1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên

65 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THÙY Tên đề tài: "NGHIấN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH Lí, LÂM SÀNG CỦA BỆNH DO ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS GÂY RA Ở LỢN GÂY NHIỄM VÀ LỢN NHIỄM TỰ NHIấN TẠI THÁI NGUYấN" KHểA LU

Trang 1

NGUYỄN THỊ THÙY

Tên đề tài:

"NGHIấN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH Lí, LÂM SÀNG

CỦA BỆNH DO ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS

GÂY RA Ở LỢN GÂY NHIỄM VÀ LỢN NHIỄM TỰ NHIấN

TẠI THÁI NGUYấN"

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Chăn nuụi thỳ y Khoa : Chăn nuụi - Thỳ y Khúa học : 2011 - 2015

Thỏi Nguyờn, năm 2015

Trang 2

NGUYỄN THỊ THÙY

Tên đề tài:

"NGHIấN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH Lí, LÂM SÀNG

CỦA BỆNH DO ẤU TRÙNG CYSTICERCUS TENUICOLLIS

GÂY RA Ở LỢN GÂY NHIỄM VÀ LỢN NHIỄM TỰ NHIấN

TẠI THÁI NGUYấN"

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chớnh quy Chuyờn ngành : Chăn nuụi thỳ y

Khúa học : 2011 - 2015

Giảng viờn hướng dẫn : ThS Nguyễn Hữu Hũa

Thỏi Nguyờn, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau quá trình học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến nay

em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cùng các thầy cô giáo trong khoa, đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường

Với lòng biết ơn chân thành, em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, thầy giáo ThS Nguyễn Hữu Hòa và cô giáo ThS Nguyễn Thu Trang đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này

Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ nhân viên, ban lãnh đạo, cán bộ

kỹ thuật và các anh, chị tại Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, cổ

vũ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Em xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Sinh viên

Nguyễn Thị Thùy

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Thời gian hoàn thành giai đoạn phát triển của ấu trùng

Cysticercus tenuicollis trong lợn gây nhiễm 30

Bảng 4.2: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh

Cysticercus tenuicollis do gây nhiễm 32

Bảng 4.3: Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn gây nhiễm và đối chứng (thời điểm 45 ngày sau gây nhiễm) 33

Bảng 4.4: Công thức bạch cầu của lợn gây nhiễm và đối chứng (thời điểm 45 ngày sau gây nhiễm) 36

Bảng 4.5: Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh 39

Bảng 4.6: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn tại các địa phương 42

Bảng 4.7: Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở lợn trên thực địa 45

Bảng 4.8: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên thực địa 46

Bảng 4.9: Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng

Cysticercus tenuicollis ký sinh 48

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicolls 34

Hình 4.2: Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của lợn nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis so với lợn khỏe 36 Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở các địa

phương 42

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

cs: Cộng sự TT: Thể trọng

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 4

2.1.2 Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loại gia súc 12

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 19

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 19

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 24

3.2.1 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn gây nhiễm 24

3.2.2 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn ở thực địa 24

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Phương pháp xác định lợn nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis 25

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh học bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis 25

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn gây nhiễm 29

4.1.1 Kết quả mổ khám lợn gây nhiễm 29

Trang 8

4.1.2 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh Cysticercus tenuicollis do gây

nhiễm 31

4.1.3 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học lợn bị bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis do gây nhiễm 33

4.1.4 Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh 38

4.1.5 Những biến đổi vi thể ở cơ quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh 40

4.2 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis ở lợn trên thực địa 41

4.2.1 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn trên thực địa 41

4.2.2 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở lợn trên thực địa 44

4.2.3 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên thực địa 46

4.2.4 Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh 47

PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.1.1 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn gây nhiễm 49

5.1.2 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis ở lợn trên thực địa 49

5.2 Tồn tại 50

5.3 Đề nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

Trang 9

trong xoang bụng và phát triển thành ấu sán Cysticercus tenuicollis sau 3 tháng Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và gây bệnh Ấu trùng là những bọc nước mang đầu sán dây Taenia hydatigena,

có kích thước to, nhỏ không đều nhau bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, phổi Vì thế, trong quá trình giết mổ có thể dễ nhầm lẫn ấu trùng với các bọc nước bình thường, từ đó không có biện pháp tiêu diệt ấu trùng, làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người và gia súc

Bệnh Cysticercus tenuicollis phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt

là những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ Số lượng ấu sán nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng hoàng đản, con vật mất tính thèm ăn, sốt cao Số lượng ấu sán nhiều còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính

Trang 10

Tuy nhiên, việc chẩn đoán bệnh đối với súc vật còn sống rất khó khăn vì không thể chẩn đoán bằng các phương pháp xét nghiệm phân, xét nghiệm máu và các xét nghiệm khác Điều đáng quan tâm là hiện nay, bệnh do ấu

trùng Cysticercus tenuicollis gây ra cho đàn gia súc chưa có thuốc điều trị đặc

hiệu (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2012 [13])

Ở Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay, chó đã trở thành vật nuôi phổ biến và quan trọng Tuy nhiên hình thức nuôi chủ yếu vẫn là chăn nuôi thả rông Khi chó bị nhiễm sán dây thì rất dễ phát tán mầm bệnh, làm cho người

và các vật nuôi khác dễ nhiễm và mắc bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Đặc biệt, việc đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y trong giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng chó thải phân bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh

ấu sán trên vật nuôi là khá cao, đồng thời thực trạng giết mổ trâu, bò, lợn, dê như hiện nay khiến nguy cơ chó nhiễm sán dây cũng tăng lên

Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu về đặc điểm của bệnh do ấu

trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn, để từ đó xây dựng biện pháp phòng

chống thích hợp là hết sức cần thiết Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây ở lợn, mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm

bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên"

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

Nghiên cứu đặc điểm bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis

gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại thành phố Thái Nguyên Đây là

cơ sở khoa học để xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng

Trang 11

Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn

nuôi ở Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm

về đặc điểm bệnh học bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn

- Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng

các biện pháp phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn

chế tỷ lệ và cường độ nhiễm ở lợn, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis

2.1.1.1 Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó

* Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học

Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song

dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [8]) Theo Faust E C và cs (1929) [29] đã lập nên một phân giống là Spirometra trong giống Diphyllobothrium Mueller (1935) [36] đã mô tả loài Diphyllobothrium mansonoides trên mẫu vật tìm được từ chó và mèo ở vùng Syracus (New York) Đến năm 1937 Muller đề xuất giống Spirometra và thống nhất đổi tên loài Diphyllobothrium mansonoides thành loài Spirometra mansonoides

Rudolphi (1918) đã phát hiện ấu trùng của sán dây loài Spirometra ericnaice

trên loài nhím ở châu Âu Faust E C và cs (1929) [29] cũng đã phát hiện ấu trùng loài này trên nhím ở Trung Quốc và dạng sán trưởng thành ở chó Khi nghiên cứu

về hệ enzym của loài Spirometra erinacei ở Nhật Bản và ở Australia, Fukumoto

S và cs (1992) [30] nhận xét rằng hai loài sán này là giống nhau

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [23], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [7], (2003) [8], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam

đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:

Ngành sán dẹp (Plathelminthes)

Lớp Cestoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930

Trang 13

Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863

Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei

Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782

Loài Multiceps multiceps Leske, 1780 Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940

Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782

Phan Thế Việt và cs (1977) [23], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [7], Nguyễn Thị Lê

và cs (1996) [16], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta

Trang 14

đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam gồm:

Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: tính đến thời điểm hiện tại đã phát hiện hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo

Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea

Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [14] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam

Việc mô tả hình thái các loài sán dây còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam Cande J (1870) là người đầu tiên mô tả

loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở Nam Bộ trên người Sau này

một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam (Đỗ Dương Thái, Đặng Văn Ngữ, 1970; Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh, 1976) cho rằng, loài thuộc giống

Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni Sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài Theo Yamaguti (1959), loài Diphyllobothrium mansoni là tên đồng vật của loài Spirometra erinacei-europaei thuộc giống Spirometra (họ Diphyllobothriidae)

Joyeux và Houdemer (1928), Nguyễn Thị Kỳ (1977) đã thống kê ở mèo

nhà, cầy, chó Hà Nội có loài Diphyllobothrium reptans Theo Yamaguti (1959), loài này thuộc giống Spirometra

Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S L., Skrjabin A S., Serdukov A M (1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên đồng vật của một loài nào trong họ này Khi nói về lịch

sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm

Trang 15

và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum Tuy nhiên, các tác giả

có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (Nguyễn

Thị Kỳ, 2003 [8])

Theo Nguyễn Thị Kỳ (2003) [8] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài

Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân loại

và không có mẫu Nguyễn Thị Kỳ (2003) [8] đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại

và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh 1 loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937

Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1])

* Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó

Phan Thế Việt và cs (1977) [23], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [7], Nguyễn Thị

Lê và cs (1996) [16], Nguyễn Thị Kỳ (2003) [8] cho biết:

Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu

trắng hoặc trắng ngà Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau)

Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc Ít khi vòi thiếu móc Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài

Trang 16

Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái,

có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán

lá là không có hệ tiêu hoá Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ

Cyclophyllidea)

Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc Phần bên trong chứa đầy nhu mô Bên trong lớp cơ là các khí quan của sán Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể

Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang

Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm Hô hấp theo kiểu yếm khí

Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính

Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn Sự phát

Trang 17

triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung

Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục Số lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân loại mỗi loài Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai Lông gai nằm trong nang lông gai Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi tinh Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang lông gai thì gọi là túi tinh trong Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi giao phối Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau

Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở phía trước Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào trứng) Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh Trứng thụ tinh được đưa vào ootyp Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng Từ tuyến noãn hoàng các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng Tuyến vỏ tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng Trong ootyp, trứng thụ tinh được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung Cấu tạo tử cung của sán dây

rất khác nhau Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống

cong, dẫn từ ooptyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt Ở những đốt sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng Ở

sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài Ở những

Trang 18

sán dây này tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái túi chứa trứng Trứng được rơi ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài, ở nơi mà các đốt sán dây già được thải ra cùng với phân vật chủ

Trứng sán dây bộ Cyclophyllidea hình tròn hoặc hơi bầu dục, có 4 lớp

vỏ, trong có phôi 6 móc Còn trứng sán dây bộ Pseudophyllidea giống trứng

sán lá, một đầu có nắp (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [9]

* Chu kỳ sinh học của sán dây chó

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [19], chu kỳ sinh học của

sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp Ở bộ Cyclophyllidae

trứng chứa thai trùng sáu móc đã hình thành Vào dạ dày ký chủ, thai trùng sáu

móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi khác nhau: Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid Ở bộ Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid Những dạng ấu trùng này sống lâu

hay chóng ở ký chủ trung gian và phải được một ký chủ cuối cùng thích hợp nuốt vào mới phát triển thành sán trưởng thành

Để hoàn thành vòng đời, sán dây ký sinh ở chó cần vật chủ trung gian là nhiều loài động vật khác nhau, có thể là động vật có xương sống, hoặc có thể

là động vật không xương sống Có loài cần 1 ký chủ trung gian để hoàn thành vòng đời, nhưng cũng có loài cần 2 ký chủ trung gian mới hoàn thành vòng đời

Các họ sán dây khác nhau có chu kỳ sinh học khác nhau Các loài sán dây:

Spirometra erinacei-europae, Spirometra mansonoides, Dipylidium caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multiceps ký sinh ở ruột của

chó Chó là vật chủ cuối cùng của sán, giúp sán hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục

Trang 19

2.1.1.2 Đặc điểm của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Cysticercus tenuicollis là giai đoạn ấu trùng của sán dây trưởng thành Taenia hydatigena Ký chủ của ấu trùng này là lợn, dê, cừu, trâu, bò, hươu, đôi khi thấy cả ở ngựa và người Ký chủ của sán dây trưởng thành Taenia hydatigena là chó, chó sói, cáo và các thú ăn thịt khác Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên mặt gan, màng mỡ chài, màng treo

ruột, lách… Sán dây trưởng thành ký sinh ở ruột non của ký chủ (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [13])

Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [16], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là

những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ

Theo Johannes Kaufmann (1996) [32], ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký

sinh ở bề mặt gan, mỡ màng chài, khoang bụng của cừu và gia súc Gia súc nhiễm ấu sán thường không có biểu hiện triệu chứng bệnh, trừ khi nhiễm một

số lượng lớn ấu trùng ở nhu mô gan, tình trạng thiếu máu và chết có thể xảy ra

Ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt gan, lách, màng treo

ruột, màng mỡ chài… của gia súc (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [11])

Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [16], ấu trùng Cysticercus tenuicollis là

những dạng hình túi có cổ mỏng, kích thước 8 – 80 x 8 – 100 mm, chứa dịch bên trong Thành bên trong túi có một đầu sán dây có cổ

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis là một bọc có kích thước to nhỏ khác nhau, có thể bằng hạt đậu, quả

cam hoặc quả bưởi, trong bọc có nhiều nước

Cấu tạo của ấu trùng Cysticercus tenuicollis: bên ngoài là mô liên kết, bên

trong bọc chứa dịch trong suốt và một đầu sán bám vào màng trong của bọc Đầu sán có đường kính 1 mm, có 4 giác bám và 29 – 44 móc, giống đầu sán dây trưởng thành (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [13])

Trang 20

Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở ký

chủ trung gian, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sammuel – Girma G Zewde, 2010 [42])

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6] cho biết: căn bệnh là ấu

trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột,

lách của lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người Kích thước ấu trùng khác nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra phía ngoài

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], vòng đời của ấu trùng

Cysticercus tenuicollis được trình bày như sau: Đốt sán chửa theo phân chó,

chó sói ra ngoài, vỡ ra, giải phóng nhiều trứng sán Trứng sán lẫn trong thức

ăn, nước uống Nếu ký chủ trung gian là lợn, trâu, bò, dê, cừu nuốt vào thì đến

dạ dày, ấu trùng 6 móc nở ra, chui vào mạch máu niêm mạc ruột, rồi tuần hoàn máu về bề mặt gan, các khí quan trong xoang bụng và phát triển thành

ấu sán Cysticercus tenuicollis sau 3 tháng Khi chó và các loài ăn thịt khác ăn

phải các khí quan có ấu sán, vào đường tiêu hóa, màng bọc của ấu sán được phân hủy, đầu sán nhô ra bám vào niêm mạc ruột non, lấy dinh dưỡng và phát triển thành sán trưởng thành

2.1.2 Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loại gia súc

2.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh Cysticercus tenuicollis

Bệnh Cysticercus tenuicollis xảy ra trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực

nông thôn Tỷ lệ nhiễm ở các khu vực thay đổi rất nhiều Dịch bất ngờ có thể xảy ra do điều kiện khí hậu có lợi cho sự tồn tại của trứng trong đồng cỏ hoặc các hoạt động của động vật hoang dã mang bệnh (Junquera P., 2013) [33]

Trang 21

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13], bệnh Cysticercus tenuicollis thấy ở

lợn nhiều hơn các loài gia súc khác Tỷ lệ lợn nhiễm ấu trùng sán cao hay thấp phụ thuộc vào số lượng chó nuôi và tập quán nuôi lợn thả rông hay nuôi nhốt Ở Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh tỷ lệ nhiễm cao vì nuôi nhiều chó Ngược lại, ở Hà Nam và Nam Định tỷ lệ nhiễm rất thấp vì nuôi ít chó

Mổ khám 748 dê địa phương ở 4 tỉnh (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Cao Bằng), Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [10] cho biết, tỷ lệ nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis là 21,12%, số lượng biến động từ 1-35 ấu trùng/dê

Wondimu A., Abera D., Hailu Y (2011) [43] cho biết: tỷ lệ nhiễm ấu

trùng Cysticercus tenuicollis trên dê ở Ethiopia là 21,01% và đã gây thiệt hại

lớn về kinh tế

Theo Mohammad Hossein Radfar và cs (2005) [34], trong thời gian từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 3 năm 2002, có 1336 cừu và 1674 dê được giết

mổ tại lò mổ Kerman, Đông Nam Iran, trong đó 172 cừu (12,87%) và 302 dê

(18,04%) bị nhiễm Cysticercus tenuicollis

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6] cho biết: ở những vùng nuôi nhiều

chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều

Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6]:

- Phân bố của bệnh: phổ biến khắp các vùng, lợn nước ta nhiễm khoảng 44% Ở những nơi nuôi nhiều chó, bệnh càng phổ biến và gây nhiều thiệt hại

- Biến động nhiễm ấu sán theo tuổi: nhìn chung tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi lợn, vì số lần tiếp xúc với căn bệnh tăng theo tuổi

+ Lợn con dưới 2 tháng: tỷ lệ 48,2%

+ Lợn từ 3 - 4 tháng: tỷ lệ 46,3%

+ Lợn từ 5-7 tháng: tỷ lệ 65,7%

Trang 22

+ Lợn trên 8 tháng: tỷ lệ 60,0%

Tình hình nhiễm của lợn và các động vật khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán dây trưởng thành Bệnh thường có ở lợn nuôi gần với chó Còn trâu, bò thả trên bãi chăn ít bị hơn

2.1.2.2 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng

* Đặc điểm gây bệnh của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

Các vật chủ trung gian bị nhiễm bệnh khi ăn phải thức ăn hoặc nước bị

nhiễm trứng hoặc phân mang trứng của Taenia hydatigena qua cây dạng cỏ hoặc thức ăn lưu trữ Một đoạn mang trứng duy nhất chứa hàng ngàn trứng Ô nhiễm thức ăn có thể xảy ra thông qua phân chó Trứng có thể tồn tại ngoài

môi trường trong vài tháng

Trong quá trình hoàn thành giai đoạn ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở ký

chủ trung gian, các ấu trùng 6 móc chui qua niêm mạc ruột, theo máu đến bề mặt gan, màng treo ruột, phổi, gây ra những tổn thương lớn ở các cơ quan này (Woinshet Sammuel – Girma G Zewde, 2010 [42])

Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ Sau khi

gia súc nuốt trứng sán dây Tenia hydatygena, vào dạ dày, vỏ trứng bị phân

hủy, ấu trùng sáu móc nở ra, chúng qua niêm mạc ruột, sau 24 giờ theo máu vào đến gan, dừng lại ở các nhánh tĩnh mạch cửa, rồi vào gan Tại gan, ấu trùng đào rãnh, gây xuất huyết ở gan, gây viêm gan cấp tính, có khi gây viêm màng bụng Ấu trùng di hành chui qua mặt gan vào xoang bụng, ký sinh ở màng treo ruột, màng mỡ chài, ký sinh ở bề mặt phổi gây viêm phổi, viêm màng ngực Số lượng ấu trùng nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan của

cơ quan tiêu hóa, gây hiện tượng hoàng đản Hơn nữa còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực (Nguyễn Thị Kim Lan, 1999 [10])

Ấu trùng di hành chui qua mặt gan vào xoang bụng, ký sinh ở màng treo ruột, màng mỡ chài, phổi

Trang 23

Trong gan, ấu trùng di chuyển thông qua các mô gan tới các bề mặt cơ quan (thanh mạc) trong thời gian khoảng 30 ngày Trên bề mặt các cơ quan bụng khác nó hình thành các nang nước Phát triển thành u nang cần 35 đến

55 ngày sau khi nhiễm bệnh Các nang có thể lây nhiễm cho chó trong vài tháng (Junquera P., 2013) [33]

* Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh Cysticercus tenuicollis

Cysticercus tenuicollis không có tác dụng gây bệnh trong khi nằm trong

ổ bụng Khi nhiều ấu trùng di chuyển đồng thời qua gan ta có thể nhìn thấy dấu hiệu lâm sàng Sự di cư có thể gây hủy hoại trầm trọng mô gan và các bệnh lý nhìn thấy trong gan tương tự như quan sát thấy trong nhiễm sán lá gan

(Junquera P., 2013) [33]

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6] bệnh thường ở thể mãn tính, triệu chứng không rõ ràng Khi bị nặng, giai đoạn đầu con vật gầy yếu, hoàng đản, tiếp đó là viêm màng bụng cấp tính, thường sốt cao, khi ấn mạnh vào bụng con vật thấy đau, bụng to và căng, một số trường hợp thấy xoang bụng xuất huyết Khi cấp tính gan sưng to, mặt gan gồ ghề, màng fibrin phủ kín, có nhiều điểm tụ huyết, có nhiều rãnh do ấu trùng di hành trong gan Thời

kỳ đầu nhiều nước, thời kỳ cuối nước màu vàng Một vài trường hợp viêm màng bụng cấp tính có nhiều dịch thẩm xuất lẫn máu, đầu sán có trong dịch đó

Có thể nhận thấy những triệu chứng của súc vật bị bệnh Cystycercus tenuicollis là: con vật mất tính thèm ăn, suy nhược cơ thể, hoàng đản và rối

loạn tiêu hóa (Herenda D., 2000)

Giai đoạn đầu con vật có biểu hiện gầy yếu, hoàng đản, tiếp đó có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính, thường sốt cao 40-41oC, khi ấn tay vào bụng con vật có phản ứng đau (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [13])

Cysticercus tenuicollis thường gây bệnh không nghiêm trọng cho gia

súc, nhưng nhiễm trùng nặng có thể gây viêm gan chấn thương khi nhiều

Trang 24

ấu trùng di chuyển qua gan Trường hợp nặng có thể tử vong, chủ yếu là ở động vật non Thiệt hại kinh tế chủ yếu là do sự tổn thương của gan và các

cơ quan khác

Các bệnh lý củabệnh Cysticercus tenuicollis ở dê đã được nghiên cứu vào ngày 7, 15, 30 và 60 sau khi gây nhiễm Các tổn thương đặc trưng thể hiện vào ngày thứ 15 sau khi nhiễm bệnh bao gồm tích tụ của một số lượng lớn chất lỏng fibrin trong xoang phúc mạc và ngực Xuất huyết cũng xuất hiện

trên bề mặt gan và trong nhu mô do di cư Cysticercus tenuicollis.Các tổn thương nhỏ trong gan bao gồm các u nang với một khối lượng của fibrin và hồng cầu.Các tế bào gan bị thoái hóa chủ yếu là do sự phá hủy nhu

mô.Xoang được giãn ra và ống mật bắt đầu có những thay đổi thoái hóa.Lá phổi của động vật bị giết chết vào ngày 15, thể hiện những đặc trưng của bệnh

khí thũng và xuất huyết với tác hại của Cysticercus tenuicollis.Màng phổi xuất hiện phù nề.Phế nang cho thấy sự hiện diện của dịch rỉ huyết thanh

(Pathak K.M và cs, 1982 [38])

Cysticercus tenuicollis với số lượng lớn ký sinh gây ra viêm gan, hoại tử,

thoái hóa dạng hạt, viêm phổi (Nath S., Pal S., Sanyal P.K., Ghosh R.C., Mandal S.C., 2010) [37]

Các ấu trùng của Taenia hydatigena gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi do tác hại bệnh lý và tỷ lệ tử vong cao (Abidi và cs, 1989) [24] Di cư của Cysticercus

trong gan có thể gây ra xuất huyết và viêm phúc mạc (Blazek và cs, 1985 [26])

2.1.2.3 Chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis

Theo Junquera P (2013) [33], cho đến nay chẩn đoán bệnh do ấu trùng

Cysticercus tenuicollis chỉ có thể thực hiện khi gia súc chết.

Vật còn sống rất khó chẩn đoán, có thể chọc dò để tìm đầu sán trong dịch xoang ngực và bụng Thường chẩn đoán sau khi chết, mổ con vật tìm ấu sán nơi chúng ký sinh (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [6]

Trang 25

Ba loại kháng nguyên được tìm thấy từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis

có trọng lượng phân tử là: 36.2KDa, 23.9KDa và 9.6KDa Các kháng nguyên

này có thể được dùng để chẩn đoán huyết thanh học bệnh do Cysticercus tenuicollis gây ra trên động vật (Goswamia A., Das M., Laha R., 2013) [31] 2.1.2.4 Phòng, trị bệnh

* Điều trị

Ấu trùng sán dây Taenia hydatigena gây bệnh ấu sán cổ nhỏ ở người,

lợn, trâu, bò, dê, cừu , hiện vẫn chưa có thuốc điều trị (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [9])

Theo Junquera P., 2013 [33], việc sử dụng thường xuyên thuốc trị giun

sán không được chỉ định để ngăn ngừa gia súc nhiễm với Cysticercus tenuicollis, có báo cáo cho rằng Albendazole và Praziquantel có hiệu quả,

nhưng chỉ ở liều lượng cao hơn so với những điều trị thông thường, và kết quả có thể không đáng tin cậy

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] cho biết, có thể điều trị bệnh ấu sán cổ nhỏ như điều trị bệnh gạo lợn với phác đồ như sau:

Praziquantel: là dẫn xuất của pirazino – Iso quinolin

- Cơ chế tác dụng:

Tác dụng diệt sán dây nhanh Thuốc làm co thắt ngay lập tức các cơ của sán, tiếp đó là liệt và chết Thuốc còn làm tổn thương lớp vỏ bọc của sán Thuốc đặc biệt tốt với sán trưởng thành, cũng tác dụng tốt với các ấu trùng

- Dược động học:

Hấp thu tốt, nhanh ở ruột Từ máu lại qua niêm mạc ruột để vào ống ruột Thuốc nằm ẩn trong các tuyến Lieberkun Niêm mạc ruột và các chất tiết ở ruột bao bọc lấy đầu con sán, tẩm thuốc lên đầu sán, như vậy tốt hơn những thuốc tác dụng theo hướng lumen (khoang), tức là thuốc ở trong lòng ống ruột

Trang 26

Thuốc phân bố đồng đều ở tất cả các tổ chức khí quan, thuốc vượt qua hàng rào máu – não Các dạng phân hủy của thuốc được thải qua nước tiểu

- Tác dụng phụ: thuốc ít độc Ở chó dùng liều gấp 40 lần liều điều trị cũng chỉ gây nôn là dấu hiệu nặng nhất Sử dụng được cho gia súc có chửa

- Liều: 30mg/kg TT/ngày x 15 ngày, chia thành 2, 3 đợt (mỗi đợt cách nhau 10 - 20 ngày)

- Praziquantel: liều 15 - 20 mg/kg TT ngày đầu, những ngày sau dùng Albendazonle 15mg/kg TT/ngày x 30 ngày, chia thành 2 - 3 đợt (mỗi đợt cách nhau 10 - 20 ngày) Kiểm tra thấy súc vật bị nặng thì nên loại thải

* Phòng bệnh

Phá vỡ chu kỳ lây nhiễm liên quan đến việc kiểm soát chu kỳ giữa chó và các vật chủ trung gian Điều trị cho chó thường xuyên với thuốc trị giun sán tiêu diệt sán dây và ngăn ngừa chó ăn thịt cừu, dê sống hoặc bộ phận nội tạng

là cần thiết để kiểm soát chu kỳ của nhiễm trùng Hạn chế ô nhiễm đến mức tối thiểu bằng cách dọn dẹp phân chó cũng sẽ giúp hạn chế bệnh Điều này có thể thực hiện được trong không gian nhỏ nhưng kiểm soát của phân chó rõ ràng là

ít hơn thực tế trên đồng cỏ lớn Ký sinh trùng cũng có thể lây truyền giữa nai hoang dã và chó sói Bắc Mỹ Khu vực đồng cỏ và cỏ khô hay thức ăn lưu trữ nên được rào chắn để giữ cho chó sói Bắc Mỹ và chó hoang dã khác đi vào

Cách phòng ngừa tốt nhất là hạn chế sự nhiễm trứng sán Taenia hydatigena

vào nguồn thức ăn, nước uống của vật nuôi (Junquera P., 2013) [33]

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6], để phòng bệnh cần không cho chó nhiễm phải sán trưởng thành, không cho chó ăn các khí quan có ấu trùng, (gan, phổi, lách ) Khi mổ gia súc, thấy ấu sán phải tập trung để diệt

ấu trùng, định kỳ tẩy sán dây cho chó, không nuôi chó ở các gia đình và trại chăn nuôi gia súc

Trang 27

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo kết quả nghiên cứu của Dalimi A và cs (2006) [27], kiểm tra 83 chó ở

các tỉnh phía tây của Iran cho thấy: có 38,55% chó nhiễm Dipylidium caninum; 53,01% chó nhiễm Taenia hydatigena; 7,23% chó nhiễm Taenia ovis; 4,82% chó nhiễm Multiceps multiceps; 13,25% chó nhiễm Echinococcus granulosus

Theo kết quả nghiên cứu của Yotko K và cs (2009) [45], tỷ lệ nhiễm

loài Taenia hydatigena của chó ở vùng Tây Bắc Bulgaria là 47,85%

Một nghiên cứu khác của Xhaxhiu D và cs (2010) [44] từ năm 2004 – 2009:

mổ khám 111 chó từ các vùng ngoại ô Tirana của Albania để kiểm tra giun sán

đường tiêu hóa, phát hiện được 3 loài sán dây là Dipylidium caninum (65,8%); Taenia hydatigena (16,2%); Echinococcus granulosus (2,7%)

Bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis của sán dây Taenia hydatigena

xảy ra trên toàn thế giới, chủ yếu ở khu vực nông thôn.Tỷ lệ nhiễm ở các khu

vực thay đổi rất nhiều Theo Over H T (1992), tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở dê của Argentina là 25%; ở Etiopia là 37% (ở cừu) và 16% (ở dê);

ở Thổ Nhĩ Kỳ là 57% (ở cừu) và ở Ấn Độ là 37% Các nước ở khu vực Đông

Nam Á đều thấy gia súc nhiễm Cysticercus tenuicollis

Theo nghiên cứu của Mohammad Mirzaei, Hadi Rezaei (2014) [35] về tỷ

lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của cừu và dê từ tháng 4 năm 2012

đến tháng 4 năm 2013 ở Tabriz, Iran: tổng số con kiểm tra là 2.400 trong đó

có 1.400 con cừu và 1000 con dê Kết quả cho thấy 4,37% tổng số con điều

tra có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh, khoảng 4,9% ở dê và 4% ở

cừu Tỷ lệ nhiễm ở nhóm 12 tháng tuổi trở lên cao với 54 con cừu (chiếm 4,67%) và 45 con dê (chiếm 6,04%) Nhóm dưới 12 tháng tuổi có 2 con cừu (chiếm 0,8%) và 4 con dê (chiếm 1,56%) Tỷ lệ nhiễm ấu trùng ở con cái cao với 37 con cừu (chiếm 6,54%) và 34 con dê (chiếm 6,47%) Trong khi đó ở

Trang 28

con đực có 19 con cừu (chiếm 2,27%) và 15 con dê (chiếm 3,15%) Tỷ lệ nhiễm cũng được ghi nhận ở một số cơ quan nội tạng, trong đó gan có tỷ lệ cao nhất: 23 trường hợp ở cừu (chiếm 1,64%) và 20 trường hợp ở dê (chiếm 2,0%); cơ hoành

có tỷ lệ thấp nhất: 3 trường hợp ở cừu (chiếm 0,21%) và 3 trường hợp ở dê (chiếm 0,4%) Các kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng nhiễm ấu trùng

Cysticercus tenuicollis của dê và cừu phổ biến ở Tabriz, Iran

Kiểm tra sự có mặt của ấu trùng Cysticercus tenuicollis trong 3.199 động

vật (trong đó có 760 con cừu và 2439 con dê) tại nhà và các cửa hàng khác

nhau ở miền Bắc Ấn Độ Kết quả có 135 con đã tìm thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis với tỷ lệ là 4,22%, dê có tỷ lệ nhiễm cao là 4,83%; ở cừu là 2,23%

Hầu hết các ấu trùng có mặt tại xoang bụng, một số ít được thấy ở gan (Singh

B B (2013) [41])

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nguyễn Thị Kỳ (1994) [7] cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán dây còn chưa được đầy đủ

Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước

Năm 1870, Cande J lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm

thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam) Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã

Kết quả kiểm tra 130 chó tại thành phố Huế của Lê Hữu Nghị và Nguyễn Văn Duệ (2000) [17] cho thấy: chó nhiễm sán dây rất sớm, giai đoạn sơ sinh đến

một năm tuổi đã nhiễm với tỷ lệ cao Tỷ lệ nhiễm Dipylidium caninum là 13,07%

Nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng từ năm 1982 – 1985 cho thấy: trong 138

chó bị bệnh sán dây có 101 chó nhiễm Dypilidium caninum, chiếm tỷ lệ 73,91%

Trang 29

Chó con từ 27 – 30 ngày tuổi đã bị nhiễm sán Chó nuôi ở thành phố chủ yếu bị

bệnh sán dây do Dypilidium caninum (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng, 2002 [14])

Theo Nguyễn Hữu Hưng và Cao Thanh Bình (2009) [4], kiểm tra 597 mẫu phân chó tại thành phố Cần Thơ, có 95 mẫu nhiễm sán dây (15,91%)

Chó nhiễm sán dây Dipylidium caninum ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ nhiễm biến động

từ 14,78 – 16,58%

Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó

Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và

thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó

có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis

Năm 1963, Trịnh Văn Thịnh đã có công trình tổng kết được hầu hết

những nghiên cứu trước đó, trong đó tác giả đã đề cập đến ấu trùng Coenurus cerabralis của loài sán dây Multiceps multiceps ở cừu

Năm 1967 hai nhà ký sinh trùng học người Ba Lan là Drozdz và Malczewski đã công bố các loài sán dây ở động vật nhai lại 8 tỉnh miền Bắc,

trong đó có ấu trùng Cysticercus tenuicollis của loài Taenia hydatigena

Nguyễn Thị Kỳ (2003) [8] đã mổ khám 174 cá thể thuộc 21 loài của bộ ăn thịt kết quả cho thấy, trong các loài mèo rừng, cầy giông, cầy hương, cày lỏn và chó nhà

được mổ khám phát hiện thấy các loài Taenia hydatigena, Taenia pisifomis, Multiceps multiceps, Spirometra erinacei-europaei, Dipylidium caninum

Phạm Sỹ Lăng (1992) cho biết: tẩy cho 67 trường hợp chó nhiễm sán dây, thấy tỷ lệ sạch sán và khỏi bệnh đạt 85% khi dùng Yomesan (còn có tên

là Niclosamid (dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [15])

Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [2]: cơ chế tác dụng của Niclosamid là ức chế sự hấp thu đường và ngăn cản quá trình phosphoryl hóa

Trang 30

trong ty lạp thể của sán dây Sự phong tỏa chu trình Krep dẫn đến tích lũy acid lactic và giết chết sán Sự kích thích quá mức hoạt động của adenosine triphosphate (ATP) của ty lạp thể có thể liên quan đến tác dụng của Niclosamid với sán dây Sán dây chết và bị nát trong đường tiêu hóa trước khi rời ký chủ, vì vậy không tìm thấy đầu và đốt sán trong phân gia súc được tẩy

Kết quả kiểm tra ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở lợn của Phạm

Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6] cho thấy: Lợn con dưới 2 tháng tuổi, tỷ lệ nhiễm 48,2%; lợn 3 – 4 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 46,3%, lợn 5 – 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 65,7% và lợn trên 8 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 60,00%

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2011) [12] đã mổ khám 1273 trâu, bò, lợn của

ba huyện thành thuộc tỉnh Phú Thọ, phát hiện 294 con nhiễm ấu sán Cysticercus tenuicollis (23,10%), trong đó tỷ lệ ở trâu biến động từ 10,59 - 31,78%, ở bò từ

9,82 - 28,10% và ở lợn từ 10,28 - 37,66% với cường độ nhiễm từ 1 - 56 ấu

sán/con Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây Taenia hydatigena ở chó và tỷ lệ nhiễm ấu sán Cysticercus tenuicollis ở trâu, bò, lợn là tương quan thuận rất chặt với hệ số tương quan lần lượt là: R = 0,881; 0,990 và 0,997

Trang 31

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lợn nuôi tại tỉnh Thái Nguyên

- Bệnh ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis ở lợn

* Thời gian nghiên cứu: 1/7/2014 – 16/12/2014

* Địa điểm nghiên cứu:

- Đề tài được thực hiện ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

+ Bệnh viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

+ Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu

* Động vật trong nghiên cứu:

- Lợn ở Thái Nguyên (mổ khám thu thập ấu trùng sán dây

Cysticerscus tenuicollis)

- Lợn 16 con (2 tháng tuổi, khỏe mạnh) bố trí thí nghiệm nghiên cứu bệnh học

bệnh Cysticercus tenuicollis

* Các loại mẫu dùng trong nghiên cứu:

- Mẫu ấu trùng sán dây Cysticerscus tenuicollis thu thập từ lợn

- Mẫu máu lợn gây nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis và mẫu máu

lợn đối chứng

- Mẫu bệnh phẩm các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh

Trang 32

* Dụng cụ, thiết bị và hóa chất:

- Kính hiển vi quang học, kính lúp, cân điện tử

- Máy xác định các chỉ số huyết học Osmetech OPTI – CCA/Blood Gas Analfzen

- Lọ đựng hoá chất, lamen, lam kính, đĩa petri, chậu thủy tinh, cốc thủy tinh, chén nhuộm, ống đong, giá đựng tiêu bản,

- Bộ đồ mổ gia súc

- Hóa chất gồm: glyxerin, formol, thuốc nhuộm Carmin, Hematoxylin – Eosin, cồn (từ 70o đến 100o), nước cất, xylen, Baume-Canada,

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn gây nhiễm

- Thời gian hoàn thành giai đoạn phát triển của ấu trùng Cysticercus tenuicollis trong cơ thể lợn gây nhiễm

- Vị trí ký sinh, hình thái, khối lượng của ấu trùng Cysticercus tenuicollis

3.2.2 Nghiên cứu bệnh học bệnh Cysticercus tenuicollis trên lợn ở thực địa

- Vị trí ký sinh, hình thái và khối lượng của ấu trùng Cysticercus tenuicollis ở lợn

- Triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh

- Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh

Ngày đăng: 18/02/2016, 15:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Thời gian hoàn thành giai đoạn phát triển của ấu trùng - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Bảng 4.1 Thời gian hoàn thành giai đoạn phát triển của ấu trùng (Trang 38)
Bảng 4.2: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu  của lợn bị bệnh Cysticercus tenuicollis do gây nhiễm - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Bảng 4.2 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh Cysticercus tenuicollis do gây nhiễm (Trang 40)
Bảng 4.3: Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của  lợn gây nhiễm và đối chứng (thời điểm 45 ngày sau gây nhiễm) - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Bảng 4.3 Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn gây nhiễm và đối chứng (thời điểm 45 ngày sau gây nhiễm) (Trang 41)
Hình 4.1: Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Hình 4.1 Biểu đồ sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn (Trang 42)
Bảng 4.4: Công thức bạch cầu của lợn gây nhiễm và đối chứng - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Bảng 4.4 Công thức bạch cầu của lợn gây nhiễm và đối chứng (Trang 44)
Bảng  4.5: Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
ng 4.5: Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng (Trang 47)
Hình 4.3: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis (Trang 50)
Bảng 4.7: Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Bảng 4.7 Tỷ lệ các khí quan có ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh ở (Trang 53)
Bảng 4.8: Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh ấu trùng - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Bảng 4.8 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn bị bệnh ấu trùng (Trang 54)
Bảng  4.9: Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
ng 4.9: Bệnh tích đại thể ở các khí quan có ấu trùng (Trang 56)
Hình 1: Mổ khám lợn sau 15 ngày - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Hình 1 Mổ khám lợn sau 15 ngày (Trang 64)
Hình 2: Lấy mẫu máu lợn - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Hình 2 Lấy mẫu máu lợn (Trang 64)
Hình 8: Tổ chức gan  bị sung  huyết, xuất huyết - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Hình 8 Tổ chức gan bị sung huyết, xuất huyết (Trang 65)
Hình 7: Ấu trùng Cysticercus - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh do ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn gây nhiễm và lợn nhiễm tự nhiên tại Thái Nguyên
Hình 7 Ấu trùng Cysticercus (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w