sở nhận định đúng diễn biến thị trường
1.2 Phân loại
Công cụ ngoại hối phái sinh bao gồm các nhóm chính là: công cụ kỳ hạn ngoại hối, công cụ tương lai ngoại hối, công cụ hoán đổi ngoại hối và công cụ quyền chọn ngoại hối
Trang 61.2.1 Công cụ kì hạn ngoại hối (Currency forward)
Công cụ kì hạn ngoại hối là công cụ trong đó hai bên mua bán cam kết với nhau
thực hiện mua hay bán một lượng ngoại hối nhất định với một tỷ giá được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng giao dịch, nhưng thực hiện thanh toán tại một thời điểm xác định trong tương lai Các giao dịch đối với công cụ này sẽ được thực hiện trên thị trường
kì hạn (không phải thị trường tập trung), thông qua mạng lưới viễn thông giữa các NHTM lớn
1.2.2 Công cụ tương lai ngoại hối (Curency future)
Công cụ tương lai ngoại hối là thỏa thuận giữa người mua và người bán về việc trao dổi một loại ngoại tệ nhất định vào một ngày cố định trong tương lai tại một mức tỷ giá được xác định trước Các công cụ này được giao dịch tại các thị trường có tổ chức Điểm khác biệt so với công cụ kì hạn là các công cụ tương lai được chuẩn hóa từ loại ngoại tệ, khối lượng giao dịch, ngày giao dịch, ngày thanh toán Về nguyên tắc sử dụng thì công cụ tương lại tương tự như công cụ kỳ hạn Tuy nhiên, giao dịch công cụ tương lai là giao dịch được chuẩn hóa và được giao dịch trên thị trường có tổ chức đó là các
Sở giao dịch (FuturesExchange), vì vậy đây là đặc điểm làm cho công cụ tương lai có tính thanh khoản rất cao, còn công cụ kỳ hạn được thực hiện trên thị trường OTC, thông thường các ngân hàng sẽ cấp hạn mức tín dụng cho nhau trước khi tiến hành các giao dịch
1.2.3 Công cụ hoán đổi ngoại hối (Currency swap)
Công cụ hoán đổi ngoại hối là thỏa thuận bằng hợp đồng trong đó có sự kết hợp của hai giao dịch:giao dịch mua bán ngoại tệ dưới hình thức giao ngay (Spot), tỷ giá giao ngay xác định tại thời điểm giao dịch, ngày giá trị là hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày giao dịch và giao dịch kì hạn đảo ngược, cũng với cặp tiền tệ trên nhưng đảo lại giữa đồng tiền mua và đồng tiền bán, ngày giá trị là một ngày xác định trong tương lai, tỷ giá thực hiện được ấn định tại thời điểm ký kết hợp đồng Công cụ hoán đổi ngoại hối thường được áp dụng với những người đi vay hoặc đầu tư bằng ngoại tệ để tránh rủi ro tỷ giá hoặc với các ngân hàng cónhiều ngoại tệ với các kỳ hạn khác nhau Động cơ của hợp đồng hoán đổi ngoại hối là để tránh chi phí cao phát sinh với giao dịch của ngân hàng
Trang 71.2.4 Công cụ quyền chọn ngoại hối (Currency option)
Công cụ quyền chọn ngoại hối là một giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ để mua (Call option) hay bán (Put option) một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá ấn định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước Nếu bên mua quyền chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá đã thỏa thuận trước
2 Ứng dụng công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam.
2.1 Thực trạng ứng dụng công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam
2.1.1 Các văn bản pháp lý điều chỉnh các giao dịch ngoại hối phái sinh
- Trước năm 1998, trên thị trường các giao dịch chủ yếu là giao dịch giao ngay Ngày
10 tháng 1 năm 1998, NHNN ban hành quy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7 và công cụ ngoại hối kỳ hạn và hoán đổi được đưa vào sử dụng NHNN chỉ cho phép các tổ chức tín dụng được cung cấp các công cụ hối đoái giao ngay, kỳ hạn và hoán đổi cho khách hàng Đồng thời, tỷ giá kỳ hạn được xác định bằng cách lấy tỷ giá giao ngay cộng với một biên độ dao động tùy theo kỳ hạn của hợp đồng kỳ hạn, khác so với cách xác định tỷ giá kỳ hạn theo thông lệ quốc
tế Điều này làm nản lòng các chủ thể tham gia loại nghiệp vụ này trên thị trường ngoại hối khi mà cách xác định tỷ giá kỳ hạn theo quy định của NHNN không còn phù hợp với những diễn biến trên thị trường Hơn nữa, thời hạn tối đa theo quy định lúc đó của NHNN đối với loại hợp đồng này chỉ là 6 tháng, khó có thể đáp ứng được nhu cầu
về thời hạn trong hoạt động phòng ngừa rủi ro tỷ giá của các chủ thể tham gia thị trường ngoại hối Bởi trong tương lai, số lượng chủ thể tham gia trên VinaForex là rất lớn và mỗi chủ thể có một nhu cầu phòng ngừa rủi ro tỷ giá với thời hạn riêng của mình, có thể là vài tháng mà thậm chí là hơn một năm Vì thế, việc mở rộng thời hạn dài hơn 6 tháng là tất yếu và NHNN không thể lại tiếp tục quy định tỷ lệ phần trăm gia
Trang 8tăng cho mỗi một thời hạn Đồng thời, nghiệp vụ kỳ hạn có thể được mở rộng cho nhiều loại ngoại tệ mạnh khác không chỉ riêng USD Do đó, NHNN không thể quy định tỷ lệ phần trăm gia tăng cho mỗi thời hạn và cho mỗi một loại ngoại tệ được
- Ngày 28/5/2004, Thống đốc NHNN đã ra quyết định số 648/2004, quy định kì hạn của hợp đồng kỳ hạn và hoán đổi từ 3 ngày đến 365 ngày và thay đổi lại nguyên tắc xác định tỷ giá kì hạn Tỷ giá kì hạn được xác định trên cơ sở tỷ giá giao ngay của ngày kí hợp đồng kì hạn, hoán đổi; chênh lệch giữa 2 mức lãi suất hiện hành là lãi suất
cơ bản của VND (tính theo năm) do NHNN công bố và lãi suất mục tiêu của Mĩ (Fed Funds Target rate) của USD do Cục dự trữ Liên bang Mỹ công bố; và kì hạn của hợp đồng Do đó, quyết định này đã đưa cách thức tính tỷ giá kì hạn của các NHTM Việt Nam tiến gần với thông lệ quốc tế và là tiền đề pháp lý quan trọng cho sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và giao dịch ngoại hối kì hạn nói riêng
- Ngày 10/11/2004, Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN được ban hành, theo đó, giao dịch quyền lựa chọn chỉ bao gồm giao dịch giữa các ngoại tệ (không liên quan đến Đồng Việt Nam) Đối tượng được tham gia giao dịch hối đoái bao gồm tổ chức tín dụng được phép, tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân và NHNN Việt Nam Các tổ chức tín dụng không được mua quyền lựa chọn của tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá nhân mà họ chỉ được phép bán quyền chọn cho các đối tượng này
2.1.2 Tình hình chung trong việc ứng dụng các công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam
- Nhìn một cách tổng quát, mức độ áp dụng các Công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam còn hạn chế, chúng chưa được thị trường đón nhận như là công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi ro, thói quen và tập quán kinh doanh là những cản trở lớn đối với quá trình phổ biến các công cụ ngoại hối phái sinh ở Việt Nam
Trang 9- Giao dịch kỳ hạn xuất hiện với tư cách là công cụ tài chính phái sinh đầu tiên ở Việt Nam theo quyết định số 65/1999/QĐ-NHNN7 ngày 25/2/1999 Tuy nhiên, Hợp đồng
kỳ hạn ít được sử dụng, một phần là do thị trường liên ngân hàng ở Việt Nam chưa phát triển, một phần do những hạn chế vốn có của nó trong việc phòng chống rủi ro tỉ giá và những hạn chế của NHNN Vì thế, các giao dịch kỳ hạn chỉ chiếm khoảng 5-7% khối lượng giao dịch của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
- Giao dịch hoán đổi cũng xuất hiện khá sớm theo quyết định số 430/QĐ-NHNN13 ngày 24/12/1997 và sau này là quyết định số 893/2001/QĐ-NHNN ngày 17/7/2001 của thống đốc NHNN Tuy nhiên đây chỉ là những giao dịch hoán đổi thuận chiều giữa NHNN và NHTM Nó chỉ được sử dụng trong trường hợp các NHTM dư thừa ngoại tệ và khan hiếm Việt Nam đồng
- Từ khi NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất trên thị trường Việt Nam (từ 1/2003), đã có một số ngân hàng như ABN Amro, Citibank thực hiện hoán đổi lãi suất trong phạm vi đồng USD từ ngày 1/3/2005 tới 2/2006 Khi được NHNN cho phép, HSBC đã cung cấp gói Swaps tiền Đồng cho một công ty đa quốc gia với số vốn lên tới 15 triệu USD trên thi trường Việt Nam Chính hành động của HSBC đã tạo
ra nền tảng phát triển cho các giao dịch hoán đổi sau này
- Ở một mức cao hơn, các công cụ lai tạp có nguồn gốc từ hoán đổi như hoán đổi lãi suất cộng dồn, hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn, hoán đổi lãi suất bắt đầu thực hiện trong tương lai …cũng đã xuất hiện và triển khai trên thị trường ngoại hối trong thời gian gần đây
- Quyền chọn ngoại tệ, lãi suất và vàng dường như là những công cụ phái sinh được thị trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh lãi suất , tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng thái tăng liên tục
Trang 102.1.3 Tình hình cung c p các công c ngo i h i phái sinh c a các NHTM Vi t ấp các công cụ ngoại hối phái sinh của các NHTM Việt ụ ngoại hối phái sinh của các NHTM Việt ại hối phái sinh của các NHTM Việt ối phái sinh của các NHTM Việt ủa các NHTM Việt ệt Nam
- Các công cụ ngoại hối phái sinh đã được triển khai tại Việt Nam trong một khoảng thời gian khá dài nhưng việc cung cấp dịch vụ cùa các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế
+ Đối với công cụ kỳ hạn và hoán đổi, khác với công cụ quyền chọn, tất cả các NHTM được phép kinh doanh ngoại tệ đều được thực hiện công cụ này Tùy từng thời
kỳ, tỷ giá kỳ hạn và hoán đổi được xác định theo các quy định của Thống đốc NHNN Một số NHTM đang cung cấp công cụ kỳ hạn: ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), NHTM Cổ phần Kỹ thương (Techcombank), NHTM Cổ phần xuất nhập khẩu (Eximbank), Ngân hàng Đầu tư và phát triển (BIDV)…Công cụ hoán đổi được cung cấp tại các ngân hàng như HSBC chi nhánh Việt Nam, Eximbank, Vietcombank, Techcombank, BIDV…
+ Đối với công cụ ngoại hối quyền chọn: Các NHTM đã được phép kinh doanh ngoại hối và có vốn tự có tối thiểu là 200 tỷ VND, kinh doanh ngoại hối có lãi trong ít nhất 5 năm gần nhất và doanh số mua bán ngoại hối của năm trước đó tối thiểu là 1 tỷ USD mới được thực hiện công cụ ngoại hối quyền chọn Công cụ ngoại hối quyền chọn được cung cấp ở các ngân hàng : Vietcombank, NHTM Cổ phần quốc tế (VIB), NHTM Cổ phần Á Châu, NHTM Cổ phần xuất nhập khẩu (Eximbank), chi nhánh ngân hàng Citibank, ngân hàng BIDV, Techcombank…
So với trước đây, các ngân hàng thương mại đã mở rộng và cải tiến việc cung cấp các công cụ ngoại hối phái sinh
- Đánh giá việc cung cấp các công cụ ngoại hối phái sinh của các NHTM:
Mặc dù trên thế giới các nghiệp vụ phái sinh để bảo hiểm rủi ro tỷ giá đã được sử dụng phổ biến từ rất lâu với doanh số hàng ngày lên tới hàng trăm tỷ USD, các nghiệp vụ
Trang 11phái sinh ở Việt Nam vẫn còn kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp, thậm chí ở một số NHTM mặc dù đã triển khai nghiệp vụ quyền chọn nhưng không có giao dịch
Nguyên nhân của thực trạng này là :
+ Công cụ này còn khá mới mẻ ở Việt Nam , tỷ trọng lợi nhuận từ nghiệp vụ này so với tổng lợi nhuận của ngân hàng còn khá nhỏ, đồng thời ngân hàng cũng phải chịu không ít rủi ro trong quá trình ứng dụng
+ NHTM thiếu kiến thức,thiếu hiểu biết về công cụ phái sinh
+ Cơ sở vật chất hạn chế : Các NHTM Việt Nam chưa có được phòng kinh doanh ngoại tệ theo chuẩn mực thế giới, bao gồm 3 bộ phận: front office, back office và mid office Các NHTM Việt Nam chỉ mới có front office và back office
2.1.4 Tình hình sử dụng các công cụ ngoại hối phái sinh của các DN XNK Việt Nam
- Tác động của rủi ro tỷ giá đến các DN XNK Việt Nam :
+Tác động đến năng lực cạnh tranh cuả doanh nghiệp : Rủi ro tỷ giá làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp so với các đối thủ ở yếu tố "giá của sản phẩm" trên thị trường Nếu doanh nghiệp chịu sự tác động cuả rủi ro tỷ giá dẫn đến tổn thất ngoại hối thì doanh nghiệp sẽ phải tìm cách nâng giá bán sản phẩm để trang trãi tổn thất Do đó giá sản phẩm cuả doanh nghiệp sẽ không hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp sẽ bị giảm sút
+Tác động đến khả năng chịu đựng tài chính cuả doanh nghiệp : Rủi ro tỷ giá tác động đến việc hoạch định tài chính cuả doanh nghiệp đối với các dự án đầu tư dài hạn chịu sự biến động cuả tỷ giá