Tư tưởng xây dựng đảng trong tác phẩm di chúc di chúc chủ tịch hồ chí minh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
- -TƯ - -TƯỞNG XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG TÁC PHẨM DI CHÚC
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
(Tiểu luận)
GVHD: PGS.TS Lê Trọng Ân
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2015
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp của đề tài 3
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 3
8 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÁC PHẨM DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 4
1.1 Hoàn cảnh và quá trình viết Di chúc 4
1.2 Kết cấu Di chúc 5
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG DI CHÚC 7
2.1 Tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng 7
2.2.Mục tiêu của xây dựng Đảng 8
2.3.Về biện pháp xây dựng Đảng 9
2.3.1.Đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Đảng 9
2.3.2.Thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình 10
2.3.3.Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng 12
2.3.4.Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng lý luận tiên phong của Đảng Cộng Sản Việt Nam 14
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng Sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo, là đội tiên phong dũng cảm, là bộ tham mưu sáng suốt, là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh gắn với sự nghiệp và vận mệnh của Đảng và của cả dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh dân tộc ta đã đánh bại hai đế quốc to lớn, bộ mặt đất nước, xã hội và con người đều đổi mới Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng: “Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta có quyền tự hào rằng Đảng ta thật vĩ đại, lịch sử đấu tranh của Đảng ta là cả một kho lịch sử bằng vàng” Tuy nhiên, Đảng có lãnh đạo nhân dân thực hiện cách mạng thành công hay không phần lớn phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực lãnh đạo của Đảng có “trong sạch, vững mạnh”, có “đạo đức, văn minh” hay không Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI): Một số vấn đề cấp bách xây dựng Đảng hiện nay đã chỉ rõ: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa
vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc….” Đây là sự xuống cấp nghiêm trọng về phẩm chất, năng lực, làm giảm sút uy tín của người cán bộ, đảng viên Chính vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh soi đường cho Đảng ta trưởng thành, đồng thời có ý nghĩa quyết định đến việc bảo vệ chế độ chính trị, đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” của đất nước Hơn nữa, nó còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
Với những cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy, tôi đã nghiên cứu tác phẩm
“Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” cùng việc tìm hiểu các tài liệu tham khảo,
Trang 4tôi quyết định chọn “Tư tưởng xây dựng Đảng trong tác phẩm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Có nhiều công trình, bài viết về “ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” ở nhiều khía cạnh khác nhau Tôi chỉ chọn một số bài viết có liên quan đến đề tài như sau:
Một là, “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Một văn kiện lịch sử” của Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia, cuốn sách đề cập đến quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc, một số văn kiện của Đảng và Nhà nước ta thực hiện Di chúc của Người Ngoài ra, một nội dung quan trọng khác của cuốn sách là các bài viết về các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành nghiên cứu về Di chúc như một văn kiện lịch sử vô giá, cũng như quá trình toàn Đảng, toàn dân thực hiện di chúc trong 40 năm qua, bao gồm các bài viết khác như: “35 năm thực hiện di chúc của Bác Hồ” của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh;
“Chúng ta khẳng định quyết tâm không gì lay chuyển nổi của toàn Đảng, toàn dân tiếp tục thực hiện con đường cách mạng vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và dân tộc ta đã chọn” của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh,…
Hai là: “Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng” của PGS.TS Nguyễn Văn Giang, Viện xây dựng Đảng Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đã trình bày 5 nội dung cơ bản rút ra từ Di chúc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về công tác xây dụng Đảng
Ba là, “Giới thiệu những tư liệu về Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Th.S Nguyễn Xuân Tùng Bài viết này đề cập đến các vấn đề liên quan đến việc Chủ tịch Hồ Chí Minh khi viết Di chúc
3 Mục đích và nhiệm vụ
*Mục đích: Giới thiệu và phân tích nội dung tư tưởng về xây dựng đảng trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
*Nhiệm vụ:
-Làm rõ hoàn cảnh viết Di chúc và những nội dung cơ bản về xây dựng đảng trong Di chúc
Trang 5-Từ đó đánh giá ý nghĩa đối với việc xây dựng Đảng hiện nay.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng: tư tưởng xây dựng Đảng trong tác phẩm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
*Phạm vi nghiên cứu: bài tiểu luận giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau: những tư tưởng về xây dựng Đảng trong tác phẩm
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
*Bài tiểu luận thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ Nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
*Phương pháp nghiên cứu: thống nhất lịch sử với logic, phân tích với tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh đối chiếu văn bản…
6 Đóng góp của đề tài
Bài tiểu luận mong muốn đem lại những tri thức về tư tưởng xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
*Ý nghĩa lý luận: đề tài cung cấp một cách hệ thống bao quát nội dung tư tưởng về xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc
*Ý nghĩa thực tiễn: dùng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về tư tưởng Chí Minh nói chung và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng
8 Kết cấu của đề tài
Tác phẩm ngoài phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, bài tiểu luận có 2 chương,5 tiết Trong đó:
Chương 1: Khái quát tác phẩm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chương 2: Nội dung tư tưởng xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc
Trang 6CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÁC PHẨM DI CHÚC CỦA
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 1.1 Hoàn cảnh và quá trình viết Di chúc.
Nhân dịp sinh nhật lần thứ 75 của mình, vào lúc 9 giờ sáng ngày 10/5/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc Đến ngày 15/5, bản Di chúc đầu tiên này hoàn thành, dài gần 3 trang, do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh máy, có chữ ký của Người và chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn - lúc đó là Bí Thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Từ ngày 10/5/1965 đến lúc kết thúc viết Di chúc ngày 10/5/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung và viết lại Năm 1966 và 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có bản viết riêng, chỉ có hai bản bổ sung vào Di chúc năm 1965 Năm 1968, Người viết bổ sung một đoạn gồm 06 trang viết tay, ngày 10/05/1969 iết lại toàn bộ phần mở đầu Di chúc, gồm 01 trang viết tay
Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên được công bố trong Lễ tang của Người tháng 9/1969, gồm 4 trang in khổ 14,5 x 22 cm Ngày 19/8/1989, Bộ Chính trị ra Thông báo số 151 – TB/TW Về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định Di chúc công bố chính thức năm 1969 đảm bảo trung thành với bản gốc của Người Nội dung chủ yếu dựa theo bản Bác viết năm 1965, trong đó đoạn mở đầu là của bản viết năm 1969, đoạn về việc riêng là của bản viết năm 1968 Lúc đầu, vì những lý do nhất định, nên một số vấn đề trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa được công bố, như: Việc căn dặn của Người về hỏa táng thi hài; việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước thắng lợi; miễn giảm thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp… Trong dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VI) đã quyết định công bố toàn bộ các bản viết Di chúc của Người
Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta ở vào giai đoạn ác liệt, song đang trên đà thắng lợi, đòi hỏi sự đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu bền bỉ của toàn
Trang 7Đảng, toàn dân, toàn dân hai miền Nam – Bắc với niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng Đế quốc Mỹ sau thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chúng ta tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, đồng thời leo thang “Chiến tranh phá hoại” miền Bắc lần thứ nhất; Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III tháng /1965 đã hạ quyết tâm chiến thắng giặc Mỹ xâm lược Sau khi đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô
1965-1966 và 1965-1966-1967, chúng ta mở cuộc Tổng tiến công, nổi dậy Tết Mậu Thân
1968, buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pari
Vào thời điểm này, mặc dù trí tuệ còn minh mẫn, tinh thần còn sáng suốt nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh tự cảm nhận sức khỏe của mình đã có phần giảm sút so với những năm trước, khó đoán biết còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa
1.2 Kết cấu Di chúc.
Phần mở đầu: lấy nguyên văn toàn bộ đoạn mở đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1969, thay cho đoạn mở đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm
1965 Bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoạn này đã được chụp lại và công
bố đầy đủ năm 1969 Khẳng định chắc chắn sự thắng lợi hoàn toàn của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ dù phải gian khổ, mất mát nhiều
Phần thân: đoạn về Đảng đến hết đoạn nói về phong trào cộng sản thế giới
là nguyên văn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1965 Đoạn nói về Đảng trong Di chúc không dài nhưng thể hiện một cách cô động nhất tư tưởng của Người với
tư cách một lãnh tụ Nội dung chính:
-Các đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình
-Trong Đảng Cộng Sản Việt Nam phải thực hành dân chủ rộng rãi
-Thường xuyên và nghiêm chính tự phê bình và phê bình
-Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam phải cần kiệm liêm chính, chí công
vô tư
Trang 8Đoạn về việc riêng năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò về việc tang
và viết về hỏa táng, dặn để lại một phần tro xương cho miền Nam; năm 1968, Bác viết lại đoạn này, dặn để tro vào ba hộp sành, cho Bắc – Trung – Nam, mỗi miền một hộp Ngoài ra, còn viết bổ sung một đoạn nói về cuộc đời bản thân như sau:
“Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phụ
vụ nhân dân Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”
Phần cuối: Kết thúc bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cuối cùng tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng…… góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” là nguyên văn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1965 Về
Trang 9đoạn này, năm 1968 và 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh không sửa lại hoặc viết thêm
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG DI CHÚC
2.1 Tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng.
Đảng Cộng Sản Việt Nam đang là đảng cầm quyền, thì mọi việc của dân, của nước, mọi thành công, thất bại đều phụ thuộc trực tiếp vào phẩm chất và năng lực của Đảng Chính vì vậy, công tác xây dựng Đảng bao giờ cũng có vị trí
ưu tiên đặc biệt Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trước hết nói về Đảng”, dành nhiều tâm sức để dặn dò cho đồng chí, đồng bào như vậy Tại Hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ 6 (18/1/1949) sau khi nêu lên một số vấn
đề cần làm trên lĩnh vực quận sự, kinh tế, chấn chỉnh bộ máy chính quyền, chỉnh đốn các đồn thể quần chúng, cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói kỹ về ý nghĩa
có tính chất quyết định của công tác chỉnh đốn Đảng: “Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy đó mà làm Đảng được ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng”1
Đảng ta đã lãnh đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác bằng trí tuệ, bản lĩnh và nghị lực, bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thân thiết cho nhân dân, cho đất nước, bằng sự hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên, bằng một tổ chức mạnh mẽ, đoàn kết và mối liên hệ máu thịt với nhân dân Tuy nhiên,chúng ta ngày càng phải đối mặt với không ít nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo, sự tồn vong của Đảng, của chế độ Do
đó, tăng cường công tác xây dựng Đảng là yêu cầu bức thiết của thực tiễn tiến trình xây dựng và bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước Công tác xây dựng Đảng thời gian ua đã bọc lộ một số hạn chế, nhận thức về tầm quan trọng của việc tăng cường công tác xây dựng đảng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân chưa đầy đủ, dẫn đến thiếu quan tâm và thiếu nhiệt huyết trong cụ thể hóa
1 1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđđ, t.5, tr551-552
Trang 10thành hành động Công tác xây dựng Đảng ở một số nơi còn né tránh, nặng bệnh thành tích, chưa thực sự chú trọng đến nâng cao chất lượng và phát triển Đảng
về chiều sâu Do đó, công tác xây dựng Đảng vô cùng quan trọng và cấp thiết
2.2 Mục tiêu của xây dựng Đảng.
Xây dựng Đảng là nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất, có đạo đức, có trí tuệ, có năng lực Có thể xem đó là mục tiêu trực tiếp của công tác xây dựng Đảng Nhưng xây dựng Đảng còn nhằm một mục tiêu xa hơn, có tính chất quyết định hơn, tức là làm cho Đảng “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, “một lòng một
dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu trong Di chúc Đảng không có mục đích tự thân, mà vì cách mạng,
vì nhân dân, vì Tổ quốc Sức mạnh của Đảng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng chỉ có được khi Đảng phục vụ tốt cho nhân dân, cho Tổ quốc; đoàn kết, tổ chức, lãnh đạo nhân dân giành được độc lập, thống nhất đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo và người đầy tớ trung thành của nhân dân, luôn hướng mọi suy nghĩ, hành động vào việc phục vụ nhân dân Trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã viết: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì ”
Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ thống trị của Pháp, Nhật
“Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm
Việc gì hại đến dân, ta hết sức tránh”2
Mối quan hệ giữa dân và chính quyền, giữa dân và Đảng được Chủ tịch
Hồ Chí Minh quan niệm rõ ràng, nhất quán xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Tuy nhiên, không phải cán bộ, đảng viên nào cũng ý thức
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.56-57