Trên cơ sởđường lối, chính sách của Đảng, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp ngày 28 - 11 - 2013 từ đây, viết gọn là “Hiến pháp năm 2013”, trong đó quyđịnh về chính quyền địa phương tại Chư
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra nhiệm vụ
"Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân" [17, tr 72], đồng thời, khẳng định "Tiếp tục đổi mới
tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương Nâng cao chất lượng hoạtđộng của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền
tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiệnnhững chính sách trong phạm vi được phân cấp" [17, tr 251] Trên cơ sởđường lối, chính sách của Đảng, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp ngày
28 - 11 - 2013 (từ đây, viết gọn là “Hiến pháp năm 2013”), trong đó quyđịnh về chính quyền địa phương tại Chương 9, gồm 7 điều (Điều 110 -Điều 116) và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 - 6 - 2015(từ đây, viết gọn là “Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015”).Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân,
vì dân đang đòi hỏi phải cải cách, đổi mới toàn diện bộ máy nhà nướcnói chung, chính quyền địa phương nói riêng, trong đó có đổi mới tổchức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh
Hội đồng nhân dân tỉnh giữ vị trí quan trọng và có vai trò ngày càng tolớn trong bộ máy nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vìdân nói chung, chính quyền địa phương nói riêng Tuy nhiên, do nhiềunguyên nhân, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh hiện nayvẫn còn những hạn chế nhất định, làm cho bộ máy của nó cồng kềnh,hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả và mang tính hình thức
Trong bối cảnh chúng ta đang tổ chức thi hành Hiến pháp năm 2013
và sắp tới tổ chức thực hiện Luật tổ chức chính quyền địa phương năm
Trang 22015 (kể từ ngày 1 - 1 - 2016) và trước yêu cầu xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân thì Hội đồng nhân dântỉnh cần được tổ chức và hoạt động như thế nào? Đây là câu hỏi chưa cólời giải đáp đầy đủ Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chínhsách, pháp luật về đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dântỉnh, nhưng việc thực hiện đổi mới đó vẫn còn diễn ra chậm chạp và đạthiệu quả thấp; hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnhvẫn chưa được phát huy Một trong những nguyên nhân của tình trạng
đó là do việc thực hiện đổi mới ấy còn thiếu những căn cứ lý luận vàthực tiễn Bên cạnh đó, cho đến nay, việc nghiên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn về nội dung và cách thức thực hiện đổi mới tổ chức vàhoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựngthành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân cònchưa được triển khai một cách sâu rộng và có tổ chức, cho nên còn thiếuvắng những công trình có giá trị khoa học cao về vấn đề này
Trước tình hình trên, Nghiên cứu sinh đã chọn chủ đề "Đổi mới tổ
chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân" làm đề
tài luận án tiến sĩ luật học của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài Luận án là tổ chức và hoạtđộng của Hội đồng nhân dân tỉnh ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, đây
là một vấn đề rất lớn và phức tạp, cho nên, trong Luận án này, tác giả chỉ
có thể giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới tổchức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầuxây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Trang 3Mục tiêu nghiên cứu đề tài là đề xuất được các quan điểm khoa học,phương hướng và giải pháp khả thi nhằm tiếp tục đổi mới tổ chức vàhoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân trong bối cảnh hiệnnay ở nước ta.
Nhằm đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả Luận án thực hiện ba nhiệm
vụ chủ yếu sau đây:
Một là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận về đổi mới tổ chức và hoạt động
của Hội đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân
Hai là, đánh giá thực trạng đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội
đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam của dân, do dân, vì dân trên các phương diện ưu điểm, nhượcđiểm và phân tích làm rõ nguyên nhân của ưu, nhược điểm đó
Ba là, đề xuất những quan điểm khoa học, phương hướng, giải pháp
tiếp tục thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dântỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân,
Trang 4giả sử dụng phương pháp chủ yếu này trong Chương 1, Chương 2 vàChương 4 Đồng thời, tác giả phân tích việc đổi mới tổ chức và hoạt độngcủa Hội đồng nhân dân tỉnh gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thểcủa đất nước trong mỗi thời kỳ một cách khách quan, phương pháp nàytác giả sử dụng chủ yếu tại Chương 3 của Luận án.
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác đểthực hiện Luận án như phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh, thốngkê,…
5 Những đóng góp mới của Luận án
Lần đầu tiên luận án đã phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềđổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm đáp ứngyêu cầu xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân,
do dân, vì dân; đánh giá thực trạng tiến hành đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Hội đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng thành côngNhà nước pháp quyền Việt Nam thời gian qua, nhằm chỉ ra ưu điểm,nhược điểm và phân tích làm rõ nguyên nhân của ưu, nhược điểm đó; đềxuất những quan điểm, phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới tổchức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầuxây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân,
vì dân ở nước ta…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
Về mặt lý luận, luận án sẽ góp phần xứng đáng vào việc làm sáng tỏnhiều vấn đề quan trọng mà cho tới nay, hoặc chỉ được đề cập phần nào,hoặc chưa hề được đề cập trong các công trình nghiên cứu như vị trí, vaitrò của Hội đồng nhân dân tỉnh trong Nhà nước pháp quyền Việt Namcủa dân, do dân, vì dân; những yêu cầu về tổ chức và hoạt động của Hộiđồng nhân dân tỉnh phù hợp với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân; khái niệm, mục tiêu, nguyêntắc, nội dung đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh;
Trang 5các nhân tố ảnh hưởng việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồngnhân dân tỉnh nhằm xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền ViệtNam của dân, do dân, vì dân ở nước ta.
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở đánh giá một cách khoa học, khách quanthực trạng đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh đápứng yêu cầu xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam củadân, do dân, vì dân, luận án đưa ra được những quan điểm, phươnghướng, giải pháp khả thi nhằm tiếp tục tiến hành đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Hội đồng nhân dân tỉnh có hiệu quả đáp ứng yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân
Luận án là một tài liệu khoa học có giá trị phục vụ công tác nghiêncứu khoa học, đào tạo đại học và sau đại học các ngành luật học, hànhchính học; hoạt động thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máynhà nước nói chung, của Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng, cũng nhưhoạt động xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệpháp luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh và của cả
bộ máy nhà nước theo hướng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân,
do dân, vì dân;…
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung và Danh mục tài liệu tham khảo,nội dung của Luận án được kết cấu thành bốn chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Luận án
Chương 2: Cơ sở lý luận về đổi mới tổ chức và hoạt động của Hộiđồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam của dân, do dân, vì dân
Chương 3: Thực trạng đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồngnhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Namcủa dân, do dân, vì dân
Trang 6Chương 4: Quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới tổchức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xâydựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC Ở TRONG NƯỚC NGHIÊN CỨU VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
1.1.1 Về nhà nước pháp quyền
Các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tập trung giải quyết nhữngvấn đề nhận thức luận về nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp quyềnViệt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân như nguyên tắc, điềukiện, mô hình nhà nước pháp quyền trong điều kiện, hoàn cảnh của nướcta
Trong bài Vấn đề nhà nước pháp quyền (Tạp chí Cộng sản, Số
2/1992), tác giả Nguyễn Văn Động luận giải nhà nước pháp quyền là giátrị của nền văn minh nhân loại và ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc củaviệc thực hiện tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam củadân, do dân, vì dân trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Trong bài
Học thuyết về nhà nước pháp quyền - Lịch sử và hiện tại (Tạp chí Luật
học, Số 4/ 1996), tác giả Nguyễn Văn Động phân tích những giá trị vàđặc điểm cơ bản của tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử và hiệntại
Tìm hiểu về nhà nước pháp quyền là công trình của nhiều tác giả do
GS.TSKH Đào Trí Úc làm Chủ biên, Viện Nhà nước và Pháp luật, NxbPháp lý, Hà Nội, 1992 Cuốn sách tổng thuật về nhiều nội dung cơ bảncủa nhà nước pháp quyền như khái niệm, nội dung về nhà nước phápquyền, xã hội công dân, quyền con người trong nhà nước pháp quyền
qua các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Bài Tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của GS.TS.
Hoàng Văn Hảo (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện nhà nước và pháp
Trang 8luật, Viện khoa học xã hội Việt Nam, Số 3/2004), tập trung phân tích tưtưởng lập hiến, quan điểm nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cốt lõi của nhà nước pháp quyền.
Trong bài Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật - Nhiệm vụ trọng tâm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, Viện nhà nước và pháp luật, Viện khoa học xã hội Việt Nam,
Số 7/2004), PGS.TS Trần Ngọc Đường phân tích nhu cầu hoàn thiệnpháp luật, tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật, đồng thời nhấn
mạnh việc tổ chức thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là công trình của Tô Xuân Dân và Nguyễn Thanh
Bình (Tạp chí Cộng sản, Số 4, tháng 2/2004), trong đó các tác giả phântích những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
PGS.TS Phạm Hồng Thái và Nguyễn Quốc Sửu viết bài: Bàn về Nhà
nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta (Tạp chí
Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, Số 3/2005), trong đó
đã trình bày khái quát sự hình thành tư tưởng nhà nước pháp quyền vàđưa ra những đặc trưng của nhà nước pháp quyền nói chung và Nhànước pháp quyền Việt nam nói riêng Chương trình khoa học xã hội cấp
nhà nước KX 04 (2001-2005) Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, trong đó
có Đề tài KX.04.01: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân do GS VS Nguyễn Duy Quý
làm Chủ nhiệm; Đề tài KX.04-02: Mô hình tổ chức và hoạt động của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân giai đoạn 2001 - 2010, do GS.TSKH Đào Trí Úc làm Chủ nhiệm.
Những công trình nghiên cứu này đã nghiên cứu và đánh giá một cách
Trang 9toàn diện về nhà nước pháp quyền trong lịch sử ở phương Đông vàphương Tây; về tư tưởng, đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Mô hình tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sách chuyên khảo của nhiều tác giả (Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2007), trong đó, các tác giả đã nghiên cứu một cách khá toàn diệnnhững vấn đề lý luận về mô hình nhà nước pháp quyền, bản chất của nhànước pháp quyền, chỉ ra những đặc điểm của nhà nước pháp quyền nóichung và các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền Việt Nam nói riêng
Trong Đề tài KX 04-04: Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt
động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân (do PGS.TS Trần Ngọc Đường làm Chủ
nhiệm), các tác giả đã phân tích vị trí của Quốc hội, Chính phủ, mốiquan hệ giữa hai thể chế, đưa ra mô hình cần có về Quốc hội và Chínhphủ ở nước ta, đồng thời phân tích, đánh giá về phương thức, các hìnhthức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ Đề tài cấp Đại học Quốc gia,
Mã số: QG 05.42 Quốc hội trong điều kiện của việc xây dựng nhà nước
pháp quyền, do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung làm Chủ nhiệm, đã khái
quát tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử, phân tích mô hình
tổ chức quyền lực nhà nước ở một số quốc gia, xác định nhiệm vụ trong
tâm của Quốc hội trong nhà nước pháp quyền Trong sách Sự hạn chế
quyền lực nhà nước (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005),
PGS.TS Nguyễn Đăng Dung đã phân tích cơ chế hạn chế quyền lựcbằng pháp luật, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cơ quan tư pháp
trong cơ cấu quyền lực nhà nước Bài Quan điểm của Hồ Chí Minh về
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì nhân dân của Tô Huy Rứa (Tạp chí Cộng sản, Số 22, tháng 11/2005) đã
tập trung phân tích những quan điểm của Hồ Chí Minh về tư tưởng xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Trang 10trong điều kiện thực tiễn của nước ta Trong bài: Đẩy mạnh xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Http://w.w.w
Vietnamplus, 21/4/2011), PGS.TS Nguyễn Viết Thông đã phân tích một
cách toàn diện những quan điểm cơ bản của Đảng ta về xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong những công trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung luậngiải sự hình thành, phát triển của nhận thức về nhà nước pháp quyền,nguyên tắc, đặc trưng của nhà nước pháp quyền với tư cách là những giátrị có tính phổ biến, sự hạn chế quyền lực nhà nước trong nhà nước phápquyền, đồng thời, nêu ra những quan điểm và đặc trưng của Nhà nướcpháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam; mô hình nhà nước pháp quyền, mô hình tổchức cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong nhà nước pháp quyền,nhưng về chính quyền địa phương nói chung và Hội đồng nhân dân tỉnhnói riêng mới chỉ điểm qua ở những nét chung nhất mà chưa có nhữngphân tích xác đáng về tổ chức và hoạt động của nó nhằm đáp ứng yêucầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vìdân Hơn nữa, trong các nghiên cứu nêu trên, các tác giả còn những quanniệm khác nhau về nhà nước pháp quyền, về chính quyền địa phương, và
về vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân Tuy vậy, đây là những cơ sở
lý luận, là nguồn tài liệu quan trọng, có ý nghĩa lý luận sâu sắc để tác giả
vận dụng vào việc nghiên cứu đề tài mà nghiên cứu sinh đã lựa chọn 1.1.2 Về Hội đồng nhân dân
- Về sự hình thành, vị trí, tính chất, vai trò của Hội đồng nhân dân nói
chung, Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng:
Kỷ yếu hội nghị toàn quốc về Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
của Văn phòng Quốc hội (Hà Nội, 1998) gồm nhiều bài viết về vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung Bài Vài nét
Trang 11về nền hành chính Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến nay của
Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái (Tạp chí Quản lý nhà nước, Học việnhành chính Quốc gia, Số 10/2001) đã khái quát về chính quyền quyềnđịa phương nước ta, phân biệt chính quyền đô thị và nông thôn Trong
sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở
Việt Nam hiện nay (Tập thể tác giả, Chủ biên: PGS.TS Lê Minh Thông
và PGS.TS Nguyễn Như Phát, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002),các tác giả đã phân tích về chính quyền địa phương trên thế giới và ViệtNam, đem đến cho chúng ta những nhận thức mới, đúng đắn hơn, toàndiện hơn về chính quyền địa phương nói chung và Hội đồng nhân dân nói
riêng Sách Hội đồng nhân dân, quá trình hình thành và biến đổi (Vũ
Hùng, Nxb Đà Nẵng, 2007) cũng đã phân tích làm rõ nhiều vấn đề về tổchức và hoạt động của Hội đồng nhân dân một cách có hệ thống từ trước
đến nay Bình luận khoa học Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 2013, của Viện Chính sách công và pháp luật (Nxb.
Lao động và xã hội, Hà Nội, 2014) đã bình luận về chính quyền địaphương theo quy định của Hiến pháp năm 2013 Từ góc độ lịch sử, trong
sách Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (nhiều tác giả, Chủ
biên: PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Đồng Nai, 1997), các tác giả
đã phân tích vị trí, tính chất pháp lý, chức năng của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân, đây là công trình nghiên cứu khá cơ bản về chínhquyền địa phương
- Về tổ chức và hoạt động của của Hội đồng nhân dân các cấp
Kỷ yếu hội nghị Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương các khu vực trên toàn quốc năm 2006 (Ủy ban
Thường vụ Quốc hội - Ban công tác đại biểu, Hà Nội, 2006) gồm nhiềubài viết về vai trò, vị trí của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nước ta Kỷ
Trang 12yếu hội nghị chánh văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của năm 2004 (Văn phòng
Chính phủ, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, 2004) gồm các bài phântích nội dung và phương thức hoạt động của Văn phòng Hội đồng nhân
dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân nói chung Kỷ yếu hội nghị toàn
quốc về hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2010 (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hà Nội, 2010) gồm những bài phân
tích nội dung và phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân nói chung
- Về thực trạng và những yêu cầu đặt ra về tổ chức, hoạt động của
Hội đồng nhân dân nói chung, Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng.
Bài 60 năm xây dựng và hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945-2005) (PGS.TS.
Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Số5/2005) trình bày khái quát về quá trình hình thành và phát triển của tổchức chính quyền địa phương ở nước ta, phân tích những bất cập và đề
ra phương hướng khắc phục Bài Thí điểm bỏ Hội đồng nhân dân quận,
huyện, phường - những vấn đề đặt ra (TS Nguyễn Thị Thu Hà, Tạp chí
Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Số 5/ 2011) đánh giá những kếtquả thành công và hạn chế của hơn 1 năm việc thí điểm không tổ chứcHội đồng nhân dân quận, huyện, phường và tập trung phân tích những
hạn chế, kiến nghị không chủ quan kết luận sớm, nên thận trọng Tổ
chức và hoạt động của chính quyền tỉnh theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là Luận án tiến sĩ
chuyên ngành Quản lý hành chính công (Nguyễn Hồng Diên, Học việnHành chính Quốc gia, Hà Nội, 2005), trong đó, tác giả Luận án tậptrung phân tích những quan điểm cơ bản về Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức và hoạt động của chính quyền tỉnh đáp
Trang 13ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta Chất lượng
hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Luận án tiến sĩ luật học
(Nguyễn Nam Hà, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2011),trong đó, tác giả Luận án tập trung phân tích các giải pháp nâng caochất lượng các hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh trong điều kiệnxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay,nhưng chưa đề cập hoặc đề cập rất ít đến vấn đề cách thức đổi mới về
tổ chức Hội đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Sách Hội đồng nhân dân trong Nhà nước
pháp quyền (GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2012)
phân tích về nhà nước pháp quyền trên thế giới, những đòi hỏi của nhànước pháp quyền, về địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân trong nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay Báo cáo kết quả các nghiên cứu
chuyên đề phục vụ sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội (Hà Nội, 2013) đã phân tích làm rõ nhiều nội dung về chínhquyền địa phương như mô hình tổ chức chính quyền địa phương, thựctrạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
- Về cải cách, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền
phương Ngoài ra, còn phải kể đến các tác phẩm khác như: Cải cách
hành chính địa phương - Lý luận và thực tiễn (nhiều tác giả, Chủ biên: Tô
Tử Hạ, TS Nguyễn Hữu Trị, TS Nguyễn Hữu Đức Đồng, năm 1998);
Trang 14Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp (TS Lê Minh Thông, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện
nhà nước và pháp luật, Số 6/1999); Một số vấn đề cần hoàn thiện trong
tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân các cấp (Bùi Xuân Đức, Tạp
chí Nhà nước và pháp luật, Viện nhà nước và pháp luật, Số 7/2000); Suy
nghĩ về cơ sở khoa học của việc đổi mới tổ chức Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân ở nước ta hiện nay (TS Nguyễn Văn Động, Tạp chí Luật
học, Trường Đại học luật Hà Nội, Số 4/2003) Bên cạnh đó, cũng có một
số công trình đề cập vấn đề cải cách, đổi mới một số mặt trong tổ chức
và hoạt động của chính quyền địa phương gắn với việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam Ví dụ: Đổi mới tổ chức và hoạt động của
các cơ quan đại diện ở nước ta (Luận án Phó tiến sĩ Luật học của Chu
Văn Thành, chuyên ngành Lý luận về nhà nước và pháp luật, Mã số:
5.05.01, Học viện Nguyễn Ái Quốc); Nâng cao hiệu lực giám sát của
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay (Vũ Mạnh Thông, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1998); Về Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân ở nước ta hiện nay (TS Nguyễn Thị Hồi, Tạp chí Luật học,
Trường Đại học luật Hà Nội, Số 1/2004); Đổi mới về tổ chức và hoạt
động của chính quyền địa phương ở Việt nam hiện nay (Hoàng Thu
Trang, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Hà Nội,
2014) Ngoài ra, Kỷ yếu hội nghị toàn quốc về tổ chức và hoạt động của
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân của Văn phòng Quốc hội (Hà
Nội, 2003) gồm nhiều bài viết về những giải pháp nâng cao vai trò vàchất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cáccấp
Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên tiếp tục phát triển tưtưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
Trang 15điều kiện thế giới đang chuyển đổi Đồng thời, các nhà khoa học pháp lý
đã đóng góp vào kho tàng lý luận về nhà nước, pháp luật, đặc biệt là sựphát triển của Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn mới - giai đoạn màtoàn Đảng, toàn dân ta đẩy mạnh công cuộc cải cách lớn đối với toàn bộ
bộ máy nhà nước, cải cách nền hành chính, cải cách tư pháp, đổi mớicông tác lập pháp theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam Đối với Hội đồng nhân dân tỉnh, các công trình nghiên cứucũng đã đề cập trên nhiều góc độ khác nhau, từ việc nghiên cứu tổ chứcHội đồng nhân dân tỉnh đến việc nghiên cứu phương thức hoạt động,hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồngnhân dân, chất lượng các kỳ họp Hội đồng, cả việc tổ chức các kỳ họpHội đồng thế nào cho có hiệu quả Tuy nhiên, hầu hết các công trìnhnghiên cứu khoa học này chưa đề cập việc đổi mới về tổ chức và hoạtđộng của Hội đồng nhân dân tỉnh như thế nào và tiến trình đổi mới rasao nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam củadân, do dân, vì dân Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trên có giátrị lớn giúp cho tác giả có được những luận chứng khoa học để tiếp tụcnghiên cứu, hoàn thiện luận án của mình
Các luận án, luận văn luật học, các bài viết trên tạp chí khoa học, các
kỷ yếu trên đây đã đi sâu vào nghiên cứu từng khía cạnh, góc độ khácnhau về Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân tỉnh nóiriêng nhằm nhấn mạnh và làm rõ hơn tính quyền lực, tính đại diện củaHội đồng nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, hoặcnghiên cứu về hoàn thiện pháp luật về tổ chức, hoạt động của Hội đồngnhân dân Tuy vậy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệthống về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh cả về mặt lýluận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền ViệtNam Việt Nam của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Tuy
Trang 16nhiên, những công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu có giá trị quantrọng giúp tác giả có thể kế thừa, nghiên cứu, phân tích đề tài luận án.
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA CÁC TÁC GIẢ NGOÀI NƯỚC VÀ CÁC TÁC GIẢ TRONG NƯỚC NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Ở NƯỚC NGOÀI
- Một số công trình khoa học của các tác giả ngoài nước nghiên cứu về chính quyền địa phương ở nước ngoài.
Trong bài: A theory of the organization of state and local
government employees, Journal of labour research, Volum 3, No 2,
1982 (Lý thuyết về tổ chức nhà nước và công chức chính quyền địa
phương), Amy Dalton cho rằng sự gia tăng về số lượng của lực lượnglao động trong khu vực công buộc nhà quản lý phải quan tâm tới việcthiết lập một tổ chức khác, ngoài tổ chức công đoàn lao động thôngthường Mô hình giải thích hiện tượng này ở chính quyền trung ương vàchính quyền địa phương, các số liệu thu thập được từ năm 1977 trở lạiđây (năm 1982) Tổ chức lao động trong khu vực công ngày càng đóngvai trò quan trọng trong nền kinh tế, chính trị, buộc chính quyền trungương và chính quyền địa phương phải quan tâm Sự phát triển của tổchức này trong hai thập kỷ qua là một trong những phương diện thú vịnhất của sự dịch chuyển lao động Nhìn xa hơn nữa về tổ chức côngđoàn, ta thấy rằng 50 phần trăm người lao động trong chính quyền trungương và chính quyền địa phương đều gia nhập tổ chức cho người laođộng trong khu vực công này Sự mở rộng tổ chức lao động trong khuvực công là dấu hiệu điển hình cho các nhà kinh tế có thể nhìn thấy sựtác động của nó lên thị trường lao động và sức khoẻ của nền kinh tế ởtrung ương và địa phương
Trong tác phẩm: Central-local government relations in transition: the
case of Swedish child care, Public choice 110, 305-325, 2002 (Mối quan
Trang 17hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương: ví dụ vềchăm sóc trẻ em ở Thụy Điển), Bjorn Gustafsson nhận định rằng trongnhững thập kỷ gần đây, chế độ cấp dưỡng cho trẻ em ở Thụy Điển chiếm
tỷ trọng ngày càng nhiều trong các hoạt động kinh tế Nghiên cứu nàycho thấy mối quan hệ tài chính giữa chính quyền trung ương và chínhquyền địa phương và ảnh hưởng của chế độ chăm sóc trẻ em đối với ứng
xử của chính quyền địa phương Nghiên cứu chỉ ra rằng trong nhữngthập kỷ trước vai trò của chính quyền địa phương là rất lớn
Local government finance and industrial policy in China, Economics
of Planning 31: 195 - 212, 1998 (Tài chính của Chính quyền địa phương
và chính sách công nghiệp ở Trung Quốc) là công trình của ChristopherHeady, trong đó, tác giả nhận xét rằng nghiên cứu cho thấy hệ thống tàichính của chính quyền địa phương ở Trung Quốc ảnh hưởng tới chínhsách công nghiệp địa phương Bắt đầu bằng việc thu thập các số liệu từcác thành phố gần đây để chứng minh cho tầm quan trọng của thuế giántiếp đối với dịch vụ tài chính địa phương
Trong: Local government, local economic development and quality of
life in Poland, GeoJournal 90, 225 - 234, 2000 (Chính quyền địa
phương, sự phát triển kinh tế địa phương và chất lượng cuộc sống ở BaLan), Craig Young và Sylwia Kaczmarek cho rằng việc thành lập chínhquyền tự trị ở địa phương là một phần quan trọng trong quá trình chuyểnđổi ở các nước Đông Âu và Trung âu vào năm 1989 Chính quyền địaphương cả ở Tây Âu, Đông Âu và Trung Âu đều phát triển và đóng vaitrò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương Chính quyền địaphương là một yếu tố quan trọng trong tiến trình xây dựng "bề dày thểchế" để phát triển kinh tế địa phương một cách vững trãi và nâng caochất lượng cuộc sống của nhân dân
Trang 18- Một số công trình khoa học của các tác giả trong nước nghiên cứu về chính quyền địa phương ở nước ngoài.
Bài: Về bộ máy chính quyền cấp tỉnh ở một số nước (Nguyễn Thị Thu
Hà, Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia, Số 113,tháng 6 năm 2005) tập trung phân tích về tổ chức và hoạt động của chínhquyền địa phương nói chung và cơ quan đại diện của nhân dân ở địaphương nói riêng tại một số nước như Thụy Điển, Na Uy, trong đó tác
giả nhấn mạnh nguyên tắc: chính quyền địa phương là cộng đồng lãnh
thổ tự quản, được tự chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân; không có hệ
thống thứ bậc hoặc sự giám sát giữa các cấp chính quyền địa phương Bài viết của PGS.TS Nguyễn Hữu Hải: Vài nét về chính quyền địa
phương Đan Mạch (Tạp chí Quản lý nhà nước, Học viện Hành chính
Quốc gia, Số 110, 3-2005) tập trung phân tích về thẩm quyền của chínhquyền địa phương, Hội đồng địa phương ở Đan Mạch, trong đó nhấnmạnh nguyên tắc: "Tự quản dân chủ một cách độc lập theo pháp luật
dưới sự giám sát của Nhà nước" Chuyên đề: Phương hướng và giải
pháp đổi mới chế định Hội đồng nhân dân trong Hiến pháp 1992 của
TS Tô Văn Hòa, Trường Đại học luật Hà Nội (trong Đề tài cấp Bộ, năm
2011-2012) đã phân tích một cách khái quát một số mô hình tổ chức vàhoạt động của chính quyền địa phương các nước trên thế giới hiện nay,phân tích và đánh giá về tính chất pháp lý, vai trò của Hội đồng nhândân nước ta, trong đó nhấn mạnh hướng đổi mới theo nguyên tắc phânquyền mạnh cho chính quyền địa phương Bài của TS Phạm Hồng
Quang: Lịch sử hệ thống chính quyền địa phương Nhật Bản và một số
vấn đề về cải cách chính quyền địa phương Nhật Bản hiện nay (Tạp chí
Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, Số 4/2010) đã trình bày khái quát
về tổ chức chính quyền địa phương Nhật Bản từ 1868 đến nay
Trang 19Nhìn chung, các tác phẩm, các công trình ngoài nước, các công trìnhnghiên cứu về pháp luật nước ngoài liên quan đến tổ chức và hoạt độngcủa chính quyền địa phương cung cấp cho tác giả những tư liệu phongphú đề cập đến mô hình chính quyền địa phương các nước trên thế giới,chế độ bầu cử, chế độ dân chủ, thiết chế cơ quan đại diện của nhândân… ở địa phương, từ đó giúp tác giả có thêm cơ sở lý luận để nghiêncứu luận án của mình.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Có thể khẳng định, tất cả các tác phẩm, các công trình khoa học, cácluận án, luận văn đều đã phân tích, luận giải khá sâu sắc và toàn diện
về khái niệm, đặc điểm của nhà nước pháp quyền; tính tất yếu của việcxây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân; vị trí,tính chất, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của Hội đồngnhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng
Nhìn một cách tổng quát các công trình nghiên cứu khoa học pháp lýtrong và ngoài nước nghiên cứu những vấn đề chung về sự hình thành,phát triển, đặc điểm của chính quyền địa phương; phân biệt chính quyền
đô thị với chính quyền nông thôn; mô hình chính quyền địa phương haicấp ở đô thị, ba cấp ở nông thôn; tổ chức chính quyền địa phương; sựphân công, phân cấp quản lý; tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhândân trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Trong nhà nước pháp quyền thì nhà nước chuyển dần từ nhà nướccai trị sang nhà nước phục vụ, các cơ quan nhà nước từ trung ươngxuống địa phương đều được tổ chức và hoạt động theo pháp luật Tuynhiên, cho tới nay vấn đề tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dântỉnh và đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnhnhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của
Trang 20dân, do dân, vì dân vẫn chưa được nghiên cứu có hệ thống và toàndiện.
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những giá trị khoa học đã đạt được,Luận án tiếp tục nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm đưa ra nhữngkhuyến nghị khoa học về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Hộiđồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam của dân, do dân, vì dân
Trang 21Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN 2.1 VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
2.1.1 Vị trí, tính chất và đặc điểm của Hội đồng nhân dân tỉnh
- Vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Đây là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học pháp lý lý giải, khẳngđịnh trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học về quá trình xâydựng và phát triển của chính quyền địa phương ở nước ta Theo PGS.TS
Lê Minh Thông:
Chính quyền địa phương ở nước ta thường bao gồm hai cơquan hành chính là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.Khác với các nước, bộ máy chính quyền địa phương của nước
ta là một hệ thống thống nhất các cơ quan nhà nước và đượcthành lập hầu như giống nhau ở tất cả các đơn vị hành chính,không có các cơ quan tự quản Hội đồng nhân dân đóng vai trò
là cơ quan chủ đạo trong bộ máy đó [65, tr 17]
PGS.TS Bùi Xuân Đức cũng nhấn mạnh: "Tuy mỗi một giai đoạn cómột số nét đặc thù, song về cơ bản đó là mô hình chính quyền địaphương kiểu xô viết mà ở ta gọi là chế độ Hội đồng nhân dân" [65, tr.182] Tuy nhiên, vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân tỉnh trong Nhànước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân chưa có nhữngđánh giá, mô tả cụ thể gắn liền với một mô hình chính quyền địa phươngtrong các công trình nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học tổ chức bộmáy nhà nước hoặc khoa học pháp lý Vì vậy, theo chúng tôi, để đánhgiá đúng vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân tỉnh trong Nhà nước pháp
Trang 22quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân hiện nay thì vừa phải căn cứ cácquy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phươngnăm 2015 vừa cần đặt nó trước những yêu cầu của Nhà nước pháp quyềnViệt Nam của dân, do dân và vì dân Chúng tội cho rằng làm rõ vị trípháp lý của Hội đồng nhân dân tỉnh trước những yêu cầu của Nhà nướcpháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân hiện nay cần phác thảo
nó theo kết cấu chiều dọc và chiều ngang của bộ máy nhà nước như sau:Xem xét theo chiều dọc, tức là xét mối quan hệ giữa Hội đồng nhândân tỉnh với các cơ quan nhà nước ở Trung ương như Quốc hội, Ủy banThường vụ Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác và ở địaphương như Hội đồng nhân dân huyện Theo quy định của pháp luậthiện hành thì: Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của chính quyềnđịa phương; quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địagiới hành chính tỉnh (khoản 6, Điều 70 Hiến pháp năm 2013); Ủy banthường vụ Quốc hội có quyền giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hộiđồng nhân dân tỉnh; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh nếunhư nghị quyết đó trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quannhà nước cấp trên; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh trong trường hợp Hộiđồng nhân dân tỉnh đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhândân (khoản 7, Điều 74 Hiến pháp năm 2013) Chính phủ có quyền hướngdẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân tỉnh trong việc thực hiện văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân tỉnh thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định (khoản 5, Điều 96 Hiến pháp năm2013) Hội đồng nhân dân tỉnh có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn do cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương ủy quyền (khoản 4,Điều 17 Luật tổ chức chính quyền địa phương) Hội đồng nhân dân tỉnhquyết định thành lập, giải thể, nhập, chia thôn (Điều 19 Luật tổ chứcchính quyền địa phương năm 2015) Như vậy, theo pháp luật hiện hành
Trang 23thì vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân tỉnh được mô tả theo chiều dọc
đã phản ánh rõ nét tính dân chủ, tính tự chủ và tự quyết định của Hộiđồng nhân dân tỉnh trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, dodân và vì dân Đồng thời, nó cũng phản ánh xu thế nhà nước là một thểchế phục vụ nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Tuynhiên, để đáp ứng một trong những yêu cầu cơ bản của Nhà nước phápquyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân là tính tập trung, thống nhấtcủa nền hành chính quốc gia thì theo chiều dọc Chính phủ sẽ tổ chứcphối hợp điều hành nhịp nhàng các chính quyền địa phương trên phạm vitoàn quốc như thế nào thì pháp luật hiện hành của Nhà nước ta hiện naychưa có những quy định cụ thể, cần phải tiếp tục xây dựng và đổi mới.Xem xét theo chiều ngang, tức là xét mối quan hệ giữa Hội đồng nhândân tỉnh với Ủy ban nhân dân cùng cấp Trong mối quan hệ với Ủy bannhân dân tỉnh thì Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước
ở tỉnh, có quyền bầu ra Ủy ban nhân dân tỉnh; Ủy ban nhân dân tỉnh là cơquan chấp hành của Hội đồng nhân dân tỉnh, tổ chức thực hiện nghịquyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, chịu trách nhiệm trước Hội đồngnhân dân tỉnh Ví dụ: Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền bầu, miễn nhiệmbãi nhiệm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Uỷ ban nhân dân tỉnh;bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhândân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh; quyết định thành lập, bãi bỏ cơquan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; (Điều 19, Luật tổ chứcchính quyền địa phương năm 2015) Như vậy, theo chiều ngang thì Hộiđồng nhân dân tỉnh được mô tả phản ánh tính quyền lực nhà nước, tínhgiám sát của cơ quan dân cử đại diện cho toàn thể nhân dân ở tinh, tạiđịa phương đã đáp ứng cơ bản yêu cầu của Nhà nước pháp quyền ViệtNam của dân, do dân và vì dân Tuy nhiên, mối quan hệ pháp lý giữaquyền bãi nhiệm và quyền ra quyết định như thế nào thì pháp luật hiện
Trang 24hành chưa có những quy định rõ ràng, vì theo quy định tại Điều 124 củaLuật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 giao quyền cho người
có thẩm quyền thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước là người raquyết định mà không nói rõ trên cơ sở nghị quyết bãi nhiệm của Hộiđồng nhân dân tỉnh Như vậy, xét theo chiều ngang, trên cơ sở pháp luậthiện hành, trong hệ thống các cơ quan nhà nước của chính quyền tỉnhhiện nay thì Hội đồng nhân dân tỉnh có vị trí pháp lý cao nhất, có quyền
"quyết định các vấn đề của địa phương do luật định" (khoản 2, Điều 113Hiến pháp năm 2013) Ủy ban nhân dân tỉnh do Hội đồng nhân dân tỉnhbầu, thành lập, bãi bỏ tức là được hình thành, bãi bỏ trực tiếp từ Hộiđồng nhân dân tỉnh, chịu trách nhiệm chấp hành nghị quyết của Hộiđồng nhân dân tỉnh
Tóm lại, vị trí pháp lý của Hội đồng nhân dân tỉnh xét theo chiều dọc
và chiều ngang của bộ máy nhà nước trên cơ sở pháp luật hiện hành vànhằm đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam củadân, do dân và vì dân, tuy còn một số hạn chế cần tiếp tục đổi mới,nhưng là thiết chế nhà nước ở tỉnh do nhân dân của tỉnh trực tiếp thiếtlập lên, thực hiện quyền lực nhà nước - quyền lực hành pháp trên địa bànlãnh thổ của tỉnh Việc thực hiện phân công thẩm quyền theo pháp luậtcho Hội đồng nhân dân tỉnh là phù hợp với xu hướng xây dựng nhà nướcpháp quyền nói chung trên thế giới và của nước ta hiện nay
- Tính chất của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 113 Hiến pháp năm 2013, Hội đồngnhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở tỉnh, đại diện cho ý chí,nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân tỉnh, do nhân dân tỉnh bầu
ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân tỉnh và cơ quan nhà nước cấp trên,
do vậy, Hội đồng nhân dân tỉnh có hai tính chất cơ bản sau đây:
Trang 25Một là, tính quyền lực nhà nước Tính quyền lực nhà nước của Hội
đồng nhân dân tỉnh được thể hiện ở chỗ: Hội đồng nhân dân tỉnh là cơquan quyền lực cao nhất ở tỉnh, có quyền quyết định các vấn đề quantrọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của tỉnh; giám sátviệc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở tỉnh và việc thực hiện nghịquyết của Hội đồng nhân dân Với tư cách là cơ quan quyền lực nhànước ở tỉnh và đứng đầu các cơ quan nhà nước trong bộ máy chínhquyền tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh tham gia tích cực vào việc thực hiệnquyền hành pháp ở tỉnh nhằm vừa đảm bảo tính thống nhất của nền hànhchính quốc gia vừa đảm bảo tính tự chủ, tự quyết và tự chịu trách nhiệmtrước lợi ích của nhân dân tỉnh Tính quyền lực nhà nước của Hội đồngnhân dân tỉnh còn được thể hiện ở quyền giám sát theo quy định củapháp luật đối với tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh và cácnhà nước khác ở trên địa bàn tỉnh Quyền giám sát của Hội đồng nhândân tỉnh vừa phản ánh tính quyền lực nhà nước, vừa phản ánh quyền dânchủ của nhân dân cả tỉnh đối với mọi hoạt động của nhà nước nhằm bảođảm mọi hoạt động của nhà nước và các viên chức nhà nước đều có mụcđích và động cơ từ lợi ích của nhân dân của tỉnh, đáp ứng yêu cầu cơ bảnNhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân
Hai là, tính đại diện Bởi do nhân dân ở tỉnh trực tiếp bầu ra theo các
nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín, cho nên Hộiđồng nhân dân tỉnh đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủcủa nhân dân ở tỉnh
Như vậy, theo quy định tại khoản 1, Điều 113 Hiến pháp năm 2013,Hội đồng nhân dân tỉnh vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở tỉnh, vừa là
cơ quan đại diện của nhân dân trong tỉnh Việc quy định hai tính chấtcủa Hội đồng nhân dân tỉnh trong Hiến pháp năm 2013 là hoàn toàn phùhợp với nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, yêu
Trang 26cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vìdân Nhân dân là người lập nên Nhà nước, nhân dân có quyền quyết địnhmọi công việc của Nhà nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông quangười đại diện hợp pháp của mình, có quyền giám sát mọi hoạt động củacác cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương.
- Đặc điểm của Hội đồng nhân dân tỉnh.
Hội đồng nhân dân tỉnh trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam củadân, do dân, vì dân có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở
tỉnh, thực hiện quyền hành pháp trên địa bàn tỉnh, có tính độc lập tươngđối, thực hiện hai chức năng cơ bản là quyết định các vấn đề quan trọngcủa tỉnh do luật định và giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ởtỉnh và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Chínhquyền địa phương ở tỉnh gồm có Hội đồng nhân dân tỉnh và Uỷ ban nhândân tỉnh (Điều 16 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015) Mốiquan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ với Hội đồng nhân dân tỉnh khôngphải là mối quan hệ hành chính trực thuộc dựa trên chế độ quyền uy vàphục tùng Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh hợp thànhchính quyền địa phương ở tỉnh Uỷ ban nhân dân tỉnh do Hội đồng nhândân tỉnh bầu ra và Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan chấp hành của Hộiđồng nhân dân tỉnh, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân tỉnh, vìthế, chúng có quan hệ khăng khít, thống nhất với nhau Và vì vậy, Hộiđồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ thực hiện sự chỉ đạo củaChính phủ dựa trên quan hệ quyền uy - phục tùng khi Chính phủ ủyquyền thực hiện những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Chính phủ.Đồng thời, Chính phủ phải cung cấp đầy đủ thông tin, cơ sở vật chất vàcác điều kiện khác để Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh
có khả năng thực hiện được nhiệm vụ mà Chính phủ ủy quyền
Trang 27Đặc điểm này của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm đảm bảo thực hiệnđầy đủ hai chức năng chính của Hội đồng nhân dân tỉnh trong nhà nướcpháp quyền theo nguyên tắc tự quyết, tự chịu trách nhiệm trên cơ sởpháp luật Hội đồng nhân dân tỉnh không thể thực hiện nhiệm vụ tựquyết, tự chịu trách nhiệm khi không có tính độc lập tương đối với cơquan nhà nước cấp trên để tự quyết định được các chính sách lớn cho tỉnhtrên cơ sở pháp luật "Sự lệ thuộc, thụ động của chính quyền địa phươngđối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền trung ương dẫn đến việcthiết lập chế độ lãnh đạo tập trung mạnh mẽ làm vô hiệu quyền tự chủ vàkhả năng sáng tạo của chính quyền địa phương" [65, tr 60] Hội đồngnhân dân tỉnh có quyền quyết định các vấn đề của tỉnh do luật định;giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở tỉnh và việc thực hiệnnghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh là phù hợp với đòi hỏi kháchquan của yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, dodân, vì dân.
Thứ hai, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh và tổ chức
và hoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh luôn gắn bó mật thiết với nhau,thống nhất với nhau và được quy định chung ở Điều 17 của Luật tổ chứcchính quyền địa phương năm 2015 Đây là một đặc điểm quan trọng củaHội đồng nhân dân tỉnh khi xác định Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quanchấp hành của Hội đồng nhân dân tỉnh Quan niệm Hội đồng nhân dântỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh trong những năm qua kể cả trước và trongthời kỳ đổi mới là hai cơ quan khác nhau, độc lập với nhau, Hội đồngnhân dân tỉnh nằm trong hệ thống cơ quan quyền lực, Ủy ban nhân dântỉnh nằm trong hệ thống cơ quan quản lý và các cơ quan này độc lập vớinhau là chưa đúng với "mô hình tổ chức chính quyền địa phương kiểu xôviết mà ở ta gọi là chế độ hội đồng nhân dân" [65, tr 182] Do đó, trong
tổ chức của Hội đồng nhân dân tỉnh có Thường trực Hội đồng nhân dân
Trang 28tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh còn trong Ủy ban nhân dân tỉnh
có Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh…Với cách thức tổ chức như vậycho nên hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân nóichung, Hội đồng nhân dân tỉnh nói riêng trong những năm qua chưa cao,tính hình thức và tính không thực quyền của Hội đồng nhân dân tỉnhchưa được khắc phục
Hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh được thể hiện chủ yếu trong kỳhọp của Hội đồng Ngoài ra, còn được phản ánh thông qua hoạt động củaThường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dântỉnh, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu Hội đồngnhân dân tỉnh Chính vì vậy mà hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhândân tỉnh được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động của các kỳ họp Hộiđồng nhân dân tỉnh, hiệu quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhândân tỉnh, hiệu quả hoạt động của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, hiệuquả hoạt động của các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh và hiệu quảhoạt động của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hoạt động của Hộiđồng nhân dân tỉnh chủ yếu là hoạt động tại kỳ họp mà mỗi năm ít nhấthai kỳ họp, "vai trò của Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ được xác lập trên các
kỳ họp và danh sách các nghị quyết được thông qua" [65, tr 65] Đối với
Ủy ban nhân dân tỉnh, xét về mặt pháp lý, là cơ quan chấp hành của Hộiđồng nhân dân nhưng hiệu quả hoạt động của nó lại không được gắn vớihiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh (?).Theo TS NguyễnHồng Diên:
Cơ cấu tổ chức bên trong của Hội đồng nhân dân, chính quyền địaphương nói chung và tỉnh nói riêng chuyển từ đơn giản đến phức tạp Từchỗ Ủy ban nhân dân là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân,đến hình thành thiết chế Thường trực của Hội đồng nhân dân tỉnh và cácBan của Hội đồng nhân dân tỉnh Điều này bắt nguồn từ sự thay đổi triết
Trang 29lý tổ chức chính quyền địa phương cần bảo đảm tính độc lập của Hộiđồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh Nhưng thực tiễn thiết chếThường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và các Ban của Hội đồng nhân dântỉnh làm việc mang nhiều tính hình thức vì không có bộ máy giúp việc
để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được quy định Đây cũng chính lànhững mâu thuẫn trong bản thân quy định của pháp luật với thực tiễn tổchức chính quyền tỉnh ở nước ta trong những năm qua [5, tr 115]
Sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về mối quan hệ giữaHội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh tại các Điều 18, Điều
20 trong Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã khắc phụcđược nhược điểm cơ bản này của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân năm 2003 Vấn đề đặt ra là cần thiết phải khẳng định Ủyban nhân dân tỉnh là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân tỉnh; mọihoạt động của Ủy ban nhân dân tỉnh và mọi quyết định của Ủy ban nhândân tỉnh không được tách rời khỏi các hoạt động và quyết định của Hộiđồng nhân dân tỉnh và phải phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhândân tỉnh
Thứ ba, tổ chức của Hội đồng nhân dân tỉnh nhằm đảm bảo quyền tự
chủ và tính tự chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quannhà nước cấp trên như quy định của Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều113) Tính chịu trách nhiệm của Hội đồng nhân dân tỉnh trước cơ quannhà nước cấp trên, nghĩa là Hội đồng nhân dân tỉnh chịu trách nhiệmthực thi pháp luật của nhà nước và chịu sự hướng dẫn, kiểm tra củaChính phủ trong việc thực hiện văn bản của các cơ quan nhà nước cấptrên, nhưng Chính phủ không can thiệp, không làm thay Hội đồng nhândân tỉnh, mà "tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn do luật định" Sự chịu trách nhiệm của Hội đồng nhân dân tỉnhtrước nhân dân tuyệt đối không được gây thiệt hại đến lợi ích của nhân
Trang 30dân tỉnh Nếu làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân địaphương Hội đồng nhân dân tỉnh sẽ bị giải tán bởi Ủy ban Thường vụQuốc hội Và như vậy, tự chịu trách nhiệm của Hội đồng nhân dân tỉnhgắn bó mật thiết và tỷ lệ thuận với quyền tự chủ của chính quyền địaphương
2.1.2 Vai trò của Hội đồng nhân dân tỉnh
Hội đồng nhân dân tỉnh có vai trò quan trọng trong việc thực thi quyềnlực nhà nước
Về cấu trúc nhà nước, Nhà nước ta là nhà nước đơn nhất, các đơn vịhành chính lãnh thổ, các tỉnh không có chủ quyền nhà nước riêng Đểquản lý các công việc nhà nước và công việc của địa phương, của cộngđồng lãnh thổ, chúng ta đều thiết lập cơ quan quyền lực nhà nước: Hộiđồng nhân dân tỉnh và thiết lập Ủy ban nhân dân tỉnh với tư cách vừa là
cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân tỉnh, vừa là cơ quan hànhchính nhà nước ở địa phương
Hội đồng nhân dân tỉnh là đầu mối đầu tiên và quan trọng nhất choviệc triển khai thực hiện tất cả các chính sách, đường lối của Đảng vàpháp luật của Nhà nước trong phạm vi cộng đồng dân cư của tỉnh Hộiđồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh hợp thành chính quyền địaphương ở tỉnh là những cơ quan nhà nước không có quyền làm luật mà
có nghĩa vụ thi hành luật Nghĩa vụ thi hành pháp luật của chính quyềnđịa phương ở tỉnh được thực hiện thông qua hoạt động chấp hành vàđiều hành của cơ quan hành chính tỉnh là Ủy ban nhân dân tỉnh nhằmquản lý mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh Còn Hộiđồng nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ thi hành luật thông qua hoạtđộng hoạch định các chính sách, quyết định các vấn đề của địa phươngtrên cơ sở pháp luật để phát huy hết mọi khả năng, thế mạnh của tỉnhtrong việc phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở chủ trương, chính sách và
Trang 31pháp luật của Nhà nước Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyết định
dự toán thu ngân sách nhà nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngânsách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; phê chuẩnquyết toán ngân sách địa phương; quyết định các nội dung liên quan đếnphí, lệ phí theo quy định của pháp luật ( khoản 2, Điều 19 Luật tổ chứcchính quyền địa phương năm 2015), thì Hội đồng nhân dân tỉnh phảitrực tiếp nắm ngân sách của địa phương Hội đồng nhân dân tỉnh cókiểm soát chặt chẽ các nguồn thu, các nguồn chi của ngân sách địaphương mới bảo đảm khả năng tự quyết định và tự chịu trách nhiệmtrước Nhà nước và nhân dân địa phương tỉnh, đảm bảo Ủy ban nhân dântỉnh là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân tỉnh, bảo đảm nguyêntắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Hội đồng nhân dân tỉnh hợp tác với nước ngoài với mục đích pháttriển kinh tế, văn hóa, giáo dục Vai trò này của Hội đồng nhân dân tỉnhxuất phát từ định hướng lớn của Đảng ta là xây dựng một nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với quá trình dân chủ hóa
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Chính quyền tỉnh mà Hội đồngnhân dân tỉnh giữ vai trò chủ đạo, tự hoạch định các chính sách lớn củatỉnh vừa bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vừa phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh
Hội đồng nhân dân tỉnh có vai trò giám sát việc tuân theo Hiến pháp
và pháp luật trên địa bàn tỉnh Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dântỉnh được thể hiện thông qua vai trò là cơ quan bầu ra Ủy ban nhân dântỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm báo cáo định kỳ trong các kỳhọp của Hội đồng nhân dân tỉnh; thông qua việc chất vấn của các đạibiểu Hội đồng nhân dân tỉnh đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, các
Ủy viên khác của Ủy ban nhân dân tỉnh; bỏ phiếu tín nhiệm đối vớingười giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân tỉnh bầu
Trang 322.2 NHỮNG YÊU CẦU CỦA VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN ĐỐI VỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH
2.2.1 Những yêu cầu chung của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân đối với tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI năm 1986 đã đề rađường lối đổi mới đất nước làm cơ sở tư tưởng chính trị để đổi mới tưduy chính trị - pháp lý, đưa tới sự khẳng định tính tất yếu của cải cách,đổi mới bộ máy nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền của dân, dodân, vì dân Bởi vậy, toàn bộ công tác cải cách, đổi mới bộ máy nhànước, trong đó có việc đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhândân tỉnh, phải đáp ứng được các yêu cầu của việc xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân Các yêu cầu chung củaviệc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dânđối với tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh như sau:
Một là, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh phải đảm
bảo được nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhândân là người làm chủ Nhà nước Sự khác nhau căn bản giữa nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa với nhà nước pháp quyền tư sản là nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được hình thành, tồn tại, phát triểncùng với sự hình thành, tồn tại, phát triển của nền dân chủ xã hội chủnghĩa mà cốt lõi của nó là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhândân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Nhà nước phápquyền Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của 54 dân tộc anh emcùng chung sống trên đất nước Việt Nam, Nhà nước luôn luôn thể hiện ýchí, nguyện vọng và quyền làm chủ của toàn thể nhân dân Việt Nam
Trang 33Quan điểm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ lànguyên tắc hiến định, mà còn là cơ sở để thiết lập các cơ chế bảo đảmthực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân đối với Nhà nước Với tưcách là chủ thể cao nhất của quyền lực nhà nước, nhân dân thực hiệnquyền làm chủ thông qua chế độ bầu cử bình đẳng, phổ thông, trực tiếp
và bỏ phiếu kín để lập ra các cơ quan quyền lực nhà nước, đó là Quốchội và Hội đồng nhân dân các cấp, trong đó có Hội đồng nhân dân tỉnh;trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến với Nhà nước về công tác quản lý nhànước, cải cách, đổi mới Nhà nước; trực tiếp quản lý các lĩnh vực, cáccông việc mà chính quyền giao cho và trực tiếp quyết định những vấn đềtrọng đại của đất nước và của địa phương Bên cạnh đó, nhân dân cònthực hiện quyền làm chủ của mình đối với Nhà nước, xã hội thông quanhững đại biểu mà mình đã bầu ra - đó là các đại biểu Quốc hội, đại biểuHội đồng nhân dân các cấp, trong đó có Hội đồng nhân dân tỉnh vàthông qua các cơ quan khác của Nhà nước Hiến pháp năm 2013 quyđịnh: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp,bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thôngqua các cơ quan khác của Nhà nước" (Điều 6)
Hai là, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh phải đảm
bảo được nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất Quan điểmquyền lực nhà nước là thống nhất, tất cả quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân được quy định nhất quán từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiếnpháp năm 2013 Tính thống nhất của quyền lực nhà nước trong điều kiệnNhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân đòi hỏi Hộiđồng nhân dân tỉnh phải được tổ chức và hoạt động theo những yêu cầusau đây:
- Thống nhất về chính trị Quyền lực nhà nước là một loại quyền lực
chính trị đặc biệt, luôn luôn thuộc về một giai cấp hay liên minh các giai
Trang 34cấp Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân,
do dân, vì dân, thì quyền lực đó thuộc về giai cấp công nhân, nông dân
và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng Cộng sản ViệtNam Sự thống nhất của quyền lực nhà nước bắt nguồn từ sự thống nhất
về chính trị, mục tiêu, mục đích của giai cấp công nhân, giai cấp nôngdân và đội ngũ tri thức Trong quan điểm "Nhà nước của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân" thì nhân dân là một thể thống nhất bao gồm cácdân tộc, giai cấp, tầng lớp, cùng sinh sống, lao động, làm việc trên lãnhthổ Việt Nam Vì thế Hội đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhànước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủcủa nhân dân địa phương thuộc tỉnh và chịu sự lãnh đạo về đường lốichính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam Cụ thể và trực tiếp nhất là Hộiđồng nhân dân tỉnh chịu sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của tỉnh ủy cả
về tư tưởng, tổ chức và hoạt động Mọi nghị quyết của Hội đồng nhândân tỉnh đều phải phù hợp với nghị quyết của tỉnh ủy
- Thống nhất về kinh tế đòi hỏi Hội đồng nhân dân tỉnh tự chủ hoạch
định các chính sách phát triển kinh tế thị trường ở mỗi địa phương củatỉnh, đồng thời mang tính liên thông của nền kinh tế thị trường thốngnhất trong cả nước, loại bỏ mọi trở ngại và nguy cơ chia cắt thị trường,cục bộ địa phương Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã
có quy định như: chính quyền địa phương ở tỉnh phối hợp với các cơquan nhà nước ở trung ương, các địa phương thúc đẩy liên kết kinh tếvùng, thực hiện quy hoạch vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh
tế quốc dân (khoản 6, Điều 17) Các thị trường tại các tỉnh trên cả nướcvừa thể hiện sự liên kết mật thiết của thị trường thống nhất, vừa thể hiện
sự kiểm soát không gian kinh tế thống nhất của chính quyền trung ương.Chính phủ không chỉ thực hiện sự điều hành thống nhất toàn bộ nền kinh
tế đất nước mà còn kiểm soát được các hoạt động của Hội đồng nhân
Trang 35dân tỉnh trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệmtrong lĩnh vực phát triển kinh tế thị trường của mỗi tỉnh, mỗi địa phươngtrên cả nước
- Thống nhất về mặt pháp lý đòi hỏi toàn bộ hoạt động xây dựng pháp
luật của Hội đồng nhân dân tỉnh, thi hành pháp luật của Hội đồng nhândân tỉnh phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các đạo luậtcũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước
ở trung ương ban hành Vì thế, Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nghịquyết chứa đựng những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ
xã hội không được trái với các quy định và tinh thần của Hiến pháp vàcác đạo luật Đồng thời, việc thực thi nghị quyết của Hội đồng nhân dântỉnh cũng đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp giữa các tỉnh trong quá trình chấphành Hiến pháp, pháp luật trên cả nước
- Thống nhất về tổ chức bộ máy đòi hỏi Hội đồng nhân dân tỉnh không
chỉ là cơ quan chính quyền nhà nước địa phương đầu tiên và trực tiếpchấp hành Hiến pháp, pháp luật và thực hiện sự chỉ đạo của chính quyềnnhà nước trung ương để bảo đảm hệ thống hành chính nhà nước thốngnhất và thông suốt, mà còn là cơ quan đại biểu, đại diện cho toàn thể nhândân của tỉnh có quyền tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm trong việc thựchiện quyền quyết định các vấn đề của địa phương do luật định Tính thốngnhất này thể hiện nguyên tắc thống nhất của chủ quyền quốc gia mà đạidiện tập trung là các cơ quan tối cao của chính quyền trung ương Luật
tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã có những quy định cụ thểnhằm thể hiện rõ quan điểm đổi mới về tổ chức và hoạt động của chínhquyền địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh nói trên tại Điều 11,12,13 và
14 ; Điều 83 và Điều 124 của Luật
Ba là, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh phải bảo
đảm được sự phân định rõ ràng vị trí, vai trò, thẩm quyền giữa Hội đồng
Trang 36nhân dân tỉnh với các cơ quan nhà nước khác theo chiều dọc và theochiều ngang trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức chính quyềnđịa phương năm 2015 và các đạo luật khác có liên quan Điều đó đượcthể hiện trên các mặt sau đây:
- Trong mối quan hệ theo chiều dọc, vị trí, vai trò và thẩm quyền của
Hội đồng nhân dân tỉnh với các cơ quan nhà nước khác ở trung ươngđược xác định trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013: "Nhiệm vụ,quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phânđịnh thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương vàcủa mỗi cấp chính quyền địa phương" (khoản 2, Điều 112) Việc phânđịnh rạch ròi về thẩm quyền giữa cơ quan nhà nước ở trung ương vớiHội đồng nhân dân tỉnh trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân,
do dân, vì dân vừa đảm bảo xác định đúng vị trí, vai trò của Hội đồngnhân dân tỉnh trong tính thống nhất của quyền lực nhà nước, vừa pháthuy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của Hội đồng nhân dân tỉnh.Quyền lực của bộ máy nhà nước ở cấp trung ương và quyền lực của cáccấp chính quyền địa phương về thực chất là các bộ phận cấu thành củaquyền lực nhà nước thống nhất của bộ máy nhà nước ta Vì thế, không
có quyền lực mang tính độc lập, riêng rẽ của cấp chính quyền trungương cũng như của các cấp chính quyền địa phương Và như vậy, mốiquan hệ quyền lực giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương với Hộiđồng nhân dân tỉnh không chỉ thể hiện trong mối quan hệ chấp hành vàđiều hành theo nguyên tắc phân cấp quản lý mà còn là mối quan hệ cótính phân công và phối hợp quyền lực của phân cấp quản lý đó Mặtkhác, với quan niệm rõ về vị trí, tính chất của Hội đồng nhân dân tỉnhthuộc chính quyền địa phương thống nhất, cùng với Ủy ban nhân dântỉnh thuộc hệ thống cơ quan hành pháp, chịu trách nhiệm tổ chức và bảođảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương Đồng thời, Hội
Trang 37đồng nhân dân tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đạidiện cho ý chí và lợi ích của nhân dân địa phương thuộc tỉnh trong quan
hệ với các cơ quan nhà nước ở trung ương và các tỉnh khác, có quyềnquyết định các công việc của địa phương do luật định Vì thế, việc "phâncấp thẩm quyền hợp lý giữa trung ương và địa phương, bảo đảm quyềnkiểm soát quyền lực của Chính phủ đối với các địa phương, đồng thời
mở rộng tính tự chủ và chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương"[65, tr 86] là yêu cầu cơ bản của Nhà nước pháp quyền Việt Nam củadân, do dân và vì dân Thực tiễn của mô hình tổ chức bộ máy nhà nướccủa thời kỳ kế hoạch hóa tập trung trước thời kỳ đổi mới là không phânđịnh rạch ròi về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước ở trung ương vớicác cơ quan nhà nước ở địa phương, trong đó có Hội đồng nhân dân tỉnh.Thẩm quyền của Chính phủ bao quát, rộng lớn, can thiệp và chỉ đạomạnh mẽ các chính quyền địa phương, làm cho các địa phương vừatrông chờ, ỷ lại vào Chính phủ, vừa trốn tránh trách nhiệm trước nhândân địa phương Kết quả là làm suy giảm hiệu lực và hiệu quả của quản
lý nhà nước từ trung ương xuống địa phương, làm giảm lòng tin củanhân dân đối với Nhà nước
- Mối quan hệ theo chiều ngang giữa Hội đồng nhân dân tỉnh với Ủy
ban nhân dân tỉnh là mối quan hệ hữu cơ và thống nhất trong hệ thốngcác cơ quan nhà nước của chính quyền địa phương theo quy định củaHiến pháp năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh mặc dù là hai cơ quannhà nước khác nhau nhưng được tổ chức và hoạt động trên cùng một tênchung - chính quyền địa phương, cùng chịu sự điều chỉnh của Luật tổchức chính quyền địa phương, cùng một đơn vị hành chính lãnh thổ,cùng một cấp hành chính, cùng thực hiện chức năng hành pháp tại mộtđịa phương cụ thể, cùng chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
Trang 38thuộc tỉnh, cùng chịu trách nhiệm trước các cơ quan nhà nước trungương và cùng chịu sự lãnh đạo thống nhất, duy nhất, toàn diện và trựctiếp của Đảng mà trực tiếp là tỉnh ủy Như vậy, yêu cầu của xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân trên cơ sở củaHiến pháp năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015là: mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh làmối quan hệ hữu cơ, thống nhất, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu tráchnhiệm của chính quyền địa phương, bảo đảm chính quyền địa phương làmột bộ phận khăng khít của nền hành chính quốc gia thống nhất vàthông suốt Trong mối quan hệ khăng khít và thống nhất đó, Hiến phápnăm 2013 đã khẳng định rõ nét về vị trí và vai trò của hai cơ quan nàytrong tổ chức của chính quyền địa phương là: Hội đồng nhân dân tỉnh cóquyền quyết định mọi vấn đề của địa phương do luật định và chịu tráchnhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước trung ương, còn
Ủy ban nhân dân tỉnh do Hội đồng nhân dân tỉnh bầu ra, là cơ quan chấphành của Hội đồng nhân dân tỉnh, cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh,chịu trách nhiệm trước Nhân dân của tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh và cơquan hành chính nhà nước trung ương Và như vậy, vị trí, vai trò vàthẩm quyền của Hội đồng nhân dân tỉnh đáp ứng yêu cầu của Nhà nướcpháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân khi Hội đồng nhân dântỉnh là một cơ quan thực quyền, đủ thẩm quyền để quyết định mọi vấn đềcủa địa phương, đồng thời bảo đảm tính thống nhất toàn vẹn của quyềnlực nhà nước trên toàn bộ lãnh thổ
Bốn là, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh phải bảo
đảm được sự phân định rõ ràng giữa trách nhiệm của Hội đồng nhân dântỉnh với trách nhiệm của xã hội dân sự trên địa bàn tỉnh phù hợp vớinhững yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và
vì dân Nhà nước bóc lột và áp bức là hình thức tổ chức bạo lực có tổ
Trang 39chức của giai cấp thống trị áp đặt lên xã hội nhằm thống trị, cai trị xã hội
và cá nhân con người Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân,
vì dân không phải như vậy, nó đòi hỏi Nhà nước là một tổ chức quyềnlực làm đúng những nhiệm vụ, chức năng mà xã hội dân chủ và tự docủa mỗi cộng đồng, mỗi tổ chức và mỗi cá nhân cần đến Nhà nước.Đồng thời, bảo đảm cho xã hội dân sự được tồn tại và vận hành trongmôi trường tự do và tự chủ của mình Việc phân định này trước hết làxác định rõ nhiệm vụ, chức năng của Hội đồng nhân dân tỉnh như là cơquan công quyền của Nhà nước với nhiệm vụ, chức năng của các cơquan trực tiếp điều hành kinh tế trên địa bàn tỉnh Thời kỳ cơ chế kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, các cơ quan nhà nước, trong đó có Hội đồngnhân dân tỉnh có chức năng quản lý kinh tế, can thiệp trực tiếp và toàndiện vào các hoạt động kinh tế của xã hội thuộc tỉnh, bao cấp các hoạtđộng xã hội và chịu trách nhiệm về đời sống vật chất, tinh thần của mỗicộng đồng, thậm chí mỗi cá nhân trong địa bàn tỉnh Sau thời kỳ đổimới, chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và đòi hỏi cụ thểcủa Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân thì Hộiđồng nhân dân tỉnh có vai trò của một tổ chức công quyền thực hiện điềutiết nền kinh tế vĩ mô của tỉnh, không can thiệp trực tiếp vào hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và thị trường nói chung.Hội đồng nhân dân tỉnh được đổi mới theo hướng tinh gọn gắn với mụctiêu phục vụ xã hội, hỗ trợ xã hội Cần tách bạch vị trí, vai trò của Hộiđồng nhân dân tỉnh - cơ quan công quyền với các tổ chức xã hội trên địabàn tỉnh Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân đòihỏi xác định rõ ràng về mặt pháp luật mối quan hệ bình đẳng trước phápluật giữa Hội đồng nhân dân tỉnh với các tổ chức xã hội trên địa bàntỉnh Các tổ chức xã hội là các tổ chức tự nguyện của quần chúng, dochính quần chúng tự lập ra trong khuôn khổ luật pháp, đại diện ý chí, lợi
Trang 40ích của các hội viên Vì thế, nó không thể là công cụ của Nhà nước,không thể bị Nhà nước can thiệp quá mức cần thiết dưới mọi hình thức,
mà nó phải được độc lập cả về tổ chức và hoạt động, hoàn toàn tự quyết
và tự chịu trách nhiệm trên cơ sở điều lệ và các quy định của pháp luật.Nhà nước không thể bao cấp về tài chính và cơ sở vật chất cho tất cả các
tổ chức xã hội mà các tổ chức xã hội phải tự bảo đảm các nguồn tàichính, các phương tiện cần thiết cho hoạt động và tự quyết về bộ máy tổchức cũng như đội ngũ cán bộ của mình Chỉ có như vậy, Hội đồng nhândân tỉnh và các tổ chức xã hội tại địa phương của tỉnh mới có quan hệpháp lý bình đẳng với nhau trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam củadân, do dân và vì dân Sự bình đẳng đó tạo ra nhiều khả năng rộng lớncho hợp tác giữa Hội đồng nhân dân tỉnh với các tổ chức xã hội trongviệc xây dựng một nền chính trị mạnh mẽ tại địa phương của tỉnh Vìtính độc lập của các tổ chức xã hội sẽ là điều kiện tiên quyết cho các tổchức xã hội hoạt động hiệp thương bầu cử các đại biểu của các tầng lớpnhân dân vào Hội đồng nhân dân tỉnh; giám sát xã hội và phản biện xãhội các chủ trương, quyết sách của Hội đồng nhân dân tỉnh, phối hợphoạt động có hiệu quả trong việc thực hiện chức năng thi hành Hiếnpháp, pháp luật trên địa bàn tỉnh, giám sát xã hội các cấp chính quyềnnhà nước tại địa phương của tỉnh trong việc thực hiện pháp luật và bảo
vệ lợi ích chính đáng của nhân dân địa phương của tỉnh theo đúng yêucầu của đời sống dân chủ Luật tổ chức chính quyền địa phương năm
2015 quy định quan hệ công tác giữa chính quyền địa phương với Ủyban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở địaphương (Điều 15), qua đó thấy được tính độc lập và vai trò của các tổchức xã hội tại địa phương trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Những yêu cầu chung của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ViệtNam của dân, do dân đối với tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân