Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy tại phường Ngọc Xu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ NGỌC CÔNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Hoàng Thị Hương Lý
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học, tại khoa Sinh - KTNN Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS
Lê Ngọc Công - người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến
thức, kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Sinh - KTNN, phòng Đào tạo -Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND phường Ngọc Xuân, Chi cục thống kê thành phố Cao Bằng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao bằng, Công ty Lâm nghiệp Cao Bằng, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Cao Bằng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn
Thái nguyên, tháng 4 năm 2015
Tác giả
Hoàng Thị Hương Lý
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu và chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật 4
1.1.2 Khái niệm về rừng 4
1.1.3 Tái sinh rừng 5
1.1.4 Phục hồi rừng 6
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 6
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 6
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 12
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phương pháp tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn 21
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu vật 25
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 25
2.2.5 Phương pháp điều tra trong nhân dân 25
Trang 6Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG
NGHIÊN CỨU 26
3.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 26
3.1.1 Vị trí địa lý 26
3.1.3 Khí hậu 27
3.1.4 Sông suối- thủy văn 28
3.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng 29
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu 30
3.2.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 30
3.2.2 Dân số, lao động và việc làm 32
3.2.3 Văn hóa - xã hội: 33
3.2.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng: 33
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
4.1 Các kiểu TTV thứ sinh tự nhiên đặc trưng trong KVNC 35
4.2 Đặc điểm của các kiểu TTV thứ sinh trong KVNC 35
4.2.1 Sự phân bố các taxon trong các kiểu TTV 35
4.2.2 Đặc điểm thành phần loài trong các kiểu TTV nghiên cứu 37
4.2.3 Đặc điểm thành phần dạng sống tại khu vực nghiên cứu 48
4.3 Đặc điểm cấu trúc hình thái của các kiểu thảm thực vật 57
4.3.1 Thảm cỏ thấp 59
4.3.2 Thảm cây bụi 59
4.3.3 Rừng thứ sinh 60
4.4 Đặc điểm tái sinh tự nhiên trong các kiểu TTV tại KVNC 62
4.4.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh 62
4.4.2 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 65
4.4.3 Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 67
4.4.4 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh 69
Trang 74.5 Đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên của các thảm thực vật tại KVNC 704.6 Đề xuất một số biện pháp thúc đẩy quá trình phục hồi rừng tại KVNC 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
D1.3 Đường kính ngang ngực
Hvn Chiều cao vút ngọn
KVNC Khu vực nghiên cứu
NN và PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ODB Ô dạng bản
OTC Ô tiêu chuẩn
TĐT Tuyến điều tra
TTV Thảm thực vật
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Kí hiệu độ nhiều (độ dày rậm) thảm tươi theo Drude 25
Bảng 4.1 Số lượng và tỷ lệ (%) taxon thực vật ở khu vực nghiên cứu 35
Bảng 4.2 Số lượng và tỷ lệ (%) các họ, chi, loài trong các kiểu thảm thực vật ở KVNC 47
Bảng 4.3 Thành phần dạng sống thực vật trong khu vực nghiên cứu 49
Bảng 4.4 Thành phần dạng sống trong các kiểu thảm thực vật 50
Bảng 4.5 Cấu trúc thẳng đứng của các quần xã trong khu vực nghiên cứu 58
Bảng 4.6 Cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu 63
Bảng 4.7 Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao ở các kiểu TTV 66
Bảng 4.8 Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang ở ba kiểu TTV 68
Bảng 4.9 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh ở KVNC 69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí OTC và ODB ở các kiểu TTV 22
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Cao Bằng (Khu vực nghiên cứu: phường Ngọc Xuân) 26
Hình 4.1 Sự phân bố các taxon ở KVNC 36
Hình 4.2 Tỷ lệ các họ, chi, loài trong các kiểu thảm thực vật ở KVNC 48
Hình 4.3 Thành phần dạng sống thực vật trong khu vực nghiên cứu 49
Hình 4.4 Sự phân bố dạng sống thực vật trong các kiểu TTV 50
Hình 4.5 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao ở ba kiểu TTV 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta Trong thực tế rừng đã đem lại lợi ích vô cùng to lớn: cung cấp gỗ, củi, là nơi cư trú của các loài động vật, thực vật, dự trữ các nguồn gen quý hiếm, điều hòa khí hậu, nguồn nước, hạn chế và ngăn chặn xói mòn,
lũ lụt, gió bão, bảo vệ sức khỏe con người…
Tuy nhiên trong vài thập kỷ gần đây diện tích rừng đã bị thu hẹp một cách đáng kể do nhiều nguyên nhân như: cháy rừng do tự nhiên hoặc con người, do chiến tranh, do áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng … gây hậu quả nghiêm trọng cho các vùng sinh thái Trên thế giới ban đầu diện tích rừng chiếm 6 tỉ ha trên bề mặt trái đất, diện tích này còn 4,4 tỉ ha năm
1958 đến năm 1973 còn 3,8 tỉ ha Hiện nay diện tích rừng còn khoảng 2,9 tỉ
ha Các nhà khoa học đã dự báo rằng hàng năm trên thế giới bị mất 16,7 triệu ha rừng Nếu tiếp tục đà này trong vòng 166 năm nữa, trên trái đất sẽ không còn rừng [47]
Ở Việt Nam từ năm 1945 - 1976 nước ta mất 3 triệu ha, tỉ lệ che phủ của rừng giảm từ 43% (1943) xuống còn 33,8% (1976) Từ năm 1976 - 1995 tỉ lệ che phủ của rừng giảm xuống còn 28,2% (1995), cả nước chỉ còn khoảng 9,3 triệu ha rừng (trong đó có 1 triệu ha rừng trồng) [4] Hiện nay diện tích rừng bị giảm ước tính vào khoảng 200.000 ha/năm trong đó 60.000 ha bị chặt để chuyển thành đất nông nghiệp ngoài kế hoạch, 50.000 ha bị cháy và 90.000 ha bị khai thác làm gỗ củi Trong khi đó tốc độ trồng rừng khoảng 50.000 - 100.000ha/năm không thể bù lại tốc độ mất rừng [44]
Nhận thức về việc mất rừng là rất nghiêm trọng, trong hơn 10 năm trở lại
Trang 12nông dân để trồng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng đã có những tác động rất tích cực Rừng được bảo vệ và phục hồi trở lại, diện tích ngày càng tăng, đất trống đồi núi trọc giảm, các giải pháp kỹ thuật dựa trên cơ sở lợi dụng triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên của thảm thực vật cùng với các giải pháp đúng đắn về chính sách đất đai, vốn, lao động đã góp phần nâng cao độ che phủ rừng của cả nước Theo số liệu của Bộ NN và PTNT năm 2013 độ che phủ rừng của
cả nước đạt gần 41%
Cao Bằng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn Khí hậu Cao Bằng mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu miền núi cao và có đặc trưng khí hậu á nhiệt đới thể hiện 4 mùa trong năm Tính đến 31 tháng 12 năm
2013, diện tích đất có rừng toàn tỉnh Cao Bằng đạt 339.484,70 ha (rừng tự nhiên 318.706,77 ha, rừng trồng 22.777,93 ha) độ che phủ đạt trên 50,5% với nhiều loài động thực vật quý hiếm [5] Tuy nhiên hiện nay hầu như rừng đang
bị suy giảm do bị khai thác quá mức, một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng như Hoàng Đàn, Du Sam…
Thành phố Cao Bằng là một thành phố trẻ đô thị loại III bao gồm 6 phường và 5 xã trong đó xã Ngọc Xuân vừa được công nhận là phường năm
2012 Phường Ngọc Xuânhội tụ đủ hình thái đô thị, xóm làng, rừng núi, nằm ở phía Đông - Bắc của thành phố với tổng diện tích tự nhiên 684,99 ha, diện tích đất có rừng là 330,73 ha (rừng tự nhiên là 93,99 ha, rừng trồng là 236,74ha) độ che phủ rừng đạt 48,3% chủ yếu là rừng phục hồi sau nương rẫy [5] Nhìn chung rừng ở đây vẫn trong tình trạng suy thoái, rừng nguyên sinh hầu như không còn mà thay vào đó là các kiểu thảm thực vật thứ sinh như trảng cỏ, trảng cây bụi, rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên và rừng trồng nhân tạo Nguyên nhân chính của sự tàn phá là do chặt rừng làm nương, khai thác củi và khai thác
Trang 13gỗ rừng quá mức, ngoài ra nạn cháy rừng hàng năm đã làm cho môi trường sinh thái trong một số nơi ngày càng xấu đi
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy tại phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Về lý luận
Bổ sung thêm những hiểu biết về đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên của một số thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy ở phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
2.2 Về thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc và tái sinh rừng ở phường Ngọc Xuân đề xuất một số biện pháp nhằm phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng
ở địa phương
3 Giới hạn nghiên cứu
3.1 Giới hạn về khu vực nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu là phường Ngọc Xuân, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
3.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Là các kiểu thảm thực vật phục hồi tự nhiên sau nương rẫy bao gồm:
Thảm cỏ thấp, Thảm cây bụi, Rừng thứ sinh
3.3 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số đặc điểm thành phần loài, thành phần dạng sống thực vật, đặc điểm
về cấu trúc hình thái và đặc điểm tái sinh tự nhiên trong 3 kiểu thảm thực vật tại phường Ngọc Xuân (Thảm cỏ thấp, Thảm cây bụi, Rừng thứ sinh)
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là khái niệm được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên tùy theo quan điểm của mỗi tác giả nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau Theo Schmithusen (1959) thì thảm thực vật là lớp thực bì của trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Thái Văn Trừng (1978) [37] cho rằng thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) [23] cho rằng thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thảm thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất
Như vậy thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể nào Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật rừng mưa nhiệt đới…
1.1.2 Khái niệm về rừng
Đã có rất nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau về rừng Theo Sukhatrep (1964): " Rừng là một quần lạc sinh địa Quần lạc sinh địa là tổ hợp các yếu tố thiên nhiên đồng nhất trên vùng đất xác định (khí hậu, đá mẹ, đất, các điều kiện thuỷ văn, thực vật, động vật, vi sinh vật) Các yếu tố tự nhiên có vai trò thiết lập ra các mối quan hệ, cùng với các nhóm sinh vật chúng hình thành nên kiểu trao đổi chất và năng lượng đặc trưng giữa chúng với nhau và với các yếu tố tự nhiên, nó là một thể thống nhất, đang biến động và phát triển" (dẫn theo Hoàng Chung, 2005 [6])
Rừng là một kiểu thảm thực vật mang các đặc trưng riêng, chẳng hạn như trong rừng cây gỗ (hay rừng tre nứa), với rừng cây gỗ thì yếu tố chủ đạo trong đó
là cây gỗ và cây gỗ phải có chiều cao ≥ 5m so với mặt đất và độ tàn che (k) của chúng phải ≥ 0,3, đối với rừng tre nứa độ tàn che > 0,5 Nếu k < 0,3 thì chưa thành rừng, k = 0,3 - 0,6 là rừng thưa, k > 0,6 là rừng kín [23]
Trang 151.1.3 Tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái tạo, hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí
cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên Hiện nay cùng với thuật ngữ này, còn
có nhiều thuật ngữ khác đang được sử dụng rộng rãi hiện nay Schereckenbeg, Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ: “Rehabitilation” để chỉ sự phục hồi lại bằng biện pháp quản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái; Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ “Restoration” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại
của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng Căn cứ vào nguồn giống người ta phân chia 3 mức độ tái sinh như sau:
- Tái sinh nhân tạo: là phương thức tái sinh có sự tác động trực tiếp của con người từ gieo trồng chăm sóc để tạo rừng mới trên đất có rừng Theo phương thức này con người chủ động chọn loại cây trồng, điều khiển được tổ thành, mật độ cây thích hợp cho mục đích của con người
- Tái sinh bán nhân tạo: nguồn giống được con người tạo ra bằng cách trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh
- Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên
Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình thiết lập lớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều
có nguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo thì cây con cũng phải mọc từ hạt do con người gieo trước đó Nó được phân biệt với các khái niệm khác như trồng rừng là sự thiết lập lớp cây con bằng việc trồng giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm Do đặc trưng đó nên tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng
Trang 16Ở Việt Nam, tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của cả hệ sinh thái rừng
1.1.4 Phục hồi rừng
Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích đã
bị mất rừng (Trần Đình Lý, 2008) [24] Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán [21]
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng và tái sinh rừng, nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc khoanh nuôi bảo vệ rừng cũng như việc khai thác rừng có hiệu quả
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là một khái niệm chung để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã thực vật rừng theo không gian và thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) [20] Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi
- Cơ sở sinh thái về cấu trúc rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3 dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống Trên quan điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái
Trang 17rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo trật tự của quần xã
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards (1952) [48], Baur (1964) [46], Odum (1971) [49]…tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Baur (1964) [46] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và
về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ
đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng
Odum (1971) [49] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
- Hình thái cấu trúc rừng
Hiện tượng thành tầng là sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng trên cả mặt bằng và theo chiều thẳng đứng Phương pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng do Richards (1952) [48] đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guam cho đến nay đây vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng thứ của rừng Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài cây
gỗ trong diện tích có hạn Cusen (1953) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải
kề bên nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều
Richards (1964, 1967, 1968) [29] đã phân biệt tổ thành rừng mưa nhiệt đới làm hai loại là rừng mưa hỗn loài có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản Và cũng theo tác giả, rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây
Trang 18Raunkiaer (1934) [50] đã phân chia các loài cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong quần xã có các dạng sống khác nhau) Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của Humboldt và Grisebach Trong các loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu hình thái cấu trúc rừng thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được đầy đủ thực trạng sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
- Nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng
Để kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng mang tính chính xác, thực tế, nhiều nhà nghiên cứu đã chuyển dần từ mô tả định tính sang nghiên cứu định lượng với
sự hỗ trợ của toán học và tin học Trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng (cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian), xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu có kết quả
Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như: Rollet (1971), Brung (1970), Loeth et al (1967)…rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cấu trúc không gian và thời gian của rừng theo hướng định lượng và dùng các mô hình toán để mô phỏng các quy luật cấu trúc (dẫn theo Trần Văn Con, 2001 [11])
Rollet (1971) đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính loài theo
mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Ngoài ra các dạng hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ, Pearson…cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hóa cấu trúc rừng
Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng
Trang 19theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Đó là dựa trên cơ sở đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973)…Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của nó
và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Ở trạng thái động Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng
Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên phục hồi sau nương rẫy còn ít
1.2.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng như: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy Vai trò của lớp cây tái sinh là thay thế các thế hệ già cỗi Vì vậy tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Richards (1952) [48]; Baur,
Trang 20cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng tự nhiên vô cùng phức tạp và còn ít được nghiên cứu Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dưới điều kiện rừng đã ít nhiều bị biến đổi Van Steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Công trình của Bernard (1954, 1959); Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức rừng đều tuổi ở Malaysia; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Donis và Maudoux (1951, 1954) với công thức đồng nhất hoá tầng trên
ở Zaia; Taylor (1954), Jones (1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm
lá ở Andamann (dẫn theo Lê Ngọc Công, 2004 [13])
Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1976) [2] tổng kết trong tác phẩm “Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa”
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) với diện tích ô
đo đếm thông thường từ 1 đến 4m2 Diện tích ô đo đếm nhỏ thuận lợi trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnards (1950) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chuẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh
ở các trạng thái rừng khác nhau
Trang 21Những công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards (1952), Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: Trong các ô có kích thước nhỏ (1m x 1m; 1m x1,5m) cây tái sinh có dạng phân
bố cụm, một số ít có phân bố Poison Ở châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Taylo (1954), Barnard (1955) xác định số cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng nhân tạo
Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Bava (1954), Budowski (1956), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh
có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995 [9]) Tác giả Lamprecht (1969) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu,
đề cập đến vấn đề này Baur (1976) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh
ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Tại rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela, Saldarriaga (1991)
Trang 22ban đầu đến rừng thành thục Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy
từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1]
Kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách bền vững
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng trồng, rừng tự nhiên, rừng sau nương rẫy nhằm đưa ra cơ sở khoa học cũng như biện pháp cho việc khoanh nuôi, bảo vệ và khai thác rừng đạt hiệu quả cao Các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu cả về mặt định tính và định lượng
1.2.2.1 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn phát triển nhất định của tự nhiên Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với
Trang 23môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau Các nhân tố trong cấu trúc rừng là: Cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu
trúc tuổi…
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta có một số tác giả như: Nguyễn Văn Trương (1982) [39] đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn, ông cho rằng nếu áp dụng chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo ra vốn rừng như trước khi chặt nên dùng thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng
Vũ Đình Phương (1987) [28] trong vấn đề thâm canh rừng tự nhiên ở nước ta, ông cho rằng muốn xác định được hướng kỹ thuật thâm canh rừng tự nhiên cần phải hiểu biết về rừng, nắm bắt được quy luật tự nhiên của rừng Những quy luật tự nhiên của rừng có liên quan đến cấu trúc rừng, nghiên cứu
về cấu trúc rừng hỗn loài thường xanh (cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng, cấu trúc theo thời gian…) là cơ sở cho việc đề xuất biện pháp thâm canh rừng
Nguyễn Hải Tuất (1991) [43], nghiên cứu quy luật cấu trúc quần thể cây rừng (Ba Vì) cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một
hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng
Trần Văn Con (1992) [10] ứng dụng mô phỏng toán học trong nghiên cứu động thái rừng tự nhiên tại lâm trường Nam Phú Nhơn (Gia Lai - Kon Tum) đã cho rằng, sự biến đổi cấu trúc lâm phần (động thái) là kết quả tổng hợp của ba quá trình: tái sinh, sinh trưởng và đào thải (chết tự nhiên và tỉa thưa) Mô phỏng toán học có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu để dự báo sự thay đổi cấu trúc khi biết hiện trạng rừng và các tương quan nhất định
Phạm Minh Nguyệt (1994) [25] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt, tầng cây trên cung cấp nguyên liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp
Trang 24nhàng Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu.Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm lực của rừng tạo điều kiện sinh thái lâu dài
Võ Đại Hải (1996) [14], đưa ra khái niệm chức năng phòng hộ nguồn nước của thảm thực vật Theo tác giả mô hình cấu trúc hợp lý của rừng phòng
hộ đầu nguồn là mô hình cấu trúc rừng đáp ứng được yêu cầu phòng hộ về điều tiết nước và xói mòn Trong mô hình cấu trúc, ông đề cập tổ thành loài cây và điều kiện sinh trưởng phát triển của chúng
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000) [38] dựa vào sự ghép nối 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu
tố hệ thống thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thực vật Việt Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (gọi là 14 quần hệ) Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ bậc quần hệ trở nên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973)
Đặng Kim Vui (2002) [45], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1-2 tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ Hòa thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), Họ cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbrnaceae) Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp nhất
75 - 80%, chủ yếu tập trung vào các loại cây bụi
Trang 25Lê Ngọc Công (2004) [13] dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973)
đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ là: rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ
Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng: những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng như những công trình nghiên cứu mô hình hóa cấu trúc đường kính D1.3 và biễu diễn chúng theo các dạng hàm phân số xác suất khác nhau, nổi bật là các công trình của các tác giả sau:
Đồng Sỹ Hiền (1974) [15] dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poison để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ
sở cho việc lập biểu đồ độ thon cây đứng ở Việt Nam
Nguyễn Hải Tuất (1982, 1986) [41,42] đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh, đồng thời cũng áp dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng (Ba Vì) và ông cho rằng, điều kiện sinh thái ở đây đảm bảo tính ổn định của một hệ sinh thái núi cao thể hiện qua các quy luật cấu trúc rừng
Nguyễn Duy Chuyên (1995) [9] cho rằng tái sinh tự nhiên nhiều loài cây dưới tán rừng có thể biểu diễn bằng các hàm toán học Kết quả nghiên cứu cho thấy ở trạng thái rừng IIIA2 có phân bố Poisson
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến các yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài Muốn đề xuất được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chính xác, đòi hỏi phải nghiên cứu cấu trúc rừng một cách đầy đủ và phải đứng trên quan điểm tổng hợp về sinh thái học, lâm học và sản lượng
1.2.2.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Trang 26chung, nhưng do bị tác động rất khác nhau về cường độ như: khai thác lấy gỗ trái phép, khai thác chọn không đúng quy trình, phát rừng làm rẫy nên khả năng tái sinh bị xáo trộn nhiều Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tái sinh rừng nhưng tổng kết thành qui luật tái sinh cho từng loại rừng thì còn rất ít Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã thực
hiện chuyên đề “Tái sinh rừng tự nhiên” tại một số địa bàn thuộc các tỉnh:
Quảng Ninh (Tiên Yên, Ba Chẽ, Yên Hưng), Yên Bái (Văn Bàn), Nghệ An (Quỳ Châu, Nghĩa Đàn), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Hương Khê), Quảng Bình (Long Đại)…Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn kết hợp với điều tra theo tuyến Dựa vào các tài liệu đã thu thập ngoài rừng đã tiến hành phân tích, tính toán những chỉ tiêu cây đứng và cây tái sinh, phân chia các loại hình thực vật rừng và trên cơ sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình hình tái sinh tự nhiên và đề xuất biện pháp kinh doanh rừng
Trần Ngũ Phương (1970) [26] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới đã
có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu
sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống rừng khí hậu ban đầu”
Nguyễn Văn Trương (1983) [40] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng
Phùng Ngọc Lan (1984) [19] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái sinh trong khai thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn Ngay từ giai đoạn nẩy mầm, bọ xít là nhân tố gây ảnh
Trang 27hưởng đáng kể đến tỷ lệ nẩy mầm, trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở
ba vùng kinh tế (Sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn)
Nguyễn Duy Chuyên (1988) [8] khi nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế là: Sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu
Vũ Tiến Hinh (1991) [16] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ số
tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ với nhau Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy
Nguyễn Vạn Thường (1991) [35] đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ
có h < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thước khác nhau Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [31] nghiên cứu sự biến đổi về số lượng và chất lượng cây tái sinh ở các vùng rừng miền Bắc Việt Nam đã kết luận: Rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các vườn rừng, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn là diện tích phục hồi sau
Trang 28chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Trần Xuân Thiệp (1995) [32] nghiên cứu quy luật phân bố chiều cao cây tái sinh trong rừng chặt chọn tại Lâm trường Hương Sơn, Hà Tĩnh đã định lượng các cây tái sinh tự nhiên trong trạng thái tự nhiên ở các trạng thái khác nhau Theo tác giả, rừng thứ sinh còn có số lượng cây tái sinh theo 6 cấp chiều cao, cây tái sinh triển vọng có chiều cao h > 1,5 m
Tác giả Trần Đình Lý (1995, 1997) [21], [22] và nhiều cộng sự khi nghiên cứu về lớp cây tái sinh tự nhiên ở Phanxiphăng - Sa Pa - Lào Cai đã xác định được quy luật phân bố cây tái sinh trong vùng này
Theo Lê Đồng Tấn (2000) [30] và các cộng sự đã nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La Tác giả đã kết luận, mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi, tổ hợp loài cây
ưu thế trên ba vị trí địa hình và ba cấp độ dốc là khác nhau, sự khác nhau chính
là tổ thành các loài trong tổ hợp đó
Trần Ngũ Phương (2000) [27] khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”
Phạm Ngọc Thường (2003) [36] khi nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên phục hồi sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho thấy khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng có số lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm cây gỗ là khá cao
Lê Ngọc Công (2004) [13], khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên, cho rằng giai đoạn đầu
Trang 29của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1- 6 năm), mật độ cây tăng lên, sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải của các loài cây
Lương Thị Thanh Huyền (2009) [18] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh trong một số trạng thái thảm thực vật tại vùng đầu nguồn hồ Thác Bà - Yên Bái đã xác định mật độ cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu đều chủ yếu tập trung nhiều (2.135 - 2.985 cây/ha) ở cấp chiều cao I (0 - 20cm) và giảm dần ở các cấp chiều cao cao hơn Mật độ cây tái sinh thấp nhất (612 - 875 cây/ha) ở cấp chiều cao V (101 - 130cm)
Nguyễn Thị Thủy (2013) [34] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh
tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy tại xã Ký Phú - Huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên đã xác định mật độ cây tái sinh, chất lượng cây tái sinh giảm dần theo các cấp độ dốc: mật độ cây tái sinh ở cấp độ dốc I ( < 150
) cao nhất, tiếp đó
là các cấp độ dốc II (150
-250) và cấp độ dốc III (>250) Tỷ lệ phần trăm cây tái sinh đạt chất lượng tốt ở cấp độ dốc I là cao nhất (70,9%), cấp độ dốc III là thấp nhất (63,4%)
Thực tế cho thấy, với điều kiện nước ta hiện nay nhiều khu vực vẫn phải sử dụng tái sinh tự nhiên, còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác và hiệu quả Đề tài luận văn này góp phần nghiên cứu và bổ sung thêm những hiểu biết về tái sinh tự nhiên trên đất sau nương rẫy ở tỉnh Cao Bằng
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là các kiểu thảm thực vật (TTV) thứ sinh tại phường Ngọc Xuân - thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng gồm:
- Thảm cỏ thấp (thời gian phục hồi 2 năm)
- Thảm cây bụi (thời gian phục hồi 5-7 năm)
- Rừng thứ sinh (thời gian phục hồi 6-8 năm)
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
2.1.2.1 Xác định các kiểu TTV thứ sinh tự nhiên đặc trưng trong khu vực nghiên cứu
2.1.2.2 Đặc điểm chính của các kiểu TTV thứ sinh trong khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm thành phần loài thực vật
- Đặc điểm thành phần dạng sống
- Đặc điểm cấu trúc hình thái các kiểu thảm thực vật
- Đặc điểm tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ:
+ Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh
+ Phân bố cây gỗ tái sinh theo cấp chiều cao
+ Phân bố cây gỗ tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
+ Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh (tốt, trung bình, xấu)
2.1.2.3.Đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên của các kiểu thảm thực vật sau nương rẫy tại khu vực nghiên cứu
2.1.2.4 Đề xuất một số biện pháp thúc đẩy quá trình phục hồi rừng trên đất sau nương rẫy ở khu vực nghiên cứu
- Giải pháp trồng rừng
- Giải pháp khoanh nuôi phục hồi rừng
- Giải pháp quản lý và bảo vệ rừng
Trang 312.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng quát được áp dụng để giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài là điều tra thu thập mẫu vật và các số liệu ngoài thực địa
Phương pháp được áp dụng để tiến hành nghiên cứu các nội dung của đề tài cụ thể là phương pháp ô tiêu chuẩn và tuyến điều tra của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [33] và Hoàng Chung (2008) [7]
2.2.1 Phương pháp tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn
Để mô tả một quần xã thực vật, số liệu cần phải được thu thập trên một
số ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích đủ lớn.Việc áp dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới cũng như trong nước
Chúng tôi thu thập số liệu đã thực hiện phương pháp điều tra theo tuyến và theo OTC của Hoàng Chung (2008) [7] như sau:
- Tuyến điều tra: dựa trên cơ sở bản đồ địa hình của khu vực, hồ sơ quản
lý rừng của phường Ngọc Xuân - thành phố Cao Bằng - tỉnh Cao Bằng và các tài liệu thu thập được chúng tôi lập tuyến điều tra Các tuyến điều tra có hướng vuông góc với đường đồng mức chính, các tuyến sau song song với tuyến đầu
và được đánh dấu trên bản đồ Chiều rộng của tuyến điều tra là 4m Khoảng cách giữa các tuyến điều tra là 50 - 100m tùy vào địa hình cụ thể của từng quần
xã Dọc theo tuyến điều tra bố trí 4 OTC, mỗi ô có diện tích1m2 (1m x 1m) đối thảm cỏ thấp, 16m2 (4m x 4m) đối với thảm cây bụi, 400m2
(20m x 20m) đối rừng thứ sinh Tổng số tuyến điều tra là 11 tuyến
- Ô tiêu chuẩn: để thu thập số liệu thảm thực vật, chúng tôi áp dụng OTC với các kích trước như trên Ô dạng bản được bố trí trên các đường chéo, đường vuông góc và các cạnh của OTC 400m2 Tổng diện tích trên các ô dạng bản phải đạt ít nhất 1/3 ô tiêu chuẩn Ngoài ra, dọc theo hai bên tuyến điều tra, đặt các ô dạng bản để thu thập số liệu bổ sung Tổng số OTC đã thực hiện: 44 OTC
Sơ đồ bố trí OTC và ODB như hình 2.1
Trang 3220m
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí OTC và ODB ở Rừng thứ sinh
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Tuyến điều tra (TĐT)
Quan sát thống kê tất cả các loài đã gặp như tên loài (tên loài hay tên địa phương) Thống kê thành phần dạng sống theo Raunkiaer (1934) [50], Hoàng Chung (2008) [7]
2.2.2.2 Ô tiêu chuẩn (OTC)
Trong các OTC thu thập các thông tin về thành phần loài, dạng sống, chiều cao vút ngọn (Hvn) Đối với cây gỗ có chiều cao từ 4m trở xuống được đo bằng sào chia vạch đến 0,1m Đối với cây cao trên 4m được đo bằng thước Blumeleiss đo theo nguyên tắc lượng giác
Đo đường kính cây (tại điểm cách mặt đất 1,30m - D1.3) Những cây
có đường kính từ 20cm trở xuống đo trực tiếp bằng thước kẹp với độ chính xác 0,1cm Cây lớn hơn 20cm, đo chu vi bằng thước dây, tra bảng tương quan đường kính - chu vi, tính được đường kính tương ứng
* Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang (phân bố khoảng cách từ một điểm ngẫu nhiên đến các cây lân cận)
Cây tái sinh (cây bụi, cây gỗ) là cây có chiều cao ≥ 20cm, đường kính < 6cm Ứng dụng phương pháp ô 6 cây của Thomasius, mỗi kiểu thảm thực vật chọn
36 vị trí ngẫu nhiên đến 6 cây gần nhất Khi đó trong phân bố Poisson được phép sử dụng tiêu chuẩn U (phân bố chuẩn) của Clark và Evans để đánh giá khi dung lượng mẫu đủ lớn Qua đó dự đoán được đặc điểm giai đoạn phát triển của quần xã thực vật trong khu vực nghiên cứu
20m
Trang 33U tính theo công thức:
U =
26136 , 0
).
5 , 0
Nếu U ≤ - 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố cụm
Nếu U ≥ 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố đều
Còn -1,96 < U < 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên
* Mật độ cây tái sinh (cây/ ha) tính theo công thức:
+ S: là diện tích ô điều tra
* Hệ số tổ thành loài cây đƣợc tính theo công thức :
P = n x 100%N Trong đó:
+ P : hệ số tổ thành loài (%)
+ N: là số cá thể của tất cả các loài
+ n: là số cá thể của loài
Nếu P 5 % thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành
Nếu P < 5 % thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành
Trang 34* Phân chia cấp chiều cao và đường kính theo công thức của Hopman như sau:
+ Cây tốt (A) là cây có tán lá phát triển đều, thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt không sâu bệnh
+ Cây trung bình (B) là cây không cong queo, không sâu bệnh, ít khuyết tật, không gãy cành, cụt ngọn nhưng khả năng sinh trưởng kém hơn
+ Cây xấu (C) là cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, khuyết tật nhiều và bị sâu bệnh
* Tính tỉ lệ % cây tái sinh, trung bình, hoặc xấu theo công thức:
% n 100
N
N
Trong đó:
+ N% là tỉ lệ phần trăm tốt, trung bình, hoặc xấu
+ n là tổng số cây tốt, trung bình, hoặc xấu
+ N là tổng số cây tái sinh
Xác định độ che phủ: bằng mắt thường và tính theo tỉ lệ phần trăm (%) diện tích đất bị thảm thực vật che phủ Độ nhiều (độ dày rậm) thảm tươi được đánh giá theo tiêu chuẩn của Drude cụ thể ở bảng 2.1
Trang 35Bảng 2.1 Kí hiệu độ nhiều (độ dày rậm) thảm tươi theo Drude
Soc Thực vật gần như khép tán có độ phủ trên 90% diện tích
Cop 3 Thực vật gặp rất nhiều có độ phủ là 90 - 70 % diện tích
Cop 2 Thực vật gặp nhiều có độ phủ là 70 - 50 % diện tích
Cop 1 Thực vật có khá nhiều có độ phủ 50 - 30 % diện tích
Sp Thực vật mọc rải rác phân tán có độ phủ 30 - 10 % diện tích Sol Thực vật gặp rất ít có độ phủ < 10%
Un Một vài cây cá biệt
2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu vật
- Xác định tên loài cây: Theo tài liệu “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) [17]; “Tên cây rừng Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2000) [3]
- Xác định dạng sống theo thang 5 bậc của Raunkiaer (1934) [50] và Hoàng Chung (2008) [7] Theo cách phân loại này dạng sống thực vật gồm các kiểu sau:
1 Cây chồi trên mặt đất (Phanerophytes): Ph
2 Cây chồi mặt đất (Chamephytes): Ch
3 Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes): He
4 Cây chồi ẩn (Cryptophytes): Cr
5 Cây một năm (Therophytes): Th
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được xử lí theo phương pháp thống kê sinh học Sử dụng phần mềm Excell để xử lí và mô hình hóa số liệu
2.2.5 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trực tiếp phỏng vấn những người quản lý rừng, lãnh đạo cơ sở và cơ quan chuyên môn (Ủy ban nhân dân phường, Chi cục Kiểm lâm tỉnh), các hộ dân sống xung quanh khu vực nghiên cứu về nguồn gốc, độ tuổi của các kiểu TTV, tên địa phương của các loài thực vật, những tác động của con người và động vật tới các kiểu TTV nghiên cứu
Trang 36Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Cao Bằng (Khu vực nghiên cứu: phường Ngọc Xuân)
Trang 37Phường Ngọc Xuân nằm ở phía Đông - Bắc của thành phố Cao Bằng Tọa độ địa lý là 22°41′10″ vĩ độ Bắc, 106°14′58″ kinh độ Đông
Phía Đông giáp xã Ngũ Lão, huyện Hòa An;
Phía Bắc giáp xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng;
Phía Tây giáp phường Đề Thám, phường Sông Hiến, thành phố Cao Bằng; Phía Nam giáp phường Hợp Giang, phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng Phường Ngọc Xuân có tổng diện tích tự nhiên 684,99 ha, trong đó diện tích đất có rừng là: 330,73 ha (diện tích rừng tự nhiên là 93,99 ha, diện tích rừng trồng là 236,74 ha) chiếm 48,3% tổng diện tích tự nhiên toàn phường
3.1.2 Địa hình
Địa hình của phường Ngọc Xuân thấp dần từ phía bắc xuống phía nam, phía bắc là vùng đồi núi cao, phía nam có độ cao thấp dần và bằng phẳng dọc sông Bằng Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200m - 500m
- Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân trong năm 22,1oC Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13,40C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 30
- Về chế độ mưa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, tổng lượng mưa
trong năm 1.543mm, số ngày mưa trong năm là 133 ngày Lượng mưa trong
Trang 38mùa mưa chiếm 80,7% lượng mưa cả năm và tập trung nhiều vào các tháng 6,
7, 8, tháng 6 là tháng có lượng mưa lớn nhất (đạt 460,8mm) Tháng ít mưa nhất
là tháng 1 (có 5 ngày có mưa với 2,5mm)
- Về chế độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm là 83,83%, giữa các
tháng trong năm biến thiên từ 78%- 88%
- Về lượng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi trong năm là 670,8mm, tháng 5
là tháng có lượng bốc hơi nhiều nhất (89,9mm), lượng bốc hơi thấp nhất vào tháng 11 (39,3mm)
Với địa hình và khí hậu như trên là điều kiện để phát triển đa dạng các kiểu thảm thực vật (tự nhiên, nhân tạo), tuy nhiên cũng không ít những khó khăn, đòi hỏi phải bố trí lịch sản xuất và áp dụng các giải pháp phù hợp
3.1.4 Sông suối - thủy văn
Phường có dòng sông Bằng chảy qua (cũng là ranh giới tự nhiên phía Nam
và Tây Nam của phường) Ngoài ra còn có các con suối nhỏ như: suối Nà Lè, suối Nà Lành, suối Nà Tọong, suối Nà Pác, suối Khuổi Đứa, suối Khuổi Tát tất
cả các con suối đều đổ ra sông Bằng
Sông Bằng bắt nguồn từ Nà Cài (Trung Quốc) ở độ cao 600m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi nhập với sông Tà Giang tại Long Châu (Trung Quốc)
Chế độ thủy văn các sông suối ở phường phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực Có thể chia thành hai mùa rõ rệt: mùa lũ
và mùa cạn
- Chế độ mùa lũ: Mùa lũ trên các sông suối thường bắt đầu từ tháng 6 và
kết thúc vào tháng 10 Lượng nước trên các sông suối trong mùa này thường chiếm 65 - 80% lượng nước cả năm; lưu lượng lớn nhất trên sông Bằng đạt 164
m3/s Do chế độ thủy văn trên các sông suối trong mùa lũ như trên, nên hàng năm trong mùa mưa vùng ven sông Bằng thường bị ngập lụt, song so địa hình dốc, nên thời gian lũ rút nhanh và không gây hậu quả trầm trọng
Trang 39- Chế độ mùa cạn: Nhìn chung trên địa bàn phường, đỉnh mùa cạn trên các
sông suối kéo dài khoảng 3 tháng (từ tháng 1 đến tháng 3) Trong mùa này lưu lượng nhỏ nhất trên sông Bằng là 36,7 m3
- Đất phù sa không được bồi hàng năm: Loại đất này được hình thành do sản phẩm bồi tụ phù xa của sông Bằng và các con suối nhỏ nhưng không bị ngập nước hàng năm Đất có màu đỏ tươi, phẫu diện đã phân hóa, phản ứng chua vừa đến chua, hàm lượng các chất dinh dưỡng trung bình Tổng số hàm lượng lân dễ tiêu ở mức nghèo Đất được phân bố ở ven sông Bằng chủ yếu được sử dụng vào mục đích nông nghiệp
- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: Đất này được hình thành trên sản phẩm phù sa mới nhưng do địa hình cao thiếu nước nên trong phẫu diện đã có những biến đổi màu sắc trong quá trình hình thành Đất xuất hiện màu loang lổ đỏ vàng do tích sét và bị quá trình kết vôi hóa, đất có phản ứng chua, nghèo dinh dưỡng Đất được phân bố chủ yếu ở Nà Bám, Bản Vuộm, Nà Pế, Nà Kéo…
- Đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa: Là loại đất tại chỗ do có điều kiện thuận lợi trồng lúa nước nên tính chất đất đai bị biến đổi tầng canh tác được hình thành, tầng phù sa Glây xuất hiện ở nông Thành phần cơ giới thịt nặng, chua và nghèo dinh dưỡng
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Đất này được hình thành trên phù sa cổ,
Trang 40đất có địa hình đồi thoải lưới sóng nhẹ hoặc đồi bát úp, một số diện tích bị xói mòn mạnh đất bị lớp kết vón xuất hiện ở nông Hiện nay phần lớn diện tích loại đất này đang sử dụng vào mục đích trồng rừng, ở chân đồi có địa hình thấp và bằng, tầng đất này được sử dụng trồng hoa màu và cây ăn quả
- Đất đỏ vàng trên đá sét: Là loại đất có địa hình chia cắt mạnh, có độ dốc lớn trên 250 Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình đến nặng, hạt mịn, tầng đất dày > 80cm, phản ứng của đất chua vừa, hàm lượng mùn và đạm tổng
số khá, nghèo lân và kali dễ tiêu Hiện nay phần lớn diện tích này đã sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như: khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng mới, khả năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp rất hạn chế
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
3.2.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Là phường mới được thành lập nên nền kinh tế của phường mang tính bán nông nghiệp với cơ cấu kinh tế là: Nông - lâm nghiệp, tiểu thương và dịch vụ Hiện nay các tổ nằm ở phía nam của phường ven đường quốc lộ 3 ngành nghề chủ yếu là tiểu thương và dịch vụ, còn các tổ thuộc khu vực đồi núi dân cư không tập trung, chủ yếu ngành nghề chính là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp
- Ngành nông nghiêp:
Trong tương lai ngành nông nghiệp của phường có xu hướng giảm do đất nông nghiệp chuyển sang mục đích xây dựng đô thị và cơ sở hạ tầng Tuy nhiên hiện nay sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong phát triển nền kinh tế của phường
+ Về lương thực: Năm 2014 tổng sản lượng lương thực đạt 1.058 tấn tăng 122 tấn so năm 2013
+ Về chăn nuôi: chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình Năm 2014 toàn phường có 75 con trâu, 25 con bò, 1.500 con lợn và trên 12.000 con gia cầm Nhìn chung đàn gia súc, gia cầm qua các năm vẫn ổn định đó là nguồn thu có tích lũy chủ yếu của đại bộ phận các hộ nông dân
+ Về kinh tế vườn: Hiện nay hầu hết là vườn tạp chưa có ý nghĩa về mặt