Xuất phát từ những lí do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, cô giáo hướng dẫn Phạm Thị Hiền Lương, cùng với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
SINH TRƯỞNG VÀ KHÁNG BỆNH CỦA LỢN CON GIAI ĐOẠN
THEO MẸ TẠI CÔNG TY CP BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi - Thú y Khoa: Chăn nuôi - Thú y
Khóa học: 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi - Thú y Lớp: K43 - CNTY (NO2)
Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Hiền Lương
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp, đến nay em đã hoàn thành xong khóa luận của mình, em đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Nhà trường và địa phương Qua đây em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới :
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm – Thái nguyên, Khoa Chăn Nuôi Thú
Y, các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi Trường Đại học Nông Lâm – Thái Nguyên
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của TS Phạm Thị Hiền Lương - người đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban lãnh đạo và toàn thể các cán
bộ, công nhân của trang trại lợn Công ty Bình Minh, huyện Mỹ Đức- Hà Nội
Nhân dịp này em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đã động viên, khuyến khích em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Em xin trân trọng gửi tới các thầy cô, các quý vị trong hội đồng chấm khóa luận lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Văn Quân
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong suốt quá trình học tập của mỗi sinh viên Đồng thời, thực tập tốt nghiệp là phần cuối cùng trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là thời gian để mỗi sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học Đồng thời giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, rèn luyện, nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức, tiến hành nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất Thực tập tốt nghiệp cũng là thời gian để mỗi sinh viên tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, trang bị cho bản thân những hiểu biết xã hội, để khi ra trường sẽ trở thành những cán bộ kĩ thuật vừa có trình độ chuyên môn, vừa có năng lực công tác Vì vậy, thực tập tốt nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học
Xuất phát từ những lí do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, cô giáo hướng dẫn Phạm Thị Hiền Lương, cùng với sự tiếp nhận của công ty Cổ phần phát triển Bình
Minh, em đã thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh vào khẩu phần ăn của lợn nái chửa đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con giai đoạn theo mẹ, tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mý Đức, Hà Nội” Do bước
đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, nên khoá luận của em không tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp phê bình của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng bố trí thí nghiệm 18
Bảng 3.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn 19
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31
Bảng 4.2: Khối lượng lợn con qua các kì cân (kg) 32
Bảng 4.3 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm (g/con/ngày) 34
Bảng 4.4 :Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm (%) 35
Bảng 4.5 Tiêu tốn thức ăn tập ăn/ kg tăng KL lợn con (kg) 37
Bảng 4.6 Tiêu tốn NLTĐ và protein tập ăn/kg tăng KL lợn con TN 38
Bảng 4.7 Khả năng phòng và trị bệnh phân trắng ở lợn con TN 39
Bảng 4.8 Khả năng phòng và trị bệnh đường hô hấp ở lợn con TN 40
Bảng 4.9 Chi phí thuốc thú y/ kg tăng KL lợn thí nghiệm (đ) 41
Trang 6
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm 33 Hình 4.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm 35 Hình 4.3: Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm 36
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học: 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn: 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con 3
2.1.2 Hiểu biết về kháng sinh 11
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới 14
2.2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 15
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Đối tượng nghiên cứu 18
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 18
3.3 Nội dung nghiên cứu 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 19
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 22
4.1.1 Công tác chăn nuôi 22
4.1.3 Công tác phòng bệnh 25
4.1.4 Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh 26
Trang 94.2 Kết quả nghiên cứu 31
4.2.1 Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh vào khẩu phần ăn của lợn mẹ đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con theo mẹ 31
4.2.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh cho lợn mẹ đến khả năng chuyển hóa thức ăn của lợn con 37
4.2.3 Ảnh hưởng của kháng sinh đến khả năng kháng bệnh của lợn con thí nghiệm 39
4.2.4 Hiệu quả sử dụng kháng sinh vào khẩu phần ăn của lợn mẹ đến chi phí thuốc thú y/kg KL lợn con 41
PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Tồn tại 43
5.3 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Trang 10mô hình chăn nuôi quy mô lớn như trang trại, ngày càng được phát triển và mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kĩ thuật tiên tiến trên thế giới, áp dụng vào chăn nuôi thực tiễn, tiến tới xây dựng hiệu quả một nền nông nghiệp chất lượng, hiện đại đáp ứng nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng trong nước và trên thế giới
Để tiến tới một nền nông nghiệp chất lượng, hiện đại đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thì hiện nay việc chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản đang được hầu hết các trang trại chăn nuôi lớn nhỏ quan tâm hàng đầu với mục đích sản xuất ra số lợn con cai sữa/nái/năm cao, tạo ra con giống chất lượng, khỏe mạnh có sức đề kháng cao, giảm tỉ lệ còi cọc, tỉ lệ chết ở lợn con và giảm giá thành sản xuất
Trong nhiều năm qua, việc sử dụng kháng sinh như là chất bổ sung trong thức ăn chăn nuôi lợn nái, hạn chế tính nhạy cảm của lợn con đối với một số vi sinh vật có hại như: Salmonella, Eacherichia coli, Clostridium, cũng như kích thích sinh trưởng nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn tăng khả năng hấp thụ thức ăn của lợn con đã thu được một
số kết quả nhất định Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi không hợp lí gây ra sự kháng kháng sinh, tồn dư kháng sinh trong thực phẩm làm ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng
Trang 11Trong thực tế chăn nuôi lợn nái sinh sản hiện nay rất nhiều vấn đề nan dải được đặt ra, tỉ lệ lợn con mắc bệnh nhiều làm tăng tỷ lệ chết, tăng tỷ lệ còi cọc, làm giảm năng suất chăn nuôi lợn nái Xuất phát từ thực tiễn đồng thời để làm rõ hơn vấn đề bổ sung kháng sinh vào khẩu phần ăn của lợn nái ngoại, ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con giai đoạn theo mẹ, chúng
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh vào khẩu phần ăn của lợn nái chửa đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con giai đoạn theo mẹ, tại Công ty CP Bình Minh, huyện Mý Đức, Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài
Xác định được khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con giai đoạn theo mẹ Xác định hiệu quả sử dụng kháng sinh bổ sung vào khẩu phần ăn của lợn nái ngoại phù hợp, nhằm tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản, lợn con theo mẹ
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn:
- Góp phần giảm tỷ lệ lợn con mắc bệnh, còi cọc
- Tăng hiệu quả chăn nuôi lợn con giống ngoại
Trang 12
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.1.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
* Khái niệm về sinh trưởng
Theo Johanson.L (1972) [6] đã đưa ra khái niệm: Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không phải là sinh trưởng (ví dụ như có trường hợp tăng khối lượng chủ yếu là tăng
mỡ và nước chứ không phải sự phát triển của mô cơ), sự sinh trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, chất lượng và các chiều của tế bào mô cơ Ông cho rằng, cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến sự phát triển của con vật
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, ta không thể không đề cập đến quá trình phát dục Đây là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm, hoàn thiện thêm về tính chất, chức năng của các bộ phận cơ thể
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích luỹ mỡ, còn tích luỹ cơ thể xem như ở trạng thái ổn định
* Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con
Lợn con trong gian đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng, phát dục nhanh So với những loài gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con là cao nhất Khối lượng cai sữa của lợn con khi 2 tháng tuổi gấp 12 - 16 lần so với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê nghé chỉ tăng 3 - 5 lần
Trang 13Qua thực tế sản xuất và nghiên cứu của nhiều tác giả đã chứng minh giai đoạn lợn con theo mẹ có khả năng sinh trưởng rất nhanh
Theo Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận (2006) [16], lợn con ở 7 - 10 ngày tuổi đã gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 lần
và đến 60 ngày tuổi gấp 10 - 15 lần khối lượng sơ sinh
Lợn con sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng rất mạnh Lợn con 3 tuần tuổi mỗi ngày tích luỹ được 9 - 14 g protein/kg khối lượng
cơ thể Trong khi lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4 g protein/kg khối lượng
Khả năng miễn dịch của lợn con trong giai đoạn cũng có những đặc điểm đặc biệt Lợn con mới đẻ, trong máu không cóγ - globulin nhưng sau 24 giờ bú sữa đầu, hàm lượngγ - globulin trong máu đạt tới 20,3mg/100ml máu Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể (Trần Cừ, 1972) [1]
* Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn
Vi khuẩn đường ruột đã được Salmole và Smith phân lập năm 1885 từ lợn
mắc bệnh tiêu chảy Đó là vi khuẩn Salmonella spp mà đại diện là Salmonella
cholerasuis Cùng năm đó Escherichia đã phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh đường
ruột Ông đặt tên là Escherichia coli
Hằng ngày đã có một số loài vi khuẩn theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sản ở đây, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều, nhưng căn bản vẫn tồn tại đến khi con vật chết
Trang 14Thành phần, số lượng hệ vi sinh vật đường ruột và dạ dày phụ thuộc vào tuổi, loài, cách nuôi dưỡng, điều kiện vật lý, hóa học của môi trường dạ dày và đường ruột
Hệ VSV bắt buộc gồm: streptococcus, lactic, lactobacterium, acid ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli, trực khuẩn đường ruột
- Hệ vi sinh vật ở khoang miệng:
Ở khoang miệng có sự cảm nhiễm vi sinh vật ở các nguồn trên Trong nước bọt và dịch bài tiết ở niêm mạc có men kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật
- Hệ vi sinh vật ở dạ dày
Trong dạ dày có một lượng HCl rất lớn (0,2%) Acid trong dịch vị dạ dày có tác dụng ức chế nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh vật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt Số lượng vi sinh vật ở dạ dày rất ít
- Hệ vi sinh vật ở ruột non
Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng số lượng vi khuẩn lại rất ít Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn có tác dung diệt khuẩn Trong ruột non chủ yếu
là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào Ở gia súc non có
thêm Streptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium bulgaricum, từ hồi
tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên
- Hệ vi sinh vật ruột già
Số lượng vi sinh vật ở đây tăng hơn nhiều so với ruột non, do tác dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho vi sinh vật
Trong cơ thể vật nuôi đều tồn tại 2 loại vi sinh vật sống song song, một loại có lợi và một loại có hại cho vật nuôi Có loại ban đầu khi cơ thể vật nuôi khỏe mạnh thì vô hại hoặc không gây hại cho vật nuôi nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi thì
chúng lại tăng sinh gây hại cho vật nuôi như vi khuẩn E coli, Salmonella spp
thường xuyên có mặt trong đường tiêu hóa của lợn, khi điều kiện bất lợi cho lợn, sức đề kháng giảm thì các loại vi khuẩn này bùng phát gây bệnh cho lợn
* Một số vi khuẩn gây bệnh trong đường hô hấp của lợn con
- Vi khuẩn Streptococcus
Trang 15Theo Nguyễn Quang Tuyên, (2008) [18] Liên cầu khuẩn là những hình cầu xếp thành chuỗi uốn khúc, uốn khúc dài hay ngắn như chuỗi hạt Liên cầu khuẩn
có ở khắp mọi nơi trong tự nhiên Trong cơ thể động vật liên cầu khuẩn có ở da, niêm mạc, sống hoại sinh ở đường tiêu hóa, hô hấp, xoang âm đạo và một số có khả năng gây bệnh
Ở động vật, liên cầu khuẩn thường gây nên những chứng mưng mủ, những
bệnh biến chứng hay cục bộ Streptococcus gây bệnh viêm não ở lợn cai sữa và lợn
vỗ béo, xảy ra khi chúng được nuôi nhốt chung, có thể gây chết đột ngột, sốt, triệu chứng thần kinh, gây viêm khớp ở lợn con Viêm khí quản phổi do Streptococcus suis làm dung huyết β yếu gây ra
- Vi khuẩn Pasteurella multocida (gây bệnh viêm phổi lợn)
Theo Nguyễn Quang Tuyên, (2008) [18] Pasteurella multocida gây bệnh bại
huyết, xuất huyết cho gia súc, gia cầm thường gọi là bệnh tụ huyết trùng
Pasteurella multocida là một cầu trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng, hay bầu
dục, có kích thước 0,25- 2,4 x 0,4 – 1,5µ, không có lông, không di động, không hình thành nha bào, sính sản bằng cách nhân đôi, khi nhuộm màu bắt màu Gram
âm Trong cơ thể động vật mắc bệnh có hình thành giáp mô, nhưng khi nhuộm màu khó quan sát thấy
Bệnh viêm phổi do Pasteurella multocida gây ra là kết quả của sự lay nhiễm
vi khuẩn vào phổi Bệnh thường thấy ở giai đoạn cuối của bệnh viêm phổi cục bộ hay ở những bệnh ghép ở đường hô hấp của lợn Vi khuẩn thường xuyên cư trú trên đường hô hấp của lợn do vậy thường rất khó tiêu diệt Vi khuẩn Pasteurella
multocida thường kết hợp với những tác nhân khác như vi khuẩn Mycoplasma
hyopneumoniae, làm cho quá trình viêm phổi càng thêm phức tạp
- Vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia (gây suyễn lợn)
Bệnh viêm phổi truyền nhiễm hay còn gọi là bệnh suyễn, là một bệnh truyền
nhiễm ở phổi do Mycoplasma hyopneumonia gây ra
Nguyên nhân gây bệnh:
Theo Phạm Sỹ Lăng và Cs (2007) [8] cho biết: nguyên nhân chính là
Mycoplasma hyopneumonia thuộc nhóm PPLO (Pleuro Pleumonia Like Organism),
Trang 16một loại vi sinh vật ký sinh ngoại bào, là loại vi sinh vật có kích thước lớn hơn virus
và nhỏ hơn vi khuẩn
Bệnh suyễn phát sinh luôn kèm theo những điều kiện như: tiểu khí hậu chuồng nuôi kém, hàm lượng amoniac cao, biên độ nhiệt trong ngày lớn, bụi bặm và các stress trong chăn nuôi, quản lý kém
Mycoplasma hyopneumonia bị vô hoạt trong vòng 48h ở điều kiện khô, nhưng
tồn tại đến 17 ngày ở nước 2 - 7ºC Trong phổi tồn tại 2 tháng ở nhiệt độ -25ºC và
từ 9 – 11 ngày ở nhiệt độ 1 – 6 º C Nó có khả năng phân tán trong không khí với đường kính 3 – 3,5km, do đó dễ lây lan nhất là trong điều kiện thời tiết lạnh và khí hậu ẩm
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, kháng bệnh của lợn con
* Các yếu tố bên trong
Theo Trần Văn Phùng và Cs (2004) [10]: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến, cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn Sự khác nhau này không những khác nhau về cấu trúc tổng thể của
cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: Giống lợn hướng nạc, hướng mỡ
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của gia súc, gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản đều là tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng ở đó có sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường (metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối
Trang 17lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo (Trần Đình Miên 1982) [9]
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên Hormone của thuỳ trước tuyến yên STH (Somatotropin hormone) là loại hormone rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [13]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loại hormone này
sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to (gigantismus)
* Các yếu tố bên ngoài
- Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa, nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn, bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ, mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp, thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường, cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn khác nhau, phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng Một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng, khi nhiệt độ môi trường xuống thấp (dưới 5,5oC) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về vitamin B2 cao hơn rất nhiều khi nhiệt độ môi trường là 29,5oC
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ đó, ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng tiêu tốn thức
Trang 18ăn cho một kg tăng khối lượng Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi béo từ 15 - 18oC, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 11oC Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống
Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%
- Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn, người ta thấy rằng, ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức
ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời
Việc đảm bảo đủ ánh sáng đối với lợn sinh sản gồm cả lợn đực và lợn nái đều
có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với quá trình trao đổi các chất khoáng trong
cơ thể, mà còn đối với các chức năng sinh sản, như biểu hiện động dục, sự phát triển của phôi ở lợn nái, quá trình sinh tinh và các phản xạ nhảy giá của lợn đực Trong chăn nuôi công nghiệp, khi thiết kế chuồng trại cần chú ý đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con và lợn sinh sản
- Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn đã nêu trên, còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như: Không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn
sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng, phát triển đạt mức tối đa
2.1.1.3 Sinh lí tiết sữa của lợn nái
Khả năng tiết sữa là một chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá sức sản suất của lợn
nái, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống cũng như khối lượng cai sữa của lợn con sau này
Trang 19Quy luật tiết sữa của lợn mẹ có đặc điểm là năng suất sữa tăng dần từ lúc mới
đẻ và đạt sản lượng cao nhất vào lúc 21 ngày tuổi, sau đó giảm dần Căn cứ vào đặc điểm này, trong thực tế sản xuất người ta lấy khối lượng lợn con toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ
Qua theo dõi, sản lượng và chất lượng sữa ở các vị trí vú khác nhau cũng không giống nhau Các vú ở phía trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt còn các vú phía sau nhìn chung thấp Theo Trương Lăng (2003) [7]: vú trước lượng sữa tiết ra nhiều hơn Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg sữa thì lợn con bú vú trước được khoảng 36 - 45 kg sữa, vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước sớm hơn, kéo dài hơn nên vú trước nhiều sữa hơn
Trần Văn Thịnh (1982) [15] cho rằng: Thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong hơi vàng và đặc, tiết ra trong 2 - 3 ngày đầu khi đẻ Trong sữa đầu, các thành phần hoá học đều đặc hơn sữa thường như: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 - 18% so với 5 - 6%) Trên 50% protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là γ - globulin Hàm lượng γ - globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, γ - globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh
Theo Từ Quang Hiển và Cs (2001) [5], nhất thiết lợn con sơ sinh cần phải được
bú sữa đầu giúp cho lợn con có sức đề kháng chống bệnh Trong sữa đầu có albumin và globulin cao hơn sữa thường, đây là các chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Vì thế cần cho lợn con bú sữa trong ba ngày đầu, đảm bảo toàn bộ số con trong
ổ được bú hết lượng sữa đầu của lợn mẹ
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ giảm rõ rệt sau 3 tuần tiết sữa nuôi con Đồng thời, hàm lượng các chất khoáng đặc biệt là sắt và canxi còn rất ít, không đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Lúc này mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp sữa của lợn
mẹ và nhu cầu dinh dưỡng của lợn con nảy sinh Đó cũng là lúc ta cần bổ sung thức ăn sớm cho lợn con (Từ Quang Hiển và Cs 2001) [5]
Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho lợn con cai sữa sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày thứ 28, hoặc ngày thứ 42… tuỳ theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và Cs 1996) [14]
Trang 20Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng… Vì vậy, trong giai đoạn lợn mẹ nuôi con thì thức ăn cho lợn mẹ cần
đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc lợn mẹ ăn với khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng không ngừng nâng cao sản lượng sữa mà còn giảm tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ
2.1.2 Hiểu biết về kháng sinh
2.1.2.1 Hiểu biết chung về kháng sinh
•Phân loại:
* Phân loại dựa trên cơ chế tác động gồm:
+ Ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: do tác động lên quá trình trình tổng hợp vách nên làm cho vi khuẩn dễ bị đại thực bào, phá vỡ do thay đổi áp suất thẩm thấu
+ Ức chế tổng hợp protein vi khuẩn: làm cho quá trình sinh mã hóa không chính xác, ngăn cản việc gắn các acid amin vào chuối polypeptid
+ Ức chế tổng hợp acid nhân vi khuẩn: ngăn cản quá trình sao mã, ngăn cản quá trình nhân đôi của AND, ngăn cản ức chế quá trình tạo acid nucleic
+ Ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn
+ Làm thay đổi tính thấm của màng tế bào
* Phân loại dựa theo cấu trúc hóa học gồm:
+ Nhóm Beta lactam
+ Nhóm Aminoglycosid
+ Nhóm Macrolid
+ Nhóm Phenicol
Trang 21+ Theo dõi hiệu quả trị liệu, phối hợp kháng sinh
2.1.2.2 Hiểu biết về kháng sinh Nova - amoxxicol
Kháng sinh Nova - Amoxycol là kháng sinh kết hợp phổ rộng sản xuất tại công ty liên doanh TNHH Anova
* Thành phần : gồm amoxicillin và colistin
+ Amoxicilin :
Là một loại Penicilin, bền trong môi trường acid, có tác dụng phổ rộng, đặc biệt có tác dụng chống trực khuẩn Gram âm(-), ức ché sự nhân lên của vi khuẩn Tương tự như các penicilin khác, có tác dụng diệt khuẩn, do ức chế sinh tổng hợp mucopepcid của thành tế bào vi khuẩn In vitro, amoxicilin có hoạt tính vơi hầu hết các vi khuẩn Gram âm và Gram dương như :liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn không tạo penicilase, H.influenzae, diplococus pneumoniae Amoxicilin không có hoạt tính với vi khuẩn tiết penicilinase, đặc biệt với các tụ cầu kháng menicilin Phổ tác dụng
sẽ rộng hơn khi dùng đồng thời với subactam và acid claulanic một chất ức chế Beta-lactamase
Amoxicilin bền vững trong môi trường acid dịch vị Hấp thu không bị ảnh hưởng của thức ăn, nhanh và hoàn toàn hơn qua đường tiêu hóa so với ampicilin Khi cơ thể tiếp nhận amoxicilin, phân bố nhanh vào hầu hết các mô và dịch trong cơ thể, trừ mô não và dịch não tủy, nhưng khi mô não bị viêm thì amoxicilin lại khuếch tán vào dễ dàng
Trang 22Chỉ định với các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới do liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn không tiết penicilinase và H.influenzae, nhiễm khuẩn đường mật, nhiễm khuẩn da…
+ Colistin
Là thuốc kháng sinh nhóm polymyxin, thường dùng để điều trị những trường
hợp nhiếm khuẩn nặng di vi khuẩn Gram âm, đặc biệt là nhiễm Pseudomonas
aeruginosa Phổ kháng khuẩn và cơ chế của Colisin cũng như Polymicin B, nhưng
colistin sulface thì có tác dụng hơi kém hơn, còn colistin sulformethat thì có tác dụng yếu hơn nhiều polymycin
Colistin tác dụng tại phổi chỉ giới hạn ở các vi khuẩn Gram âm : Pseudomonas
aeruginosa, E.coli, klebsiella, enterobacter, salmonella, sigella…chưa thấy nói đến
vi khuẩn trở nên kháng thuốc theo cơ chế di truyền qua trung gian plasmid
Colistin được hấp thu qua đường tiêu hóa và không được hấp thu qua da lành Sau khi uống hay được truyền từ sữa mẹ với lợn con theo mẹ thì thuốc đào thải qua phân dưới dạng không đổi
Colistin sulformethat đào thải chủ yếu ở cầu thận dưới dạng không đổi hoặc dạng chuyển hóa
Nova - amoxicol là kháng sinh kết hợp, phổ rộng Thuốc có tác dụng chống các bệnh nhiễm khuẩn chung và các bệnh gây ra do vi khuẩn Gram (-), Gram (+), sprirochele…
Sự kết hợp Amoxicillin và Colistin là một nghiên cứu khoa học đem lại hiệu quả cao trong phòng trị bệnh, thuốc có phổ kháng khuẩn rộng
* Cách sử dụng
Bổ sung vào thức ăn của lợn nái, tác động lên lợn con qua việc bú sữa mẹ Đây là các hợp chất có tác dụng hạn chế hoặc ngăn chặn vi khuẩn phát triển Bao gồm các kháng sinh (các chất nấm men, mốc và các vi sinh vật khác tạo ra một cách
tự nhiên), các hóa chất trị liệu, các chất được tổng hợp bằng phương pháp hóa học Chúng được bổ sung vào thức ăn với hàm lượng thấp, dưới liều điều trị để kích thích sinh trưởng, tăng cường hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm tỷ lệ chết và còi cọc, tăng khả năng sinh sản Các chất kháng khuẩn cũng được dùng từ liều trung bình tới
Trang 23liều cao để ngăn ngừa lợn có mang mầm bệnh và để trị bệnh của lợn Hiện tại có 17 loại kháng khuẩn đã được chấp nhận dùng cho thức ăn của lợn Trong đó có 8 loại phải ngừng dùng trước khi giết mổ 5 – 70 ngày, 9 loại không cần thời gian thải thuốc
* Công dụng
Có tác dụng trị các bệnh gây ra bởi các loại vi khuẩn nhạy cảm với Amoxicilin
và Colistin như :
+ Đối với lợn: các bệnh như teo mũi, viêm phổi gây ra do vi khuẩn
actinobacillus pleunopneumoniae và Pasteurella multocida, viêm phổi địa phương
gây ra bởi vi khuẩn Mycoplasma hyopneumonia, bệnh do Salmonea, E.coli gây ra + Đối gia cầm: Trị bệnh Salmonellosis, Colibacillosi
+ Đối vơi Trâu, bò: Trị bệnh viêm phổi, các bệnh do Salmonea, E.coli gây ra
•Liều dùng sử dụng trong vòng 3-5 ngày với liều như sau: 0,5-1g/20kg TT
•Bảo quản: ở nơi có nhiệt độ khô và thoáng
•Cảnh báo: Thời gian ngừng sử dụng thuốc trước khi giết mổ: Lợn 15 ngày, Gia cầm: 5 ngày, Trâu bò: 20 ngày, không dùng cho động vật mẫn cảm với Penicillin
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới
2.2.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các kháng sinh là một nhóm thuốc nhờ các thuốc kháng sinh mà y học có thể loại bỏ được các dịch bệnh như dịch tả, thương hàn và nhiều loại bệnh gây ra bởi các vi khuẩn Đối với các nước nghèo kháng sinh có vị trí rất quan trọng, vì ở các nước này do điều kiện vệ sinh còn yếu kém, mức sống còn thấp nên thường xảy ra các dịch ỉa chảy, kiết lỵ, hô hấp…
Hiện nay trên thế giới đã phát hiện gần 8000 chất kháng sinh và khoảng vài trăm chất kháng sinh mới được phát hiện Trong tương lai sẽ có nhiều kháng sinh nữa chắc chắn sẽ được tìm ra, vì đa số các vi sinh vật có khả năng tạo thành chất
kháng sinh đã được nghiên cứu cho tới nay đều chỉ thuộc Streptomyses và Bacillus
Các chất bổ sung không dinh dưỡng thường được đưa vào khẩu phần của lợn Trong đó các tác nhân kháng khuẩn là được sử dụng nhiều nhất Tác nhân kháng khuẩn cùng với các thuốc tẩy ký sinh trùng được Cơ quan Quản lý thực phẩm và
Trang 24thuốc (FDA) coi là thuốc Hướng dẫn mức sử dụng, sự kết hợp và thời gian cho giết
mổ, được FDA quy định và xuất bản hàng năm
Theo Hays, (1978) [20]; Zimmerman, (1986) [23] và Cromwell, (1991) [19]
đã nghiên cứu tác dụng của các chất kháng khuẩn làm tăng năng suất và hiệu quả ở lợn đã được công bố trên nhiều tài liệu Tóm tắt từ 1194 thí nghiệm trên 32555 con lợn cho thấy tác dụng của chất kháng khuẩn làm tăng tốc độ sinh trưởng 16,4% đối với lợn sau cai sữa (7 – 25kg), 10% đối với lợn choai (17 – 49kg) 4,25 đối với lợn
vỗ béo (64 – 89kg)
Theo Madox, (1985) [21] đã tóm tắt trong 67 thí nghiệm ở lợn con khi bổ
sung kháng khuẩn tỷ lệ chết giảm một nửa (4,3% so với 2%), ngay cả khi bệnh nặng
lợn con cũng chết ít hơn (15,6% so với 3,1%)
Theo Cromwell, (1991) [19] cho biết chất kháng khuẩn cũng có tác dụng trong việc cải thiện năng suất sinh sản Tóm tắt 9 thí nghiệm (1931 nái) thấy tỷ lệ đẻ tăng từ 75,4% ở lô đối chứng lên 82,15% ở lô thí nghiệm số con đẻ ra sống tang từ
10 lên 10,4 con khi bổ sung kháng khuẩn Trong 11 thí nghiệm (2105 nái) có dùng chất kháng khuẩn trong khẩu phần ăn lúc nuôi con, tỷ lệ sống đến lúc cai sữa tăng
(84,9% so với 87,1% sơ sinh sống) và trọng lượng cai sữa cũng tăng
Theo Smith, (1969) [22] cho biết vi khuẩn ở động vật không tấn công một cách hiệu quả ở người, nếu không dùng các liều cực lớn và mặc dù vậy chúng cũng chỉ có hiệu lực thoảng qua
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong chăn nuôi, kháng sinh được dùng để chữa bệnh và cũng được dùng như một chất kích thích tăng trưởng theo con đường bổ sung vào thức ăn Kháng sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi có tác dụng ức chế và loại bỏ sự hoạt động của vi khuẩn bệnh, đặc biệt vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa và hô hấp trên động vật non, nhờ vậy làm cho chúng khỏe mạnh, tăng trưởng tốt (cải thiện 4-16% tốc độ tăng trưởng
và 2-7% hiệu suất lợi dụng thức ăn), sử dụng kháng sinh cho lợn hay gia cầm trong
Trang 25những giai đoạn dễ bị stress như cai sữa, chuyển đàn, chuyển mùa rất hiệu quả (Vũ Duy Giảng, 2009) [3]
Kháng sinh là một nhóm thuốc được sử dụng trước hết để chữa những bệnh do
vi khuẩn gây ra Thuốc có tác dụng diệt trực tiếp vi khuẩn hoặc làm chậm lại sự phát triển của vi khuẩn để tạo điều kiện cho hệ miễn dịch của cơ thể gia súc, gia cầm, giải quyết tình trạng nhiễm khuẩn
Kháng sinh được phân làm nhiều nhóm như nhóm penicillin, cephalosporin, tetracyclin, quinolon Mỗi nhóm có một số kháng sinh khác nhau Những kháng sinh thường được sử dụng hiện nay: penicillin, amoxycillin, ampicillin, cephalosporin, erythromicin, tetracylin, doxycyclin, ciprofloxacin, chloramphenicol Dùng kháng sinh phải dùng đủ liều, đủ thời gian có tác dụng và theo dõi tác dụng của kháng sinh đối với nhiễm khuẩn, như vậy mới có kết quả chắc chắn, tác dụng phụ của kháng sinh thông thường cũng được giảm nhẹ Một số tác dụng phụ hay gặp là tiêu chảy vì kháng sinh có thể làm thay đổi cân bằng giữa vi khuẩn bình thường
Theo Lê Thị Tài (1996) [12], sử dụng biseptol và biosubtyl kết hợp chloramphenicol trong điều trị loạn khuẩn đường ruột ở lợn con và chó con đã thu được kết quả tốt Trên lợn con sau cai sữa, tỷ lệ khỏi bệnh khi dùng thuốc là: biseptol 80%, chloramphenicol 70%, biosubtyl 68%, Biseptol + biosubtyl 98% và chloramphenicol + biosubtyl là 95% và chloramphenicol 80%
Theo Đào Trọng Đạt và Cs (1955) [2], hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của lợn con có vai trò nâng cao khả năng sử dụng thức ăn, đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn Sự phát triển mạnh của vi khuẩn sinh acid và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học, đòng thời ức chế các vi khuẩn gây thối là một quá trình
có lợi cho cơ thể
Theo Đào Trọng Đạt và Cs (1995) [2] trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ sinh vật luôn ổn định đảm bảo sự cân bằng cho hệ tiêu hóa Nếu sự cân bằng này bị phá
vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây
Trang 26tiêu chảy (nhất là lợn con theo mẹ) loại vi khuẩn thường gặp là E.coli và
Salmonella
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1990) [11] đã nghiên cứu số lượng vi sinh vật ở đây tăng hơn nhiều so với ruột non do tác dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho vi sinh vật
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
entrococcus Ngoài ra, có vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn brucella, uốn ván
Theo Nguyễn Quang Tuyên, (2008) [18] Liên cầu khuẩn là những hình cầu xếp thành chuỗi uốn khúc, uốn khúc dài hay ngắn như chuỗi hạt Liên cầu khuẩn
có ở khắp mọi nơi trong tự nhiên Trong cơ thể động vật liên cầu khuẩn có ở da, niêm mạc, sống hoại sinh ở đường tiêu hóa, hô hấp, xoang âm đạo và một số có khả năng gây bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và Cs (2007) [8] cho biết: nguyên nhân chính gây bệnh
suyễn lợn là Mycoplasma hyopneumonia thuộc nhóm PPLO (Pleuro Pleumonia
Like Organism), một loại vi sinh vật ký sinh ngoại bào, là loại vi sinh vật có kích thước lớn hơn virus và nhỏ hơn vi khuẩn
Trang 27PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu :
+ Lợn nái ngoại chửa kì 2
+ Lợn con giai đoạn theo mẹ
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Trại lợn Công ty Bình Minh, huyện Mỹ Đức- Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: 08/12/2014 – 24/05/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh vào khẩu phần ăn của lợn mẹ
đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con theo mẹ
- Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh cho lợn mẹ đến khả năng chuyển hóa thức ăn của lợn con
- Ảnh hưởng của kháng sinh đến khả năng kháng bệnh của lợn con thí nghiệm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Dùng phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo nguyên tắc đồng đều:
Bảng 3.1 Bảng bố trí thí nghiệm
1 Số lợn nái theo dõi Con 3 3
4 Khối lượng Kg 280 - 300 280 - 300
5 Số lợn con theo mẹ con 30 30
6 Công thức lai CP909 x Pidu71
6 Nhân tố TN KPCS KPCS + Nova - Amoxicol
7 Liều lượng 0 1g/20kg KL/ngày
8 Thời gian sử dụng 15 ngày trước khi đẻ
Trang 28- Kháng sinh trộn vào thức ăn cho lợn nái ở lô thí nghiệm, một ngày cho ăn 2 bữa
- Cân khối lượng lợn con ở các thời điểm : sơ sinh, 7, 14 và 21 ngày tuổi vào buổi sáng trước khi cho lợn ăn, cùng một loại cân, một người cân
- Cùng điều trị một loại thuốc khi lợn mắc bệnh
- Đảm bảo đồng đều về giống, về lứa đẻ, thời gian đẻ (chênh lệch từ 1-3 ngày), cùng điều kiện chăm sóc
- Thức ăn cho lợn nái thí nghiệm là thức ăn hỗn hợp dạng viên loại 567SF của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam
+ Lợn mẹ lô đối chứng được ăn 4 kg/con/ngày chia làm 2 bữa sáng và chiều + Lợn mẹ lô thí nghiệm được ăn 4 kg/con/ngày + 15g kháng sinh Nova - amoxicol chia làm 2 bữa sáng và chiều
+ Lợn con tập ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh dạng viên loại 550SF của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, chia làm nhiều bữa nhỏ
Bảng 3.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn Loại thức ăn
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
- Cân lợn con các thời điểm: SS, 7, 14, 21ngày tuổi
- Cân buổi sáng, trước khi cho ăn, cùng một người cân và sử dụng một loại cân
- Ghi chép lượng thức ăn sử dụng hàng ngày
- Theo dõi thường xuyên tình hình sức khỏe đàn lợn thí nghiệm
* Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định:
Trang 29Khả năng sinh trưởng của lợn con thí nghiệm
- Sinh trưởng tích lũy: Khối lượng TB của lợn qua các kỳ cân (kg)
- Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
Khả năng chuyển hóa thức ăn
- Tiêu tốn thức ăn tập ăn/ kg tăng khối lượnG
Khả năng kháng bệnh của lợn con thí nghiệm
- Thời gian an toàn TB (ngày)
Thời gian an toàn TB (ngày) =
Σ thời gian an toàn từng con (ngày)
Σ số lợn theo dõi (con)