1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang

49 893 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 337,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú y, Trường Đại hoc Nông Lâm Thái Nguyên, giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực hiện đề tài “KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐEN

Trang 1

NÔNG QUỐC BẢO

Tên đề tài :

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐEN NUÔI TẠI

XÃ TRUNG THÀNH, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Lớp : 43B- CNTY

Khóa học : 2011 – 2015

Thái Nguyên , năm 2015

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là khâu vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là giai đoạn quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi từ sinh viên thành một kỹ sư nông nghiệp, vì trong quá trình thực tập sinh viên được củng cố lại những kiến thức đã học, cũng như phương pháp vận dụng những kiến thức đó vào lao động thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc học tập, tạo tiền đề cho sinh viên có kiến thức đầy đủ để bước vào cuộc sống, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng đất nước ta trong thời kỳ đổi mới

Được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú y, Trường Đại hoc Nông Lâm Thái Nguyên, giáo viên hướng dẫn, em tiến hành thực

hiện đề tài “KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐEN NUÔI TẠI XÃ TRUNG THÀNH, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG”

Trong thời gian thực tập từ tháng 12/2014 đến tháng 5/2015 với thái độ làm việc nghiêm túc, đến nay khóa luận đã hoàn thành

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ hiểu biết của em còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong đề tài Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp sinh viên kiểm tra, hệ thống lại nhưng kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như vận

dụng những kiến thưc đó vào thực tiễn sản xuất

Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của Ban Chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú y, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành

thực hiên đề tài: “KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI ĐEN NUÔI TẠI XÃ TRUNG THÀNH, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG”

Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận sự giúp đỡ tận tình tại cơ sở, các thầy cô giáo trong Khoa Chăn Nuôi Thú y, đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn: TS Nguyễn Quang Tính đã giúp đỡ trong suốt quá trình thực tập này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Chăn Nuôi Thú y, các cán bộ làm việc tại Trạm Thú y huyện Vị Xuyên và một số nông

hộ tại xã Trung thành, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, bỡ ngỡ ban đầu của quá trình thực tập

Do thời gian và kiến thức của bản thân còn hạn chế nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy, cô giáo và toàn thể các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Nông Quốc Bảo

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi

con (Võ Trọng Hốt, 2000)[4] 18

Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31

Bảng 4.2 Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái hậu bị 32

Bảng 4.3: Các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của nái Đen 33

Bảng 4.4: các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của lợn móng cái 34

Bảng 4.5: So sánh các chỉ tiêu sơ sinh Lợn đen và lợn Móng Cái lúc sơ sinh 35

Bảng 4.6: Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của lợn nái Đen 36

Bảng 4.7: các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của lợn Móng Cái 37

Bảng 4.8: So sánh chỉ tiêu 21 ngày tuổi đàn con của Lợn đen và lợn Móng Cái lúc 21 ngày tuổi 38

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.3 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 5

2.1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 13

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 16

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 21

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.3.1 Một số đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái hậu bị 22

3.3.2.Khả năng sinh sản của lợn nái Đen 23

3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 23

3.4.1.Số trung bình 23

3.4.2.Độ lệch chuẩn 23

3.4.3.Sai số trung bình 23

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 24

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

Trang 6

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 25

4.1.1.Nội dung công tác phục vụ sản xuất 25

4.1.2.Biện pháp thực hiện 25

4.1.3.Kết quả công tác phục vụ sản xuất 26

4.2 Kết quả nghiên cứu 31

4.2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái Lợn đen và lợn Móng Cái hậu bị 31

4.2.2 Khả năng sinh sản của Lợn đen và lợn Móng Cái 32

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

5.1 Kết luận 40

5.2 Đề nghị 40

Trang 7

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thì nền nông nghiệp nước

ta đã và đang có những bước phát triển không ngừng Bên cạnh ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng cũng có một vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế không chỉ hiện nay mà cả sau này

Vì lợn là loài gia súc sinh trưởng và phát triển mạnh, tạp ăn, dễ nuôi, chịu đựng kham khổ tốt có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn thô xanh, củ, quả, các sản phảm cây màu như: lúa, ngô, khoai, sắn sau chế biến Hơn nữa, thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao, phẩm chất tốt mức độ tiêu hóa cao (đạt 94%) Thịt lợn chứa nhiều dinh dưỡng như: protein, vitamin, khoáng phù hợp với yêu cầu của con người (Nguyễn khánh Quắc 1998 [6] ) Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào điều kiện sống và các vùng sinh thái khác nhau, chăn nuôi các giống lợn khác nhau Ở những nơi có điều kiện kinh tế thì phát triển chăn nuôi lợn ngoại và lợn lai Các giống lợn này có khả năng sinh trưởng nhanh được người chăn nuôi ưa chuộng Còn những nơi gặp nhiều khó khăn về kinh

tế thì người dân vẫn chăn nuôi giống lợn địa phương là chủ yếu, trong đó có tỉnh Hà Giang Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một khối lượng phân hữu cơ cho ngành trồng trọt

Để nâng cao năng suất trong chăn nuôi, ngoài việc nuôi dưỡng tốt công tác phòng và trị bệnh đảm bảo thì chất lượng con giống là tiền đề quan trọng Muốn chăn nuôi có năng suất, hiệu quả lớn thì phải có giống tốt Muốn có giống tốt thì phải có đàn nái sinh sản chất lượng cao Chất lượng đàn nái không những quyết định đến số lượng con giống được sản xuất ra mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất hiệu quả chăn nuôi lợn thịt sau này

Trang 8

Để đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản của các giống lợn hiện nay đang được nuôi tại các nông hộ của một số xã của huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, làm cơ sở để khuyến cao người dân nuôi lợn nái lựa chọn con giống phù hợp cụ thể của địa phương chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành huyện

Vị Xuyên tỉnh Hà Giang”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

-Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái đen tại xã Trung Thành, huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang

-Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu có liên quan đến khả năng sinh sản của lợn nái đen

- Là cơ sở, căn cứ cho các nghiên cứu tiếp theo ở mức cao hơn

1.3 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Cung cấp số liệu khoa học cho giảng dạy bộ môn chăn nuôi lợn Đồng thời đây sẽ là tài liệu quan trọng đóng góp vào cơ sở dữ liệu về khả năng sinh trưởng, sinh sản của các giống lợn nái ở việt nam

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi biết được một số đặc điểm sinh học để áp dụng vào việc chăn nuôi, nhân giống và sử dụng tốt hơn tiềm năng của giống lợn bản địa trong quá trình phát triển kinh

tế xã hội cho các vùng đồi núi trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Trang 9

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

Qua quá trình phát triển lâu dài, khoa học kỹ thuật đã đạt được những thành tựu to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực sinh học Nó giúp cho cuộc sống con người và cả cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng cũng thu được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt trong công tác giống Những ứng dụng nghiên cứu về di truyền học, nhân giống, lai tạo, con người đã tạo

ra những sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao, phù hợp với những yêu cầu của mình

2.1.1 Chọn lọc trong chăn nuôi

Trong chăn nuôi, chọn lọc là công tác đầu tiên để cải tạo giống là động lực để đạt tới tiến bộ di truyền, chọn lọc để tăng số lượng gen tốt, giảm số lượng gen xấu, để đạt được hiệu quả trong chăn nuôi Chọn lọc giống lợn là chọn lọc những cá thể đực cái có những đặc điểm tính trạng tốt giữ lại làm giống Trần Đình Miên và cs (1997) [5]

Khi chọn lọc giống lợn phải căn cứ vào mục tiêu nhân giống đã định trước để chọn trong đàn những con phù hợp với yêu cầu làm giống Trước khi tiến hành chọn giống phải nắm vững đặc điểm của giống một cách tỷ mỷ trên

cơ sở đó chọn ra những tiêu chuẩn thích hợp Có 2 phương pháp để chọn lọc giống lợn

-Chọn lọc theo tính trạng :

+ Các tính trạng chọn lọc đó là tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng Tính trạng số lượng do nhiều gen tác động tạo thành, các chỉ tiêu số lượng gồm: số con đẻ/lứa, số con cai sữa, xuất chuồng, khối lượng con lúc sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ lợn con chết…

Trang 10

Tính trạng chất lượng do một vài gen quy định có thể nhận thức đánh giá qua cảm giác biểu hiện bên ngoài kiểu hình, hệ số di truyền tỷ lệ kiểu gen tạo nên giá trị kiểu hình Khi tiến hành phải xác định mục tiêu chọn lọc các tính trạng sinh sản tính trạng năng xuất và chất lượng, tính trạng về sinh trưởng Chọn dòng đực, cái phải đảm bảo được tính tạng sinh trưởng, tỷ lệ nạc Đối với lợn cái ngoài các tính trạng tốt, phải chú ý đến tính trạng sinh sản tuổi động dục, số con đẻ ra tỷ lệ tiết sữa

Chọn lọc đồng thời loại thải độc lập là chọn lọc những tính trạng này được nâng cao nhưng lại kéo theo một tính trạng liên quan khác hạ xuống Chọn lọc theo chỉ số là phương pháp kết hợp chọn lọc đồng thời nhiều tính trạng trong một thời điểm

- Chọn lọc theo cá thể:

+ Chọn lọc tổ tiên: Phải căn cứ vào hệ phả, tổ tiên, lý lịch của lợn giống

để xác định quan hệ họ hàng thân thuộc giữa các con lợn, vẽ sơ đồ huyết thống để rễ xác định mối quan hệ giữa các con với nhau

+ Chọn lọc bản thân: Dựa vào các tiêu chuẩn giám định của một giống

về ngoại hình thể chất, sinh trưởng và phát dục, sức sản xuất để đánh giá lợn đực hay lợn cái có đủ tiêu chuẩn làm giống hay không Trong chọn lọc giống lợn việc đánh giá chính xác bản thân con vật thông qua biểu hiện kiểu hình, tính năng sản xuất như: Khả năng tăng khối lượng; tiêu tốn thức ăn; độ dày

mỡ lưng, tỷ lệ nạc…

+ Chọn lọc đời sau:

Trang 11

Căn cứ vào năng xuất đời sau của mỗi giống lợn để đánh giá chính xác hơn chất lượng con giống

Đối với lợn đực giống căn cứ vào thành tích các con chúng để đánh giá xem các tính trạng tốt của lợn đực giống xem chúng có được truyền cho đời sau hay không

Đối với lợn nái, cần căn cứ vào tuổi thành thục về tính trạng của lợn nái hậu bị, khả năng sinh sản của lợn nái, khả năng tiết sữa thông qua một đến hai lứa đẻ chúng ta có thể quyết định có nên giữ lại những lợn đó để làm giống hay không

2.1.2 Đặc điểm sinh học của lợn nái

Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý lợn có thể đẻ 1,8-2,4 lứa/năm và đạt bình quân từ 10-12 con/lứa, lợn nái có số

vú nhiều khả năng tiết sữa cao, số lượng vú, khả năng tiết sữa và số con đẻ có liên quan mật thiết với nhau các giống lợn nội thương có từ 10 vú trở lên Lợn

là loài có khả năng thành thục sớm từ 3-4 tháng tuổi đã biểu hiện động dục,

dễ chăm sóc có thể ăn nhiều loại thức ăn từ thức ăn thô xanh và thức ăn hạt đến các loại thức ăn từ động vật, hệ số trao đổi cơ bản thấp hơn các loài gia súc khác, có khả năng thích nghi cao, dễ huấn luyện

2.1.3 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.1.3.2 Sự thành thục về tính và thể vóc

Sự thành thục về tính:

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và

có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con

cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành

Trang 12

thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày),

- Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt

50 -55kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi Cụ thể lợn Đen nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày

- Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188, 5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg

và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234, 8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

Trang 13

- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo

12 giờ mỗi ngày

Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi nái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn nái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh

động dục hơn cái hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống

Sự thành thục về thể vóc:

Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên

Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng

Trang 14

suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -

110 kg mới nên cho phối

2.1.3.2 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể

đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng

Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt

là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu

kỳ nên gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính được bắt đầu từ khi cơ thể đã thành thục về tính, nó xuất hiện liên tục và chấm dứt khi cơ thể cái già yếu

Tiền động dục (kéo dài 2 - 3 ngày):

Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Buồng trứng to hơn bình thường các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhày và xung huyết nhẹ, hệ thống tuyến ở cổ tử cung tiết dịch nhày, các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bóp mạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục Các biến đổi trên tạo điều kiện cho tinh

trùng tiến lên trong đường sinh dục cái gặp tế bào trứng và tiến hành thụ tinh

Biểu hiện bên ngoài: Âm đạo không nhìn thấy, đỏ hồng, không có hoặc

có ít nước nhờn không cho đực nhảy hoặc bỏ chạy khi ta ấn tay vào hông Ở giai đoạn này lợn thường bỏ ăn hoặc ít ăn, hay kêu rít

Trang 15

Động dục (kéo dài 2 - 3 ngày):

Thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm

hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống sẵn sàng chịu đực

Nếu ở giai đoạn này trứng gặp được tinh trùng, hợp tử được hình thành thì chu kỳ tính ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai và cho đến khi đẻ xong một thời gian nhất định thì chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại Trường hợp gia súc không có thai thì chuyển sang giai đoạn tiếp

Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày):

Ở giai đoạn này toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần trở lại trạng thái hoạt đông sinh lý bình thường Các phản xạ về hưng phấn, về sinh dục dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh, chịu khó

ăn uống Trên buồng trứng thể vàng xuất hiện và bắt đầu tiết progesteron Progesteron tác động lên trung khu thần kinh làm thay đổi tính hưng phấn, làm kết thúc giai đoạn động dục, niêm mạc của toàn bộ đường sinh dục ngừng tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

Giai đoạn nghỉ ngơi:

Đây là giai đoạn dài nhất của chu kỳ sinh dục Thời kỳ này con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục dần dần trở lại trạng thái yên tĩnh sinh lý bình thường Trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bào bắt đầu phát dục

Trang 16

nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện nhưng biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo

Nếu lợn không có chửa, tử cung sinh sản ra hormone Prostaglandin làm cho tan rã thể vàng, Progesteron không sản sinh ra nữa Tuyến yên lại được giải phóng và lại sinh sản ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới

Chu kỳ động dục của lợn nái thường từ 18 - 22 ngày, thời gian động dục kéo dài 5 - 7 ngày, nhưng thời gian chịu đực thường 2,5 ngày, phối giống trong thời gian này đạt hiệu quả cao nhất

Đối với lợn Đen thời điểm phối thích hợp vào cuối ngày thứ 2 đầu ngày thứ 3 tính từ lợn ngày lợn bắt đầu động dục Để phối giống mang lại hiệu quả cao nhất có 3 cách, tính từ khi nái đứng im chịu đực như sau:

- Đối với lợn Móng Cái thời điểm phối giống thích hợp vào ngày thứ 2

và thứ 3 tính từ ngày lợn bắt đầu động dục

- Sau 12 giờ và 36 giờ

- Sau 12 giờ, 36 giờ sau đó cứ 12 giờ cho phối giống 1 lần đến khi lợn nái không chịu thì thôi

- Đối với lợn Móng Cái thời điểm phối giống thích hợp vào ngày thứ 2

và thứ 3 tính từ ngày lợn bắt đầu động dục

- Đối với lợn hậu bị nên cho phối giống sớm hơn lợn nái từ 6 - 8 giờ Kết quả đem lại từ 3 cách phối trên đều như nhau

Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng động dục trở lại là lợn

đã có chửa Có thể phân biệt lợn có chửa hay không qua một số biểu hiện bên ngoài Lợn có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt hơn, dáng đi ngày càng nặng nề Lợn tuy đã có chửa nhưng có thể có hiện tượng “động dục giả” Biểu hiện như sau: âm hộ đỏ, không có nước nhờn, thời gian động dục ngắn, nói chung biểu hiện không rõ ràng

Trang 17

Có thể phân biệt động dục giả và động dục thật ở lợn: lợn động dục giả vẫn ăn uống bình thường, ăn xong vẫn nằm ngủ, khi thấy đực qua chuồng tai

rủ xuống và lảng tránh Điều này trái với lợn động dục, khi thấy đực qua chuồng luôn ve vẩy và đến gần đực

Chẩn đoán phân biệt lợn nái có chửa có một ý nghĩa rất to lớn, chẩn đoán lợn nái có chửa chính xác giúp cho người chăn nuôi nâng cao được tỷ lệ sinh sản của lợn nái, định ra được các thời kỳ chửa của lợn nái, từ đó định ra được cách nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp

Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày, dao động từ 112 -

116 ngày, cá biệt có những lợn nái ngoại mang thai tới 117 - 118 ngày, thời gian mang thai dài quá hoặc ngắn quá đều ảnh hưởng không tốt Nếu thời gian mang thai ngắn con đẻ ra yếu sức chống chịu với ngoại cảnh kém, khả năng sống sót thấp Nếu thời gian mang thai dài đẻ ra nhiều con chết, lợn mẹ thường đẻ khó khăn

2.1.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của bào thai

Hiểu rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con

Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày)

Giai đoạn này được tính từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 22 sau khi thụ tinh Sau khi thụ tinh được 20 giờ thì sự phân chia tế bào bắt đầu diễn ra Phôi thai được hình thành sau thụ tinh là thời điểm cho quá trình phát triển của cơ thể mới

Từ một tế bào, phôi tăng cường trao đổi chất thành túi phôi Tiếp theo tới phôi thực hiện quá trình phân cắt, phôi thai phát triển thành hợp tử Trong giai đoạn này hợp tử sử dụng chất dinh dưỡng của tế bào trứng và tinh trùng

Trang 18

Sau khi thụ tinh được 5 - 6 ngày thì mầm thai và túi phôi được hình thành Lúc đầu mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ tế bào trứng, chất tiết từ các tuyến nội mạc tử cung Sau khi các màng thai được hình thành, mầm thai lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng con đường thẩm thấu qua các màng Sau 7

- 8 ngày, màng ối được hình thành, màng ối chứa dịch lỏng vừa có tác dụng bảo vệ phôi vừa cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi Màng niệu được hình thành sau 12 ngày, là nơi chứa chất cặn bã do thai thải ra trong quá trình trao đổi chất

Đáng chú ý trong 3 tuần đầu này là sự liên kết giữa cơ thể mẹ và thai chưa chắc chắn, phôi thai mới hình thành nên chưa đảm bảo được an toàn Khối lượng phôi thai trong giai đoạn này rất nhỏ, ở cuối giai đoạn mỗi phôi chỉ nặng 1 - 2 gam Vì vậy, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc trong 3 tuần đầu

là cực kỳ quan trọng Mỗi tác động của ngoại cảnh không tốt đến nái mẹ (như: tiếng ồn, ô nhiễm, quá nóng, hay quá lạnh ) đều ảnh hưởng tới phôi thai,

dễ dẫn đến sảy thai Dinh dưỡng hay chất lượng thức ăn không tốt (như: ôi thiu, lên men, mốc ) cũng gây hậu quả tương tự Cần có sự chăm sóc cẩn thận đối với nái chửa trong 3 tuần đầu sau thụ tinh

Giai đoạn tiền thai (23 - 39 ngày)

Thời kỳ này nhau thai phát triển đầy đủ hơn, quá trình phát triển diễn ra mạnh mẽ để hoàn chỉnh các cơ quan mới Ở cuối thời kỳ này, hầu hết các cơ quan đã cơ bản hình thành, khối lượng phôi tăng lên 6 - 7 gam

Giai đoạn bào thai (40 - 114 ngày)

Đây là giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất của bào thai Các cơ quan bộ phận được hoàn chỉnh dần Quá trình trao đổi chất của thai diễn ra mãnh liệt Đặc điểm của từng giống đã bắt đầu được thể hiện từ ngày thứ 80 trở đi thai phát triển rất mạnh Cuối thời kỳ này, khối lượng bào thai tăng gấp 100 lần kỳ trước Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng ta chia thành hai thời kỳ

Trang 19

-Chửa kỳ I: 1 - 84 ngày

-Chửa kỳ II: 84 - 114 ngày

Nhưng trên thực tế để tiện theo dõi và chăm sóc, giai đoạn chửa kỳ II được phân ra làm hai giai đoạn nhỏ:

- Giai đoạn 1: 84 - 100 ngày

- Giai đoạn 2: 100 - 114 ngày

Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú

ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thấy hợp

lý Đây là thời kỳ nái mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa để đảm bảo chất dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích

từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ

Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 113

- 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ Nếu sức khỏe của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi đẻ Nhưng nếu có khó khăn trong quá trình lợn đẻ (sức khỏe nái mẹ kém, thai nằm sai ngôi, thai chết khô, chết lưu…) thì can thiệp ngay để đảm bảo cho cả nái mẹ và đàn con

2.1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

Để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thì có thể dùng nhiều chỉ tiêu sinh sản khác nhau Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà có thể chọn nhiều hoặc ít các chỉ tiêu Hiện nay thường dùng một số chỉ tiêu sau: có hai nhóm chỉ tiêu chính là nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh dục và chỉ tiêu

về năng suất sinh sản

2.1.4.1.Tuổi động dục lần đầu

Tuổi động dục lần đầu là tuổi tính từ khi sơ sinh đến khi lợn cái hậu bị động dục lần đầu Tuổi động dục khác nhau tuỳ theo giống và chế độ chăm

Trang 20

sóc Theo Phùng Thị Vân và cs (2001) [8] cho biết, chỉ tiêu này ở lợn Đen là

219, 4 ± 4, 09 ngày lợn Móng Cái là 217,6 ngày

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu muộn hơn lợn nuôi chăn thả

2.1.4.2 Tuổi phối giống lần đầu

Sau khi lợn đã thành thục về giới tính và thể vóc phát triển tương đối hoàn chỉnh thì có thể cho phối giống

Thành thục về sinh dục tức là lợn cái hậu bị phải có biểu hiện về động dục và rụng trứng

Tuổi trưởng thành về sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiện nuôi dưỡng, chính sách quản lý của cơ sở chăn nuôi Trong chăn nuôi lợn ngoại như giống Lợn đen và lợn Móng Cái thường phối giống từ 7 -

8 tháng tuổi

2.1.4.3 Tuổi đẻ lứa đầu

Đây là tuổi mà lợn cái hậu bị đẻ lứa thứ nhất, chính là tuổi phối giống có kết quả cộng với thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu của gia súc phụ thuộc và nhiều yếu tố như tuổi phối giống lần đầu, kết quả phôi giống, thời gian mang thai và từng giống lợn khác nhau Đối với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thường sớm hơn so với lợn nái ngoại do tuổi thành thục về tính dục ngắn hơn

2.1.4.4 Số con đẻ ra/lứa

Tính cả số con đẻ ra còn sống, số con chết và cả số thai chết được đẻ ra Chỉ tiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai của lợn nái, đồng thời đánh giá kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của người chăn nuôi

2.1.4.5 Số con còn sống đến 24 giờ/lứa

Đây là số con sinh sống tính đến 24 giờ kể từ khi đẻ xong con cuối cùng nói lên khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, đánh giá được chất lượng đàn con, khả năng nuôi thai của lợn nái, kỹ thuật thụ thai và khả năng chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi

Trang 21

2.1.4.6 Số con cai sữa/nái/năm

Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nái Người ta nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không nhờ số lượng con cai sữa/ nái/ năm Nếu tăng số lứa đẻ/ nái/ năm và tăng số lượng cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn cai sữa/ nái/ năm sẽ cao

2.1.4.7 Căn cứ vào chất lượng đàn con

Khôi lượng sơ sinh toàn ổ

Khối lượng sơ sinh toàn ổ được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn, lau khô cắt nanh và trước khi cho bú sữa đầu

Khối lượng toàn ổ sơ sinh là chỉ tiêu nói lên, khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi

Khối lượng sơ sinh càng cao càng tốt vì lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau

Khối lượng 21 ngày toàn ổ

Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng tăng trọng của lợn con, và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ Khả năng tiết sữa của lợn mẹ đạt cao nhất ở ngày thứ 21 sau đó sẽ giảm dần Do

đó người ta dùng khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Khối lượng cai sữa toàn ổ

Khối lượng cai sữa toàn ổ phụ thuộc vào khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa và kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lượng sơ sinh, và làm nền tảng cho khối lượng xuất chuồng

Trang 22

2.1.4.8.Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ

Đây là thời gian để hình thành 1 chu kỳ sinh sản Bao gồm: thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa Khoảng cách giữa hai lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ/ nái/ năm

Số lứa đẻ/ nái/ năm =

2.1.4.9.Căn cứ vào khả năng tiết sữa của lợn nái

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái của cơ

sở chăn nuôi

Lợn không có bể sữa, do đó không thể đo lượng sữa của lợn mẹ bằng cách vắt sữa mà chỉ có thể đo lượng sữa thông qua khối lượng của đàn con Khi so sánh đàn lợn con nào có khối lượng cao hơn thì khả năng tiết sữa của lợn mẹ tốt hơn

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

2.1.5.1 Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền ở đây chính là thành tích sinh sản của giống, mà cụ thể

là giống con nái Thành tích đó thông thường đặc trưng cho giống và cũng mang tính cá thể

Yếu tố giống có ảnh hưởng rõ ràng tới năng suất sinh sản của lợn nái, đặc biệt là sự khác biệt giữa giống nội và giống ngoại Theo Đặng Vũ Bình (1999) [1] có một số chỉ tiêu năng suất sinh sản phân biệt rõ nét qua giống là: các giống lợn Móng Cái và Đen có tuổi đẻ lần lượt là: 311,3 ngày; 301,5 ngày ; số con đẻ ra/ ổ là 10,8 và 8,9 con và khối lượng sơ sinh trung bình/ con

là 0,83; và 0,72 kg

365 Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ

Trang 23

2.1.5.2.Yếu tố ngoại cảnh

Ngoài các nhân tố tác động do di truyền, các nhân tố tác động do ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rõ ràng và có ý nghĩa đến năng suất sinh sản của lợn nái như: chế độ nuôi dưỡng, bệnh tật, phương thức nuôi nhốt, mùa vụ, nhiệt độ, thời gian chiếu sáng đều ảnh hưởng đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái

2.1.5.3 Chế độ nuôi dưỡng

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái hậu bị và lợn nái mang thai là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố vi lượng và ảnh hưởng của vitamin

Nhu cầu năng lượng:

Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu về năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật

Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm 70 - 80%, Lipit

10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp

Nhu cầu về protein:

Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể

Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn

có một lượng nhất định protein mất đi Trong quá trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể thì hàng ngày luôn có các tế bào sinh trưởng và phát triển, phân

Trang 24

chia và các tế bào già cỗi được loại thải ra ngoài Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về

số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế: Lyzine, methionine, histidin, cystin, tryptophan… hay chính xác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thụ Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên việc phối hợp khẩu phần thức ăn cho lợn bằng nhiều loại thức ăn cần thiết

Bảng 2.1: Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái

nuôi con (Võ Trọng Hốt, 2000)[4]

Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con

Ảnh hưởng của khoáng chất:

Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là caxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác tồn tại ở dạng dấu vết Ví dụ như canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa

Ảnh hưởng của vitamin:

Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường cho sự phát triển của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số loại vitamin lợn có thể tự

Ngày đăng: 19/02/2016, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Bình (1999), “Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa chăn nuôi thú y (1996 – 1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại”, "Kết quả nghiên cứu khoa học Khoa chăn nuôi thú y (1996 – 1998)
Tác giả: Đặng Vũ Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
2. Trần Tiến Dũng, Dương đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh lý sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 56 – 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
3. Nguyễn Kim Đường (1992), Chọn giống và nhân giống gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Nguyễn Kim Đường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
4. Võ trọng Hốt, Trần Đình Miên, Võ Văn Sự, Vũ Đình Tôn, Nguyễn Khắc Tích, Đinh Thị Nông: Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội – 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi lợn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
5. Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kinh Trực (1977), Chọn giống và nhân giống gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Hải Quân, Vũ Kinh Trực
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1977
6. Nguyễn Khánh Quắc (1998), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
7. Nguyễn Thiện, Nguyễn Tiến Anh (1993), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 6 – 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thiện, Nguyễn Tiến Anh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
8. Phùng Thị Vân, Lê Thị Kim Ngọc, Trần Thị Hồng (2001), “ Khảo sát khả năng sinh sản và xác định tuổi loại thải thích hợp đối với lợn nái Landrace và Yorkshire”, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, phần chăn nuôi gia súc (2000 – 2001), Viện Chăn nuôi Quốc Gia.II. Tài liệu dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát khả năng sinh sản và xác định tuổi loại thải thích hợp đối với lợn nái Landrace và Yorkshire”, "Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi
Tác giả: Phùng Thị Vân, Lê Thị Kim Ngọc, Trần Thị Hồng
Năm: 2001
9. A.A. Xuxoep (1985), Sinh lý sinh sản gia súc (Cù Xuân Dần – Lê Khắc Thuận dịch), Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý sinh sản gia súc
Tác giả: A.A. Xuxoep
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất - Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất (Trang 37)
Bảng 4.2. Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái hậu bị - Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
Bảng 4.2. Các chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn cái hậu bị (Trang 38)
Bảng 4.3: Các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của nái Đen - Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
Bảng 4.3 Các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của nái Đen (Trang 39)
Bảng 4.4: Các chỉ tiêu về lợn con  sơ sinh của lợn Móng Cái - Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
Bảng 4.4 Các chỉ tiêu về lợn con sơ sinh của lợn Móng Cái (Trang 40)
Bảng 4.6: Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của lợn nái Đen - Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
Bảng 4.6 Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của lợn nái Đen (Trang 42)
Bảng 4.7: Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của  lợn Móng Cái - Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
Bảng 4.7 Các chỉ tiêu về lợn con lúc 21 ngày tuổi của lợn Móng Cái (Trang 43)
Bảng  4.8: So sánh chỉ tiêu 21 ngày tuổi đàn con của Lợn đen và  lợn  Móng Cái lúc 21 ngày tuổi - Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành, Huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
ng 4.8: So sánh chỉ tiêu 21 ngày tuổi đàn con của Lợn đen và lợn Móng Cái lúc 21 ngày tuổi (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w