1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn tp thái nguyên tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

71 616 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 800,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

coli, viêm dạ dày truyền nhiễm, dịch tả, rotavirus Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn, bệnh xuất hiện ở 3 giai đoạn chính: + Giai đoạn 1: ở lợn sơ sinh đến vài ngày

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

Tên đề tài:

“TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON TẠI TRẠI LỢN HÙNG CHI XÃ LƯƠNG SƠN - TP THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2011 - 2015

Giảng viên hướng dẫn: TS Đỗ Quốc Tuấn

Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự dạy bảo tận tình của thầy giáo, cô giáo

Nhờ vậy, tôi đã được các thầy giáo, cô giáo trang bị cho kiến thức khoa học

kỹ thuật, cũng như đạo đức của người cán bộ tương lai Thầy, cô đã trang bị

cho tôi đầy đủ hành trang và một lòng tin vững bước vào đời, vào cuộc sống

và vào nghề nghiệp sau này

Để có thể hoàn thành tốt được khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố

gắng của bản thân Tôi đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo

trong khoa Chăn nuôi Thú y, sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ

Quốc Tuấn, cùng với sự giúp đỡ của bác Nguyễn Ngọc Hùng là chủ trang trại

lợn Hùng - Chi xã Lương Sơn - Tp Thái Nguyên - Thái Nguyên đã giúp tôi

hoàn thành khóa luận này

Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu

trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú

y, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại

trường

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, sự quan tâm giúp đỡ của

thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ Quốc Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, tạo

mọi điều kiện để tôi hoàn thành bản khóa luận này

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bác Nguyễn Ngọc

Hùng chủ trang trại lợn và tập thể cán bộ công nhân viên trại chăn nuôi Hùng

- Chi, xã Lương Sơn - Tp Thái Nguyên - Thái Nguyên Những người đã tạo

mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở

Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và những người

thân của tôi đã hết lòng động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình

học tập để tôi hoàn thành tốt khóa luận này./

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Sinh viên Nguyễn Văn Dương

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 34

Bảng 4.1 Tình hình phát triển chăn nuôi của trại qua 3 năm 35

Bảng 4.2 Chế độ và khẩu phần ăn của lợn nái (kg/con/ngày) 38

Bảng 4.3 Chế độ ăn của lợn nái nuôi con(kg/con/ngày) 38

Bảng 4.4 Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn trong trại 41

Bảng 4.5 Kết quả phục vụ sản xuất 46

Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con nhiễm Hội chứng tiêu chảy theo cá thể 46

Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh theo lứa tuổi 48

Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn con nhiễm Hội chứng tiêu chảy theo tính biệt 50

Bảng 4.9 Tỷ lệ lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy ở lợn con qua các tháng trong năm 50

Hình 1.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy lợn con qua các tháng 51

Bảng 4.10 Triệu chứng lâm sàng lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy 53

Bảng 4.11 Đánh giá hiệu quả phòng hội chứng tiêu chảy 54

Bảng 4.12 Tỷ lệ lợn con chết do hội chứng tiêu chảy (%) 54

Bảng 4.13 Kết quả điều trị bệnh 55

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

KgTT : Kilogam thể trọng Kcal/TA : Kilo calo/ Thức ăn Nxb : Nhà xuất bản

TB : Trung bình

SS : Sơ sinh STT : Số thứ tự

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ii

DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở khoa học 3

2.1.1 Hiểu biết về Hội chứng tiêu chảy 3

2.1.2 Những nguyên nhân gây tiêu chảy 5

2.1.3 Cơ chế gây tiêu chảy 12

2.1.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy 15

2.1.5 Triệu chứng và bệnh tích của Hội chứng tiêu chảy 15

2.1.6 Các biện pháp phòng bệnh 19

2.1.7 Điều trị Hội chứng tiêu chảy 21

2.1.8 Đặc điểm sinh lý lợn con 26

2.2 Tình hình nghiên cứu Hội chứng tiêu chảy ở lợn con trong và ngoài nước 31

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

Trang 7

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33

3.3 Nội dung nghiên cứu 33

3.4 Phương pháp nghiên cứu 33

3.4.1 Phương pháp tiến hành 33

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 34

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 Công tác phục vụ sản xuất 35

4.1.1 Tình hình sản xuất của trang trại 35

4.1.2 Nội dung phục vụ sản xuất 36

4.2 Kết quả nghiên cứu 46

4.2.1 Kết quả theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy theo cá thể 46

4.2.2 Xác định tỷ lệ nhiễm Hội chứng tiêu chảy theo lứa tuổi 48

4.2.3 Xác định tỷ lệ Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo tính biệt 50

4.2.4 Xác định tỷ lệ Hội chứng tiêu chảy ở lợn con qua các tháng trong năm 50

4.2.5 Một số triệu chứng lâm sàng khi lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy 53

4.2.6 Đánh giá hiệu quả phòng hội chứng tiêu chảy 54

4.2.7 Đánh giá kết quả điều trị bệnh 55

Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

Nói đến ngành chăn nuôi phải kể đến chăn nuôi lợn bởi vai trò và ý nghĩa thiết thực của nó đối với đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân

Tuy nhiên để chăn nuôi lợn có hiệu quả, cần phải giải quyết nhiều vấn

đề, trong đó vệ sinh phòng bệnh cần được đặc biệt quan tâm Bởi dịch bệnh xảy

ra là nguyên nhân chủ yếu làm ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm Trong chăn nuôi lợn, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy

ở lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng đáng kể tới tỷ lệ nuôi sống và sức sinh trưởng của lợn con Trong đó hội chứng tiêu chảy ở lợn con là một bệnh thường xuyên xảy ra trong nhiều trại lợn giống và các hộ gia đình nuôi lợn nái ở nước ta Đã có nhiều công trình nghiên cứu phòng trị bệnh nhưng vì tính chất phức tạp của nguyên nhân gây bệnh Nên có rất nhiều loại thuốc và hóa dược được sử dụng để phòng, trị bệnh nhưng các kết quả thu được lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường còi cọc chậm lớn Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất trên cơ sở thừa kế kết quả của các tác giả trong

Trang 9

và ngoài nước, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại Lợn Hùng Chi xã Lương Sơn - Tp Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy ở lợn con, đánh giá thực trạng

của bệnh từ đó có kế hoạch phòng và điều trị kịp thời

- Xác định ảnh hưởng của lứa tuổi, tính biệt tới tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy ở lợn con

- Thử nghiệm hiệu lực điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con

- Chuyên đề giúp cho người dân lựa chọn những loại thuốc thích hợp điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con đem lại hiệu quả kinh tế cao

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm và phòng, điều trị Hội chứng tiêu chảy ở lợn con

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị Hội chứng tiêu chảy ở lợn con; nhằm hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành

chăn nuôi lợn phát triển

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Hiểu biết về Hội chứng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy của lợn có rất nhiều nguyên nhân như: do kí sinh trùng, do vi khuẩn, do virus… gây ra

Hội chứng tiêu chảy thường thấy ở giai đoạn sau cai sữa Nguyên nhân

là do cấu tạo của cơ quan nội tạng của cơ thể lợn con chưa hoàn chỉnh, lợn con dễ bị tác động bởi yếu tố ở bên ngoài Lợn là một loài gia súc dạ dày trung gian nhưng có điều khác biệt với loài gia súc dạ dày đơn khác là chúng lại ăn tạp Vì vậy quá trình tiêu hóa của lợn cần một khẩu phần ăn cân đối cả

về chất lượng lẫn số lượng Chỉ cần một khẩu phần mất cân đối, thiếu chất dinh dưỡng, vitamin, nguyên tố đa lượng, vi lượng thì quá trình tiêu hóa và hấp thu sẽ bị ảnh hưởng dẫn tới rối loạn quá trình tiêu hóa gây nên ỉa chảy mà hay gặp ở lợn con sau cai sữa

Mặt khác, do cấu tạo cơ thể lợn con chưa hoàn chỉnh, môi trường ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn và cơ thể lợn chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện ngoại cảnh Khi cơ thể lợn chịu tác động bất lợi, sức đề kháng của cơ thể giảm sút tạo điều kiện cho các vi sinh vật có hại cư trú trong đường tiêu hóa gây bệnh Bình thường ở điều kiện cân bằng của hệ vi sinh vật đường tiêu hóa thì các vi khuẩn, virus này không tự nó gây nên bệnh Tuy nhiên khi các yếu

tố khí hậu, thức ăn, nước uống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lí

sẽ tác động mạnh mẽ đến cơ thể lợn con vốn dĩ chưa được hoàn chỉnh Cơ quan chịu tác động lớn nhất là bộ máy tiêu hóa dẫn đến quá trình loạn khuẩn trong đường tiêu hóa, hậu quả cuối cùng là ỉa chảy Hai loại vi khuẩn cơ hội

thường gặp nhất gây nên hội chứng tiêu chảy là E coli và Salmonella

Trang 11

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của hội chứng bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa Hiện tượng lâm sàng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, triệu chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh, được gọi với nhiều tên khác nhau:

Tên chung nhất: Hội chứng tiêu chảy (Dyspepsia)

Bệnh tiêu chảy không nhiễm trùng (Non-infectivediarrhoea)

Bệnh phân sữa (Milk-Scours)

Tiêu chảy là triệu chứng của bệnh truyền nhiễm như: phó thương hàn,

E coli, viêm dạ dày truyền nhiễm, dịch tả, rotavirus

Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi lợn, bệnh xuất hiện ở 3 giai đoạn chính:

+ Giai đoạn 1: ở lợn sơ sinh đến vài ngày tuổi

+ Giai đoạn 2: ở lợn con theo mẹ

+ Giai đoạn 3: ở lợn con sau cai sữa

Cho đến nay, Hội chứng tiêu chảy của lợn con đã được khẳng định xuất hiện với các bệnh nhiễm trùng đường tiêu hóa, gây ra bởi nhiều nguyên nhân

Vì vậy, việc tìm ra giải pháp hữu hiệu để khống chế tiêu chảy là vấn đề gặp rất nhiều khó khăn Trong điều kiện của nước ta hiện nay, hầu hết các cơ sở chăn nuôi lợn đều chưa thể khống chế một cách hiệu quả đối với hội chứng tiêu chảy Lợn con có thể bị mắc bệnh quanh năm, đặc biệt vào vụ đông xuân khi thời tiết có những thay đổi đột ngột hay vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm (Sử An Ninh, 1993) [19] Trong những tháng mưa nhiều, nóng ẩm thì số lợn con bị tiêu chảy tăng lên rõ rệt, có khi tới 90 - 100% toàn đàn (Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [8]

Theo Lê Minh Chí (1995)[3], Phạm Ngọc Thạch (1996)[31], tiêu chảy

là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy việc phân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn

Trang 12

Phạm Sỹ Lăng (2009)[14] tiêu chảy ở lợn là biểu hiện lâm sàng của nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau như virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, thời tiết, môi trường ngoại cảnh, độc tố

Tình trạng của hội chứng tiêu chảy nói chung chủ yếu là mất nước và chất điện giải làm cho con vật suy kiệt sức và chết Vì vậy, khi điều trị về bệnh tiêu chảy thường bổ sung nước và chất điện giải Những lợn khỏi bệnh thường bị còi cọc, chậm lớn, lông xù, thiếu máu, chính vì vậy làm cho hiệu quả của ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng không cao

2.1.2 Những nguyên nhân gây tiêu chảy

2.1.2.1 Nguyên nhân nội tại

Quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái đẻ không đảm bảo kỹ thuật: Nghèo dinh dưỡng, thức ăn bị ôi thiu, nấm mốc, chứa nhiều aflatoxin và Orchatoxin, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thiếu hoặc không cân bằng các loại Axit amin, Vitamin và các nguyên tố vi lượng, nhất là Fe, Co, Ca, Vitamin B12… làm bào thai phát triển kém, do đó lợn con mới sinh dễ bị bệnh tiêu chảy

Do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất dinh dưỡng nhất là thiếu Fe Khi còn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn…

Người ta cũng đã chứng minh những nái chửa nuôi con trong điều kiện

ẩm thấp, thiếu ánh sáng tự nhiên, thiếu vận động sẽ sinh ra những lợn con dễ mắc bệnh phân trắng lợn con hơn là nái được nuôi trong điều kiện chuồng trại tốt hơn, mặc dù chúng được ăn cùng loại thức ăn như nhau Cũng kết quả tương tự như vậy, con của những nái hậu bị thường hay bị phân trắng lợn con nhiều hơn là con của những nái cơ bản

Trang 13

Do lợn mẹ trước khi sinh bị nhiễm bệnh thương hàn (mặc dù điều trị

đã khỏi) nhưng vi trùng vẫn tồn tại trong cơ thể, khi có thai vi trùng xâm nhập qua màng nhau vào thai, lợn con đẻ ra bị nhiễm vi trùng nên gây tiêu chảy

Không cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ: Sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao, còn chứa các kháng thể từ mẹ truyền sang, giúp lợn con phòng chống bệnh trong 3 - 4 tuần lễ đầu Lợn con phải được bú càng sớm càng tốt

và càng nhiều càng tốt, sau 24 giờ kháng thể trong sữa đầu sẽ giảm thấp, đồng thời lúc này men tiêu hóa chất đạm bắt đầu hoạt động sẽ phá hủy hết kháng thể trong sữa đầu

Vệ sinh rốn không tốt: Lợn con bị viêm rốn sẽ tiêu chảy, do đó sau khi sinh phải dùng dây và dụng cụ sạch cột và cắt rốn, sát trùng bằng Iodine sau khi cắt và sau đó tiếp tục sát trùng rốn ngày 2 lần cho đến khi rụng

Nhiều trường hợp lợn con bị bệnh phân trắng khi lợn mẹ ít sữa hoặc mất sữa buộc lợn con phải gặm mút lung tung trong đó có các chất thải của

lợn mẹ khi bài xuất ra đã có sẵn E coli gây bệnh

Cũng không ít trường hợp lợn nái sau khi sinh bị viêm vú (đặc biệt là

viêm vú do E coli), viêm tử cung và viêm bàng quang cũng do E coli thì

những lợn con của các nái này bị tiêu chảy phân trắng ngay từ những ngày đầu mới sinh, tức là bệnh được truyền lây từ con mẹ

Trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển, lợn con gặp phải hai thời kỳ khủng khoảng lúc 3 tuần tuổi và lúc cai sữa Lúc 3 tuần tuổi nhu cầu sữa cho lợn con tăng, trái lại lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, một số chất trong cơ thể lợn con giảm dần, đặc biệt là Fe - thành phần cấu tạo Hemoglobin Nhu cầu sử dụng sắt ở lợn con mỗi ngày từ 7 - 11mg, mà lượng sắt cung cấp từ sữa mẹ rất

ít, khoảng 2 mg Fe/ngày, cho nên lượng sắt dự trữ của lợn con đến ngày thứ

18 đã tiêu hết và mỗi ngày cơ thể lợn con thiếu từ 5 - 9 mg Fe để tạo

Trang 14

Hemoglobin và một số men chuyên hóa, hô hấp như: Cytochrome, Cytochromoxdase, Catalase, Peroxydase

Nếu trong 4 tuần đầu mà không bổ sung sắt kịp thời thì xuất hiện hội chứng thiếu máu do thiếu sắt và gây rối loạn chuyển hóa sinh học của chu trình Kreb và dễ phát sinh bệnh tiêu chảy phân trắng

Bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ phát triển chưa hoàn chỉnh, chức năng tiêu hóa của lợn con sơ sinh chưa cao, axit HCl tiết ra không đáng kể và nhanh chóng bị liên kết với niêm dịch hoặc thức ăn trong dạ dày, do đó hàm lượng HCl tự do trong dạ dày gần như không có Axit HCl tự do bắt đầu xuất hiện từ 25 - 30 ngày tuổi và phát huy khả năng tiêu hóa, diệt khuẩn rõ nhất ở

40 - 50 ngày tuổi

HCl dịch vị làm trương nở protit, hoạt hóa pepsinogen tạo men tiêu hóa protein và có khả năng diệt khuẩn Tuy nhiên, sữa bị kết tủa dưới dạng Cazein, không tiêu hóa được gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến lợn con bị ỉa chảy

Lợn con sơ sinh có lớp vỏ đại não chưa phát triển hoàn chỉnh, nên khả năng điều hòa thân nhiệt của chúng kém Đồng thời, mỡ dự trữ và lớp mỡ dưới da của lợn con rất mỏng, chỉ chiếm khoảng 1% khối lượng cơ thể, cũng làm khả năng giữ nhiệt cho cơ thể lợn bị hạn chế, lợn con dễ nhiễm lạnh và dễ phát sinh bệnh phân trắng

2.1.2.2 Nguyên nhân do ngoại cảnh

Môi trường ngoại cảnh là một trong ba yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa Cơ thể - Mầm bệnh - Môi trường là nguyên nhân của sự không ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh (Nguyễn Như Thanh, 2001) [30]

Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, ẩm độ, các điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…

Trang 15

Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Trịnh Văn Thịnh, 1985a [33], Hồ Văn Nam và cs, 1997 [17])

Khi gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển… làm giảm sức đề kháng của con vật, vi khuẩn thường trực sẽ tăng độ độc và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003) [10]

Như vậy nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây bệnh tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hoà trao đổi nhiệt của cơ thể lợn, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá

có thời cơ tăng cường độc lực và gây bệnh

2.1.2.3 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy là do vi khuẩn

Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường ruột, được chia thành 2 loại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và vi khuẩn

có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây bệnh cho vật chủ

Theo Lê Văn Tạo và cs (1996)[29] cho biết họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:

-Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính

-Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là

sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin

-Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ

đó phát triển nhân lên

Trang 16

Một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E coli, Salmonella spp,

Shigella, Klebsiella, Cl.perfringens… là những vi khuẩn quan trọng gây ra rối

loạn tiêu hoá, viêm ruột tiêu chảy ở người và nhiều loại động vật

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996)[8] cho biết chiếm tỷ lệ cao nhất

trong số các vi khuẩn đường ruột gây tiêu chảy là E coli (45,6%) Cũng theo tác giả, vi khuẩn yếm khí Cl.perfringens gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi

và nó trở thành vai trò chính

Theo Nguyễn Như Pho (2003)[22] cho rằng khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn đối với lứa tuổi lợn khác nhau Lợn sau cai sữa hoặc giai đoạn

đầu nuôi thịt thì tỷ lệ mắc tiêu chảy do Salmonella cao hơn; giai đoạn từ lúc

sơ sinh đến sau khi cai sữa thường do E coli; lứa tuổi 6 - 12 tuần thì thường

do xoắn khuẩn Treponema hyodysenterriae; còn vi khuẩn yếm khí

Cl.perfringens thường gây bệnh nặng cho lợn con theo mẹ trong khoảng 1

tuần tuổi đến cai sữa

Theo Phạm Sỹ Lăng (2009)[14] cho biết bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:

2.1.2.4 Các nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy do virus

Virus gây bênh tiêu chảy lây truyền trực tiếp từ lợn ốm sang lợn khỏe hoặc truyền bệnh gián tiếp, qua nước tiểu, nước mắt, nước mũi, rơm rác hay dụng cụ chăn nuôi Các virus này gây viêm loét niêm mạc ruột ở nhiều mức

độ khác nhau, chính từ đó quá trình tiêu hóa hấp thu ở lợn bị rối loạn, cuối cùng là triệu chứng ỉa chảy: Adenovirus, Rotavirus (bệnh viêm ruột),

Trang 17

Coronavirus (viêm dạ dày - ruột ỉa chảy truyền nhiễm - TGE), Herpesvirus (bệnh giả dại - Aujeszky), pestivirus (dịch tả lợn) (Nguyễn Đức Lưu và cs,

2004)[16]

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[31], virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với tỷ lệ chết cao

Các nghiên cứu trong nước của Lê Minh Chí (1995)[3] và Nguyễn Như Pho

(2003)[28], cũng đã cho thấy Rotavirus và Coronavirus gây bệnh tiêu chảy

chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006)[13] cho rằng bệnh tiêu chảy ở lợn do

Rotavirus thường chỉ xảy ra ở lợn con bú sữa mẹ lứa tuổi 1-3 tuần lễ và lợn

con sau cai sữa khoảng 6 tuần lễ Bệnh tiêu chảy ở lợn do Rotavirus sẽ trở nên trầm trọng, nếu lợn con bị nhiễm kế phát các chủng E coli có độc lực và các

loài cầu trùng gây bệnh

2.1.2.5 Hội chứng tiêu chảy là do nấm mốc

Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm

mốc Một số loài như Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả năng sản

sinh nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)

Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho con người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh Aflatoxin gây độc cho nhiều loại gia súc, gia cầm và mẫn cảm nhất

là vịt, gà, lợn

Lợn khi nhiễm độc thường bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy, ỉa chảy

ra máu Nếu trong khẩu phần có 500 - 700µg Aflatoxin/ kg thức ăn sẽ làm cho

Trang 18

lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997) [27]

2.1.2.6 Các nguyên nhân do ký sinh trùng

Ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu hóa nói riêng là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn và gia súc khác Ký sinh trùng gây bệnh ỉa chảy tồn tại trong phân, nước tiểu, thức ăn khi vào cơ thể gặp điều kiện thuận lợi chúng sinh trưởng và phát triển thành các ký sinh

trùng gây bệnh:

Có nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy ở lợn như cầu trùng

(Eimeria), Isospora suis, Crytosporidium hoặc một số loài giun tròn lớp

Nematoda (Ascaris suum,Trichuris suis, Strongyloides, Haemonchus, Mecistocirrus…)

Bệnh do Isospora, Crytosporidium thường tập trung vào giai đoạn lợn

con từ 5 đến 25 ngày tuổi, còn ở lợn trên 2 tháng tuổi do cơ thể đã tạo được miễn dịch đối với bệnh cầu trùng, nên lợn chỉ mang mầm bệnh mà ít khi xuất hiện triệu chứng tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 2003) [28]

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009) [11]

Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh

bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và phân bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút

Như vậy có thể thấy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng theo một số nhà khoa học nghiên cứu về bệnh tiêu chảy ở lợn như Nguyễn Thị Nội (1985)[20], Lê Văn Tạo (1993)[28], Hồ Văn Nam và cs (1997)[17] thì dù nguyên nhân nào gây tiêu chảy cho lợn đi nữa, cuối cùng cũng là quá

Trang 19

trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính

2.1.3 Cơ chế gây tiêu chảy

2.1.3.1 Cơ chế sinh bệnh

Cơ chế sinh bệnh và đường sinh bệnh của E coli là đề tài thu hút nhiều

nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới cơ chế sinh bệnh và tiến triển của bệnh như: Những tổn thương ở đường ruột, phủ

tạng cho phép E coli xâm nhập Tuy nhiên, để gây bệnh, số lượng E coli sinh

ra phải đủ lớn mới có thể gây bệnh cho lợn

Đến nay, người ta cho rằng cơ chế sinh bệnh của E coli ở lợn con được

biểu hiện thông qua:

-Vi khuẩn E coli bằng cách trực tiếp hay gián tiếp xâm nhập vào

đường hô hấp hoặc phía trên của ruột non

-Tấn công, phá hủy hệ thống lông nhung của tế bào niêm mạc ruột gây

ỉa chảy mất nước dữ dội, giảm đáng kể bề mặt hấp thu của ruột non

-Ở trong ruột khi gặp được điều kiện thuận lợi vi khuẩn E coli nhân lên với số lượng lớn, sinh sản ra yếu tố kháng khuẩn Colicin V, yếu tố này

diệt hoặc hạn chế sự phát triển của vi khuẩn đường ruột khác đặc biệt là vi

khuẩn có lợi Khi vi khuẩn E coli có số lượng lớn sẽ tràn lên ruột non Chúng

tấn công, phá hủy hệ thống lông nhung, tế bào biểu mô làm phá hủy lớp tế bào này gây ra viêm ruột Hiện tượng này gây ra ỉa chảy mất nước dữ dội, giảm đáng kể bề mặt hấp thu của ruột non

-Sản sinh các độc tố ruột (Enterotoxin) Những E coli trong ruột bám

trên hệ thống lông nhung, tăng sinh và sản sinh độc tố Những độc tố này ảnh hưởng trực tiếp đến áp suất thẩm thấu màng tế bào niêm mạc ruột, gây rối loạn chức năng trao đổi chất của tế bào Đặc biệt ảnh hưởng lên quá trình trao đổi nước và các chất điện giải

Trang 20

Theo Lê Văn Thọ (2007)[43], vi khuẩn E coli sản sinh độc tố đường

ruột (Enterotoxin) tác động vào quá trình trao đổi muối ở ruột làm cho nước

và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể mà ngược lại được thẩm suất từ cơ thể vào ruột Nước tập chung vào ruột làm cho ruột căng lên,

cộng với các khí do E coli trong ruột lên men tạo ra càng làm cho ruột thêm

căng, sức căng của ruột càng kích thích vào hệ thần kinh thực vật ở ruột tạo nên những cơn nhu động đẩy nước và phân ra ngoài, gây nên tiêu chảy

Lê Văn Năm và cs (1998)[18] cho biết, E coli tiết ra độc tố gồm 2

nhóm: độc tố chịu nhiệt (ST) và nhóm độc tố kém chịu nhiệt (LT)

Enterotoxin thuộc nhóm LT bám trên bề mặt tế bào làm nước và muối tràn ra ngoài và nó ngăn cản không cho nước và muối hấp thu trở lại

-Sự sinh sôi của E coli trong ruột non, đặc biệt là ruột già, làm chúng

xâm lấn, phá hủy tế bào niêm mạc, gây viêm ruột, sau đó ỉa chảy mất nước

Khi lợn ỉa chảy nhiều sẽ dẫn đến mất nước gây rối loạn chức năng sinh

lý tiêu hóa Do rối loạn tiêu hóa dẫn đến sự rối loạn cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột Một số vi khuẩn có hại phát triển nhanh, song song với sự phát triển về số lượng của vi khuẩn có hại, độc tố của nó tiết ra cũng tăng nhiều Độc tố vào máu làm rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc ở thận (Hồ Văn Nam và cs, 1997) [17]

Tóm lại: E coli muốn gây được bệnh phải có những điều kiện sau:

+ Phải có khả năng bám dính vào lông nhung (kháng nguyên Ficubriae)

+ Phải có yếu tố xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô

+ Sản suất độc tố đường ruột

Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng

Trang 21

thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình này sau và ngược lại, song không thể phân biệt được từng quá trình

Theo Phạm Ngọc Thạch (1996)[31], khi thiếu mật thì tới 60% mỡ không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy

2.1.3.2 Bệnh lý lâm sàng của bệnh

Bệnh lý, lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc đó là sự biến đổi

về chức năng, tình trạng mất nước và chất điện giải, trạng thái trúng độc của

đờ, da khô, khi véo da lên, nếp da chậm trở lại vị trí cũ Lợn bị tiêu chảy gầy sút nhanh, da nhăn, tính đàn hồi da kém; nếu tiêu chảy lâu ngày, lợn gầy nhô xương sống, da thô, lông dựng ngược Mặt khác, khi cơ thể mất nước và chất điện giải sẽ kéo theo sự biến đổi của hàng loạt các bệnh lý khác nhau

Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải sinh độc tố,

hệ vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các độc tố đó cùng

Trang 22

với các sản phẩm của viêm, tổ chức phân huỷ, ngấm vào máu, tác động vào gan làm chức năng gan rối loạn, gia súc bị trúng độc, đồng thời tác động cản trở quá trình tiêu hoá tiếp tục gây tiêu chảy nặng hơn, tăng nguy cơ nhiễm độc máu và gây tử vong

2.1.4 Hậu quả của hội chứng tiêu chảy

Hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước

và mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý (Lê Minh Chí, 1995) [3]

Lợn bị tiêu chảy giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng, nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1997) [12]

Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước trong điều trị tiêu chảy luôn luôn phải đặt ra

Ở lợn hiện tượng tiêu chảy thường có quá trình nhiễm khuẩn Khi tiêu chảy do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng hơn và hậu quả để lại nặng

nề hơn Bệnh có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi

Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây tiêu chảy khác nhau thì cũng

để lại những hậu quả khác nhau

2.1.5 Triệu chứng và bệnh tích của Hội chứng tiêu chảy

2.1.5.1 Triệu chứng

Biểu hiện lâm sàng của hội chứng tiêu chảy nói chung dễ thấy và điển hình nhất là hiện tượng tiêu chảy: Phân lúc đầu có thể táo sau đó chuyển sang sền sệt hoặc lỏng ở các bệnh do giun sán, phó thương hàn, dịch tả ở giai đoạn

Trang 23

cuối phân lỏng Lê Văn Năm và cs (1998)[18] cho biết: Phân của lợn bị tiêu chảy do cầu trùng có lẫn máu, thậm chí máu chiếm phần lớn trong phân Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [12] cho biết: Lợn ỉa chảy, phân lỏng, màu xám xanh hoặc xám vàng, trong phân có lẫn những mảnh thức ăn chưa được tiêu hóa hết (lợn bị ỉa chảy do thức ăn không đảm bảo vệ sinh), do rối loạn hệ vi

khuẩn đường ruột, vi khuẩn E coli và Salmonella phát triển gây tiêu chảy

Ngoài ra, lợn bị tiêu chảy thân nhiệt thường tăng nhẹ hoặc không tăng, phân dính ở đuôi và hậu môn, con vật ăn uống kém, thậm chí bỏ ăn, khát nước đôi khi thấy nôn mửa, ỉa chảy kèm theo mất nước, mất chất điện giải, lợn gầy sút nhanh, da khô, lông xù, tăng trọng kém Hiện tượng tiêu chảy kéo dài làm sức đề kháng của lợn giảm sút, trực khuẩn đường ruột phát triển mạnh

mẽ xâm nhập vào đường Lympho - máu gây nhiễm trùng huyết, con vật kiệt sức, chết rất nhanh

Lợn con bị nhiễm E coli, mắc Hội chứng tiêu chảy có biểu hiện yếu,

chậm chạp, bỏ bú, thân nhiệt tăng nhẹ, tiêu chảy nhiều, mất nước, biếng ăn, suy nhược, đôi khi có nôn mửa Phân lúc đầu có thể táo, sau đó ỉa lỏng, có thể sền sệt ở các bệnh do giun sán, phân lỏng hoặc vọt cần câu, màu trắng, vàng, xanh nhạt màu hạt đậu, có lẫn bọt khí Vì mất nước nhiều nên lợn ốm bị khát nước dẫn đến sinh loạn dưỡng trong cơ thể, bụng hóp lại, da nhăn nheo, lông

xù, phân dính xung quanh hậu môn, 2 chân sau rúm lại Bệnh xảy ra quanh

năm nhưng chủ yếu vào vụ đông xuân khi độ ẩm môi trường cao

Trịnh Văn Thịnh (1985b)[34] cho biết, lợn bị tiêu chảy có biểu hiện phân có màu trắng ngà đến vàng nhạt, mùi thối khắm, tanh, lông xơ xác gầy tóp, chân đi lảo đảo không định hướng, đuôi và hậu môn luôn dính phân

Theo Lê Văn Tạo và cs (1996)[29], khi lợn con bị nhiễm E coli thì các

triệu chứng đặc trưng của bệnh là: Đầu tiên trong một đàn lợn có 1 - 2 con bị

Trang 24

bệnh rồi lây sang các con khác, có khi cả đàn bị bệnh, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt nhẹ 39,50C - 40,00C Khi thể:

-Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, từ khi phát hiện triệu chứng ăn ít đến khi chết trong vòng 6 - 20 giờ, lợn bỏ ăn hoàn toàn, đi lại siêu vẹo, loạng choạng thích nằm bẹp một chỗ Ho nhiều, nước mũi đặc khịt như mủ Phần rìa tai, mõm tím tái, thở thể bụng rất khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy,

có trường hợp toàn nước với máu tươi, có mùi hôi tanh khó chịu trước khi lợn chết thường có những cơn co giật ở chân

-Thể cấp tính: Thường chết chậm hơn (2 - 4 ngày sau khi phát hiện triệu chứng đầu tiên) Triệu chứng tương tự như thể quá cấp tính: Lợn bị sưng

mí mắt, viêm giác mạc mắt, mắt phù thũng, phân màu vàng xám Trước khi chết cũng co giật kiệt sức mà chết

Bộ môn vi trùng - Viện thú y quốc gia đã tìm hiểu và nghiên cứu tình hình bệnh tiêu chảy và có những nhận xét sau:

Bệnh xảy ra ở thời kỳ khác nhau, lợn 10 ngày tuổi, lợn choai mắc nhiều hơn lợn nái, bệnh mang tính chất lây lan nhưng không mạnh Bệnh được phát hiện thường có các triệu chứng: phân có nhiều nước màu vàng (không thấy hiện tượng có màu vàng và màng nhày như hiện tượng của bệnh lỵ), có hiện tượng nôn ra phân Do tiêu chảy dẫn đến hiện tượng mất nước nên lợn run rẩy, đi lại yếu, đôi khi có hiện tượng thần kinh

2.1.5.2 Bệnh tích

Như đã biết, nguyên nhân gây Hội chứng tiêu chảy rất đa dạng, do đó quá trình bệnh lý do chúng gây ra cũng rất phức tạp Mỗi nguyên nhân khi tác động lên đường tiêu hóa đều theo một cơ chế nhất định và vị trí tác động không giống nhau vì vậy cơ quan tổn thương khác nhau và mức độ nặng nhẹ cũng khác nhau

Trang 25

- Thể cấp tính: Niêm mạc dạ dày phủ đầy dịch nhờn, xung huyết và xuất huyết rất rõ, niêm mạc ruột non bị tổn thương mạnh, có vùng bị hoại tử, niêm mạc ruột già bị tổn thương rất rõ, hạch lâm ba ruột sưng màu đỏ thẫm Xét nghiệm vi thể hạch lâm ba thương có tăng sinh đại thực bào Có trường

hợp tế bào này tập trung thành một u, một số u bị hoại tử bên trong

+ Gan nhão, dễ vỡ, đôi khi có xuất huyết ở gan

+ Túi mật sưng, xuất huyết, dịch mật biến đổi màu

- Thể mãn tính: Đặc trưng là tăng sinh tế bào, trong u tế bào tăng sinh

có các đại thực bào với các hạt nhân màu sáng, đó là các sản phẩm của biểu bì võng mô, chúng có khả năng thực bào

+ Lách sưng to, màu đỏ thẫm, đôi khi màu đen, rìa lách cong

+ Thận không có biến đổi đặc trưng

+ Trong phổi thấy có u mủ hoặc hoại tử, bề mặt phổi xung huyết

+ Xuất huyết tim, màng tim dễ bóc, chứa đầy nước và có những điểm xuất huyết rõ ràng

+ Dạ dày đều chứa hơi và chứa 1/2 chất lỏng gồm sữa không tiêu, nước màu vàng Xác lợn chết gầy, hóp bụng Những lợn chết qua đêm phần bụng thường có màu đen do quá trình hoại tử gây nên

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1986)[5] cho thấy, vi khuẩn Sal

typhimurium và Sal cholerasuis gây bệnh phó thương hàn chủ yếu tập trung ở

ruột non: Gây viêm ruột hoại tử lan tràn, hạch màng treo ruột, đồng thời tổn thương này còn lan tràn đến kết tràng và trực tràng Tác giả còn cho biết: ở

bệnh hồng lỵ do Treponema hyodysenteriae gây ra quá trình bệnh lý tập trung

ở ruột già: Sưng phù thành ruột và màng treo ruột, viêm và sưng hạch màng treo ruột Những tổn thương khác có thể thấy như: Sung huyết ở gan, viêm, xuất huyết ở dạ dày

Trang 26

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997)[12] cho thấy: Giun đũa trưởng thành khi cư trú ở ruột non làm viêm niêm mạc ruột, gây loét, khi số lượng giun ký sinh nhiều làm tắc và thủng ruột

Bệnh lý của Hội chứng tiêu chảy của lợn tập trung chủ yếu là ở đường tiêu hóa, từ tổn thương đến viêm, hoại tử niêm mạc ruột non, ruột già… Hậu quả là tiêu chảy nhiều dẫn đến mất nước, mất chất điện giải, rối loạn hệ thống Enzyme, từ đó làm rối loạn chức năng tiêu hóa, hấp thu, rối loạn cân bằng thể dịch ở ruột sự mất nước có thể làm giảm lưu lượng tuần hoàn dẫn đến trụy tim mạch gây tử vong

2.1.6 Các biện pháp phòng bệnh

2.1.6.1 Vệ sinh phòng bệnh

Phòng bệnh là biện pháp chủ động không để bệnh xảy ra, các biện pháp

phòng bệnh đều xoay quanh các vấn đề về môi trường, vật chủ và mầm bệnh

Các tác giả Trịnh Văn Thịnh (1985b)[34], Đào Trọng Đạt và cs (1985)[4] đề xuất biện pháp phòng bệnh là giữ ấm và sưởi cho lợn sơ sinh vào mùa đông, dọn phân, rác thải trong chuồng đem ủ nhiệt sinh vật, định kỳ tẩy

uế tiêu độc chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi

Để phòng bệnh tiêu chảy trước hết cần hạn chế và loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực, đồng thời khắc phục những yếu tố khí hậu, thời tiết bất lợi để tránh rối loạn tiêu hoá, giữ ổn định trạng thái cân bằng giữa cơ thể và môi trường Lợn con đẻ ra phải được sưởi ấm ở nhiệt độ 370C trong 7 ngày, sau đó giảm nhiệt độ dần, nhưng không được thấp hơn 300C

Vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là E coli được đánh giá là nguyên nhân

gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi, nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vaccine phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

Trang 27

Nguyễn Thị Nội (1985)[20] dựa trên kết quả xác định tần suất các

serotype O của E.coli gây bệnh phân trắng lợn con để chọn các serotype O có

tần suất xuất hiện cao chế vaccine

Lê Văn Tạo (1996)[29] đã chọn chủng vi khuẩn E coli mang kháng

nguyên K88 kết hợp với ít nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là Ent và Hly dùng

để sản xuất vaccine cho uống và tiêm nhằm phòng bệnh lợn con phân trắng Còn Nguyễn Thị Nội và cs (1989)[21] đã tiến hành nghiên cứu một loại

vaccine đa giá SALCO gồm các chủng vi khuẩn Salmonella, E coli và

Streptococcus để phòng tiêu chảy cho lợn con

Đặng Xuân Bình và cs (2008b)[2] đã nghiên cứu, chế tạo autovaccine

từ các chủng E coli độc có mang yếu tố gây bệnh phòng bệnh phân trắng lợn

con trên thực địa

Nguyễn Ngọc Hải (2010)[8] nghiên cứu, chế tạo autovaccine từ 7 gốc

E coli phân lập từ các mẫu phân heo con tiêu chảy có kết quả rõ nhất, để

phòng tiêu chảy cho heo con theo mẹ; đã kết luận vaccine chuồng thực

nghiệm tạo được đáp ứng miễn dịch tốt, hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do E

coli tương đương với vaccine phòng bệnh E coli của Mỹ

2.1.6.2 Phòng bằng vaccine

Phòng bệnh bằng vaccine là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh có nguyên nhân là vi sinh vật Vaccine là chế phẩm sinh học được bào chế từ các vi sinh vật gây bệnh trong đó mầm bệnh đã bị giết chết hay giảm độc không còn khả năng gây bệnh, khi đưa vào cơ thể có khả năng kích thích hệ thống miễn dịch cơ thể vật chủ sản sinh ra kháng thể

Việc sử dụng vaccine phòng bệnh tiêu chảy cho lợn (đặc biệt là lợn con) đến nay vẫn đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm

Ngoài sử dụng vaccine, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu các chế phẩm dùng để phòng bệnh tiêu chảy Đây là biện pháp vừa giúp tăng khả

Trang 28

năng đề kháng, vừa khống chế sự phát triển quá mức của một số loài vi khuẩn

có hại cho cơ thể gia súc

Tạ Thị Vịnh và cs (2002)[37] đã sử dụng chế phẩm Vitom 1.1 (chứa

Bacillus subtilis chủng VKPMV - 7092) để phòng và trị bệnh tiêu chảy cho

lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi

Trần Thị Hạnh và cs (2004)[9] đã chế tạo sinh phẩm E coli - sữa và

Cl.perfringens - toxoid dùng phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con

Phan Thanh Phượng và cs (2008b)[25] đã nghiên cứu, khảo sát và đưa vào ứng dụng theo khu vực 2 loại kháng thể dạng bột và dạng đông khô

phòng trị bệnh E coli và tụ huyết trùng lợn

Nguyễn Thị Thanh Hà và cs (2009)[7] nghiên cứu bào chế thử nghiệm cao mật bò và ứng dụng trong phòng bệnh phân trắng lợn con; đã có kết luận việc sử dụng cao mật bò bổ sung cho lợn con từ 1 - 21 ngày tuổi là mang lại hiệu quả tốt trong phòng bệnh phân trắng lợn con Đây cũng là nguồn nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm nên rất tiếp kiệm, có thể áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi lợn và sử dụng cao ở nồng độ 20% là đặt kết quả tốt nhất

Như vậy, vấn đề phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã có nhiều tác giả nghiên cứu Mỗi công trình nghiên cứu đều đi sâu vào một khía cạnh, một số nguyên nhân gây bệnh và đã đạt được một số kết quả khả quan Tuy nhiên, do

có nhiều nguyên nhân và yếu tố gây bệnh, nên vẫn còn nhiều vấn đề thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết trong phòng bệnh tiêu chảy cho lợn

2.1.7 Điều trị Hội chứng tiêu chảy

Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều kết luận rằng đều phải điều trị triệu chứng tiêu chảy sớm, ngay từ khi mới sinh bằng biện pháp phòng trị tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hóa hấp thu của lợn con, chống loạn khuẩn, ổn định hệ vi khuẩn ruột, đồng thời vệ sinh chăm sóc nuôi

Trang 29

dưỡng, chẩn đoán chính xác, phát hiện sớm nguyên nhân gây bệnh, từ đó chọn loại thuốc điều trị phù hợp, xây dựng phác đồ điều trị chuẩn

- Nguyên tắc chung trong điều trị bệnh là: Loại trừ nguyên nhân gây ra

Hội chứng tiêu chảy đồng thời phải điều trị triệu chứng của bệnh

- Việc đầu tiên và hết sức cần thiết phải tập trung giải quyết vấn đề môi trường, tiêu độc để hạn chế mầm bệnh và sự xâm nhiễm của chúng cho lợn con

- Phải phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời để hạn chế mầm bệnh bài xuất ra môi trường xung quanh, tránh được sự gia tăng mức độ ô nhiễm và đưa ra phương pháp điều trị kịp thời tránh để con vật mất nước và chất điện giải quá nhiều sẽ gây khó khăn trong việc điều trị

- Điều trị căn nguyên phải kết hợp với điều trị triệu chứng

Ngoài sử dụng kháng sinh để điều trị phải kết hợp bổ sung muối khoáng, nước, vitamin để chống hiện tượng mất nước và điện giải, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể con vật Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh phải xác định được sự mẫn cảm của vi khuẩn của vi khuẩn gây bệnh với kháng sinh và hóa dược sẽ dùng trong điều trị Vì vậy nên làm kháng sinh đồ

để xác định loại kháng sinh mà vi khuẩn mẫn cảm Trong thực tế nên sử dụng kháng sinh phổ rộng ngay từ lúc ban đầu trong khi chờ có kết quả chính thức của kháng sinh đồ, như thế hiệu quả của kháng sinh đồ sẽ cao

- Đồng thời phải tiến hành chăm sóc nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức

đề kháng cho con vật chống lại các yếu tố bất lợi, hạn chế tới mức thấp nhất tác động của bệnh nguyên Ngoài ra phải khôi phục sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột bằng cách bổ sung các chế phẩm sinh học

Trang 30

Phương pháp điều trị

- Điều trị triệu chứng: Chống mất nước, cân bằng điện giải bằng cách

bổ sung kịp thời các chất điện giải Bổ sung các vitamin, dùng chất chát, tanin làm se niêm mạc, dexamethasol giảm tiêu chảy

- Điều trị căn nguyên: điều trị theo hướng vi khuẩn bội nhiễm bằng các kháng sinh, hóa dược

- Chống nhiễm trùng thứ phát

- Tiêu độc, giảm độc tố ở máu

+ Nếu do cầu trùng dùng thuốc Hancox 5%, Rigercoccin

+ Nếu do thức ăn, nước uống thì phải xem lại và thay đổi thức ăn, nước uống ngay

+ Lợn ỉa chảy, cần thiết cho lợn con ngừng bú giảm ăn trong 4 - 6h, giữ

ấm chuồng trại, khô ráo, sạch sẽ, dùng các chất điện giải và chống mất nước

+ Nếu do ký sinh trùng thì phải dùng thuốc trị ký sinh trùng Ivermectin

có tác dụng diệt cả nội ngoại ký sinh trùng (1,2ml / 10Kg TT)

+ Theo kinh nghiệm của nhân dân là dùng một số loại cây cỏ trong thiên nhiên để chữa bệnh gây tiêu chảy cho lợn (lá chuối non, lá ổi, quả hồng xiêm xanh…)

+ Nếu do vi khuẩn dùng kháng sinh phổ rộng kết hợp với thuốc trợ sức trợ lực

Nguyễn Đức Lưu và cs (2003)[15] cho biết: Norfacoli là sự kết hợp của hai loại kháng sinh Norfloxacin và Colistin, có tác dụng tốt trong điều trị tiêu chảy ở lợn

Hồ Soái và Đinh Thị Bích Lân (2005)[26] đã đưa ra phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn như sau:

Hampiseptol: 1 - 2ml/10kg TT (tiêm bắp)

Hantril - 5: 1 - 2ml/10kg TT (tiêm bắp)

Trang 31

Norfacoli: 1ml/7 - 10kg TT (tiêm bắp)

Bio - Tycosome: 1 - 2ml/10kg TT (tiêm bắp)

Kết hợp với thuốc bổ trợ sức, trợ lực: B.complex, vitamin C…

Theo trung tâm Unessco (2005)[36]:

- Dùng lá ổi, lá sim sắc đặc cho lợn uống mỗi lần 10 ml

- Giã nhỏ quả măng cụt và hồng xiêm để lấy nước cho lợn uống

- Dùng than hoạt tính, Cabotamin 5g / lần, ngày 3 lần

+ Tiêm trợ lực cho lợn vitamin B1, vitamin C, cafein

Theo Lê Văn Thọ (2007)[35]:

+ Streptomycin: 1 gam/ 10 - 20 kg TT/ngày

+ Vitamin để nâng cao thể trạng và sức đề kháng của cơ thể

Với chăn nuôi thâm canh công nghiệp cần tuân thủ những yêu cầu sau đây:

- Có chuồng nái chờ đẻ

- Có nhà chuồng hộ sinh (nuôi lợn sơ sinh và thời gian bú mẹ) bảo đảm thoáng, ấm, khô ráo

Trang 32

- Tuân thủ chế độ “cùng vào - cùng ra” (all in - all out) thời gian trống chuồng để vệ sinh, tiêu độc diệt khuẩn

- Thực hành chế độ chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi hàng ngày, nghiêm túc theo nội quy chăn nuôi

- Có chuồng nuôi lợn cai sữa; lợn cai sữa được phân chia cùng ngày hoặc gần ngày cai sữa nhất, chọn những con có trọng lượng tương đương nhốt chung chuồng để đảm bảo không có con khỏe lấn át con yếu

- Điều tiết chế độ ăn trước và sau cai sữa cho phù hợp, chú ý tăng chất khô, giữ khẩu phần vừa phải

- Tập ăn sớm cho lợn con nhằm kích thích ống tiêu hóa của lợn phát triển sớm hoàn thiện về tổ chức và chức năng hoạt động nhằm cho lợn sớm thích ứng với điều kiện sinh sống

- Chú ý việc ra nhau thai của lợn mẹ, kịp thời xử lý việc sót nhau, tránh ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn mẹ, ảnh hưởng tới lợn con

- Sau khi đẻ xong cần cho lợn sơ sinh bú lần đầu tiên để bổ sung kịp thời năng lượng dự trữ của lợn sơ sinh bị giảm đi nhanh chóng Quan trọng hơn nữa là lợn sơ sinh được tiếp nhận kháng thể từ sữa đầu của lợn mẹ đã được

tiêm phòng miễn dịch với các chủng E coli gây bệnh đặc hiệu

- Tiêm bổ sung chế phẩm sắt cho lợn con trong ngày đầu sau đẻ Nhu cầu sắt của lợn con là 7-10 mg/con/ngày Trong khi đó hàm lượng sắt trong

Trang 33

sữa đầu của lợn mẹ chỉ có khoảng 1ppm Sắt là nguyên nhân gây thiếu máu ở lợn con, thiếu sắt làm bạch cầu trung tính giảm khả năng tiêu diệt vi khuẩn

- Tiêm vaccin E coli cho lợn mẹ mũi thứ nhất 21 ngày trước khi đẻ,

tiêm nhắc lại lúc 7 ngày trước khi đẻ để tạo hàm lượng kháng thể cao truyền qua sữa đầu cho lợn sơ sinh

- Tiêm kháng thể E coli (dạng lỏng) hoặc cho uống kháng thể kháng

E coli (dạng bột) nhằm đưa kháng thể thụ động vào phòng trị bệnh Liều

lượng và cách dùng tuân theo chỉ định của nhà sản xuất

- Dùng thuốc kháng sinh hoặc chế phẩm vi sinh vật để phòng trị

Ngoài ra còn có thể lựa chọn sử dụng các chế phẩm men tiêu hóa để hạn chế sự sinh trường, phát triển của các vi khuẩn gây bệnh ở đường ruột, tạo sự cân bằng vi khuẩn để phòng bệnh

Hiện nay, để điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn, nhiều tác giả đã nghiên cứu và cho rằng, cần phải xác định được nguyên nhân gây bệnh, hiểu

rõ cách sinh bệnh và triệu chứng bệnh Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị tiêu chảy do nhiễm khuẩn được nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng: Sử dụng kháng sinh có hiệu quả cần phải xem xét khả năng mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn

2.1.8 Đặc điểm sinh lý lợn con

2.1.8.1 Đặc điểm sinh trưởng phát dục ở lợn con

Đối với lợn con nói riêng và chăn nuôi gia súc non nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo và có khoa học, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khỏe mạnh

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[24]: So với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

Trang 34

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,

lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng, phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho tập ăn sớm

Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14g protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4g protein/1kg khối lượng cơ thể

Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa

là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, tăng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1kg mỡ

2.1.8.2 Đặc điểm phát triển cơ quan tiêu hóa

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Biểu hiện:

Sự phát triển nhanh biểu hiện rõ qua sự phát triển của cơ quan tiêu hóa theo từng giai đoạn phát triển của lợn con

Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh là khoảng 0,03 lít)

Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít)

Trang 35

Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) Sự tăng chiều dài và thể tích ruột có quan hệ đến khả năng tiêu hóa xenluloza khá cao trong thức ăn bổ sung Vì vậy, cho lợn con tập ăn sớm là một biện pháp tốt trong chăn nuôi

Đặc biệt ở lợn con có giai đoạn không có HCl trong dạ dày Giai đoạn này gọi là thích ứng cần thiết tự nhiên, nhờ sự thích ứng này mà cơ thể mới thẩm thấu đưa kháng thể miễn dịch có trong sữa đầu của lợn mẹ

Trong giai đoạn đó dịch vị dạ dày không có hoạt tính phân giải protein

mà chỉ có khả năng làm đông vón sữa, huyết thanh chứa Albumin và Globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu

Tuy nhiên, từ 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn nữa là sự cần thiết cho hoạt động sinh lý bình thường Theo (Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [6] thì việc tập ăn sớm, đặc biệt là cai sữa sớm cho lợn con

đã rút ngắn giai đoạn thiếu HCl, tăng khả năng tạo miễn dịch cho lợn con Vì vậy, trong các thời kỳ nuôi dưỡng lợn con ta cần chú ý: Lợn con sơ sinh giai đoạn (7 - 10) ngày tuổi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ nhất cần cho lợn con

bú sữa đầu vì sữa đầu có nhiều kháng thể, lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn sữa thường Từ 21 ngày tuổi trở đi là giai đoạn khủng hoảng lần thứ 2, là thời kỳ sản lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, để khắc phục tình trạng này cần cho lợn con tập ăn sớm, kích thích tăng lượng enzym, HCl, tạo động lực cho sự phát triển của dạ dày, ruột…

Trong dạ dày, ruột của lợn con mới sinh chưa có vi khuẩn, sau một vài giờ mới thấy vài loài và từ đó bắt đầu sinh sản phát triển Theo con đường tiêu hóa, hàng ngày vẫn có một lượng vi khuẩn vào và sản sinh tại đó Chúng biến đổi đi nhiều nhưng nhìn chung vẫn sống cho đến chết

Ngày đăng: 19/02/2016, 12:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.1. Tình hình phát triển chăn nuôi của trại qua 3 năm - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.1. Tình hình phát triển chăn nuôi của trại qua 3 năm (Trang 42)
Bảng 4.2. Chế độ và khẩu phần ăn của lợn nái (kg/con/ngày) - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.2. Chế độ và khẩu phần ăn của lợn nái (kg/con/ngày) (Trang 45)
Bảng 4.4. Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn trong trại - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.4. Lịch tiêm phòng vaccine cho đàn lợn trong trại (Trang 48)
Bảng 4.5. Kết quả phục vụ sản xuất - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.5. Kết quả phục vụ sản xuất (Trang 53)
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh theo lứa tuổi  Lứa tuổi của - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.7. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh theo lứa tuổi Lứa tuổi của (Trang 55)
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn con nhiễm Hội chứng tiêu chảy theo tính biệt - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.8. Tỷ lệ lợn con nhiễm Hội chứng tiêu chảy theo tính biệt (Trang 57)
Bảng 4.8 cho thấy trong số 295 lợn đực theo dõi có 147 con mắc bệnh chiếm - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.8 cho thấy trong số 295 lợn đực theo dõi có 147 con mắc bệnh chiếm (Trang 57)
Hình 1.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy lợn con qua các tháng - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 1.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy lợn con qua các tháng (Trang 58)
Bảng 4.10. Triệu chứng lâm sàng lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.10. Triệu chứng lâm sàng lợn con mắc Hội chứng tiêu chảy (Trang 60)
Bảng 4.11. Đánh giá hiệu quả phòng hội chứng tiêu chảy - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.11. Đánh giá hiệu quả phòng hội chứng tiêu chảy (Trang 61)
Bảng 4.13. Kết quả điều trị bệnh - Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trại lợn hùng chi xã lương sơn   tp  thái nguyên   tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.13. Kết quả điều trị bệnh (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w