Theo đó, các đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm: Thứ nhất, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam Theo Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 qu
Trang 1I Đặt vấn đề
Đối tượng nộp thuế được xác định là các tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của luật thuế Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế Tổ chức đó có thể là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật hoặc là tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trước năm 2008, quy định đối tượng nộp thuế này cũng được cụ thể hoá trong các văn bản như: Luật thuế lợi tức năm 1990, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm
2003 Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 đã bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là năm 2007 Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua, theo đó các đối tượng là cá nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp chuyển sang thực hiện theo Luật thuế thu nhập cá nhân Chính vì vậy Luật thuế thu nhập 2008 ra đời đã khắc phục những hạn chế nói chung của luật cũ, đồng thời cũng quy định cụ thể hơn về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định của pháp luật hiện hành, đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 và được hướng dẫn tại các văn bản chủ yếu sau: Nghị định số 124/2008/NĐ – CP ngày 11/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều ccủa Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Thông tư 130/2008/TT – BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doan nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ – CP ngày 11/12/2008 Thực tế hoạt động lập pháp cho thấy việc xác định rõ đối tượng nộp thuế có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự đối xử, yêu cầu gánh chịu thuế và điều hoà thu nhập, luồng vốn đầu tư trong đời sống kinh tế, xã hội.
Trang 2
II Giải quyết vấn đề
1 Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2008
Đối tượng nộp thuế được xác định là các tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của luật thuế Mỗi loại thuế có thể
có đối tượng nộp thuế khác nhau phụ thuộc vào đối tượng tính thuế Thực
tế hoạt động lập pháp cho thấy việc xác định rõ đối tượng nộp thuế có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự đối xử, yêu cầu gánh chịu thuế và điều hòa thu nhập, luồng vốn đầu tư trong đời sống kinh tế, xã hội Khoản 1 Điều 2
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 quy định: “ Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này” Theo đó, các đối
tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoá, Luật Dầu khí, Luật Thương mại và quy định tại các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: công ty cổ phần; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty hợp danh; doanh nghiệp tư nhân; công ty Nhà nước; các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, công ty điều hành chung.
Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam.
Trang 3
Thứ hai, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có
cơ sở thường trú tại Việt Nam
Việc quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp có sự phân biệt giữa doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú hay không thường trú tại Việt Nam
Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản thu nhập liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó mà không phân biệt thu nhập chịu thuế đó phát sinh tại Việt Nam hay ngoài Việt Nam Trường hợp các khoản thu nhập chịu thuế không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú thì doanh nghiệp chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam (ví dụ doanh nghiệp được tặng cho tài sản có giá trị thì khoản thu nhập này cũng phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp)
Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.
Trên thế giới, căn cứ để xác định thế nào là thường trú và không thường trú ở các quốc gia là không giống nhau Theo quy định của pháp luật Việt Nam cụ thể tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì các tổ chức kinh doanh được coi là đối tượng thường trú theo các tiêu chuẩn là thành lập hoặc đăng ký kinh doanh tại Việt Nam hoặc có cơ sở đặt tại Việt Nam đóng vai trò thực tế điều hành hoạt động kinh doanh
doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:
- Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;
Trang 4
- Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;
- Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác;
- Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;
- Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền
ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.
Thứ ba, tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã
Thứ tư, đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
Thứ năm, tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập
Như vậy, có thể thấy sự khác biệt về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 so với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 trước đó Luật thuế thu nhập doanh nghiệp2003 quy định đối tượng nộp thuế trong đó có cả cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập trong đó, bao gồm cả cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh; hộ kinh doanh cá thể; cá nhân hành nghề độc lập như: bác sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, họa sĩ, kiến trúc sư…; cá nhân cho thuê tài sản như: nhà, đất, phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị và các loại tài sản khác Đặc biệt, các đối tượng như hộ gia đình, cá nhân nông dân trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản có thu nhập cao đều là đối tượng nộp thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 Tuy nhiên, đến nay thì tất cả các đối tượng kể trên không thuộc đối tượng nộp thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 mà thuộc đối tượng của Luật thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ bao gồm các tổ chức đã được liệt kê ở trên.
Trang 5
Bên cạnh đó, pháp luậtcòn quy định các đối tượng không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, đó là các tổ chức có các nguồn thu nhập được quy định tại Điều 4, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008:
- Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã có thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.
- Tổ chức có thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp.
- Tổ chức có nguồn thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm được làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam.
- Tổ chức có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV Chính phủ quy định tiêu chí, điều kiện xác định doanh nghiệp dành riêng cho lao động là người tàn tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV.
- Thu nhập của tổ chức từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội.
- Thu nhập của tổ chức được chia từ hoạt động đóng góp vốn, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước, sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này.
- Tổ chức có thu nhập từ các khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hóa, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam
2 Những hạn chế và hướng khắc phục khi xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 2008
2.1 Những hạn chế khi xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 6
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 ra đời với các quy định trong việc xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp so với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 có một số điểm mới như: không quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là cá nhân mà chỉ là các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; quy định cụ thể đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong một điều luật chung và quy thành từng nhóm đối tượng cụ thể ; quy định đối tượng nộp thuế phải là đối tượng « có thu nhập chịu thuế theo quy định » chứ không đơn thuần chỉ là « có thu nhập » Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNDN 2008 còn bổ sung thêm một khoản quy định khá chi tiết về « Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế » Theo đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều so với luật năm 2003 cho việc xác định đối tượng phải nộp thuế.
Tuy nhiên, triên thực tế việc thực thi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc trong việc xác định đối tượng nộp thuế Nguyên nhân là do những hạn chế sau :
Thứ nhất, cách quy định về đối tượng nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp tại Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được diễn đạt theo hình thức liệt kê Cách quy định như vậy có ưu điểm là rõ ràng, dễ áp dụng, nhưng cũng tồn tại một hạn chế có thể làm ảnh hưởng tới tính ổn định của đạo luật này Nguyên nhân là bởi, sự vận động của các hình thức kinh doanh, sản xuất trên thực tế là không ngừng và có thể dẫn tới những hình thức tổ chức kinh doanh mới mà pháp luật chưa có quy định Điều đó dẫn đến hai hậu quả: ngân sách nhà nước bị thất thu, đồng thời lại phải có
sự sửa đổi, bổ sung luật cho phù hợp với thực tiễn Và việc thường xuyên thay đổi quy định pháp luật như vậy tạo một tâm lý không an toàn cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, điểm a khoản 1 Điều 2 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy
định:
Trang 7
“Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này, bao gồm: doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Tuy nhiên, các quy định về thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam khá thông thoáng về thủ tục dẫn tới việc các doanh nghiệp “ma” được dựng lên ngày càng nhiều Điều này xuất phát từ việc theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của doanh nghiệp sau khi khai sinh còn bị buông lỏng Từ khâu hậu kiểm, quản lý doanh nghiệp sau giấy phép đến sự phối hợp giữa các cơ quan thuế với cơ quan nhà nước còn nhiều kẽ
hở Các doanh nghiệp này mặc dù thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp theo đúng thủ tục luật định, nhưng trên thực tế lại không hề có bất
kỳ một hoạt động sản xuất, kinh doanh nào như trong Giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp, mà chỉ có một hoạt động duy nhất là mua bán hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành để hợp thức hóa các hàng hóa trôi nổi trên thị trường Lúc này, các doanh nghiệp này có thu nhập chịu thuế, nhưng đó lại không phải là thu nhập chịu thuế xuất phát từ chính hoạt động, sản xuất kinh doanh như quy định trên, dẫn tới tình trạng nhà nước thất thu thuế Trong báo cáo tại hội nghị sơ kết bốn năm thực hiện qui chế phối hợp giữa Tổng cục Cảnh sát, Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan được tổ chức ngày 30-8-2011 ở TP Vũng Tàu, Thiếu tướng Nguyễn Hòa Bình - phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát cho biết qua kiểm tra, cơ quan công an phát hiện hầu hết những doanh nghiệp “ma” đều lấy địa chỉ
“ma” hoặc địa chỉ của những cơ quan, đơn vị trực thuộc quân đội, công an.
Cá biệt, một số DN lập ra vội vã để nhập hàng hóa nhằm trốn thuế rồi
“mất hút”, có DN chỉ tồn tại vài chục ngày Chỉ tính riêng tại TP.HCM và
Hà Nội, trong vòng ba năm qua đã có khoảng 13.500 DN “ma” Trong đó, các cơ quan chức năng tại Hà Nội đã kiểm tra, phát hiện, lên danh sách hơn 6.700 DN bỏ trốn khỏi nơi kinh doanh, còn ở TP.HCM con số này là
Trang 8
trên 6.800 DN Thiếu tướng cũng cho biết trong ba năm qua lực lượng công an đã phối hợp với ngành thuế, hải quan kiểm tra và phát hiện trên
720 vụ mua bán và sử dụng trái phép hóa đơn, gây thiệt hại trên 546 tỉ đồng (đã thu hồi trên 199 tỉ đồng).( http://tuoitre.vn)
Thứ ba, theo quy định tại Điều 1 Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp
và điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định 124/2008/NĐ-CP, một trong những đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh.Tuy nhiên việc xác định đối tượng nộp thuế trên thực tế của 2 loại hình doanh nghiệp này còn gặp vướng mắc sau:
*Đối với Doanh nghiệp tư nhân
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Doanh nghiệp tư nhân là một loại hình doanh nghiệp Bởi vậy, khi nhìn thoáng qua thì có vẻ những doanh nghiệp hoạt động theo hình thức này cũng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế Tuy nhiên, về bản chất pháp lý thì doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân, chỉ đơn thuần là doanh nghiệp do cá nhân tự bỏ vốn ra sản xuất, kinh doanh Tài sản của doanh nghiệp tư nhân cũng chính là tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân Do vậy, xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân, có những vấn đề được đặt ra:
Một là, doanh nghiệp tư nhân hay chủ doanh nghiệp tư nhân là đối
tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp?
Hai là, chủ doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một cá nhân có thu
nhập cao nên cũng thuộc diện phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo Luật Thuế thu nhập cá nhân Nhưng quan trọng ở chỗ, pháp luật thuế đã có quy định như thế nào về việc tách biệt phần thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp tư nhân và thu nhập chịu thuế của chủ doanh nghiệp tư nhân? Pháp luật thuế thu nhập hiện hành chưa bóc tách một cách rõ ràng giữa nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp tư nhân Vì vậy, có thể dẫn đến tình
Trang 9
trạng cùng một khoản thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân vừa phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, lại vừa phải nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế đánh trùng lên thuế, gây thiệt hại cho người nộp thuế
Ba là, vì pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định chung về
nghĩa vụ nộp thuế và quy trình quản lý thuế đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, không tính tới việc doanh nghiệp tư nhân có bản chất pháp
lý khác so với những loại hình doanh nghiệp khác, dẫn đến việc không có
sự tách bạch giữa tài sản kinh doanh và tài sản tiêu dùng của doanh nghiệp Vì vậy, chủ một số doanh nghiệp tư nhân đã lợi dụng điều này để không thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo đúng quy định pháp luật.
*Đối với công ty hợp danh
Cũng theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 công ty hợp danh có
tư cách pháp nhân Mặc dù vậy, quyền quản lý cũng như cơ cấu tổ chức của loại hình doanh nghiệp này vẫn phụ thuộc vào quyết định của các thành viên hợp danh, với chế độ trách nhiệm tương tự như với doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là đối với công ty hợp danh có quy mô nhỏ Bởi vậy, cũng tương tự như phần thứ ba, việc Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 xác định công ty hợp danh là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cũng dẫn đến nhiều tranh cãi, gây khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ thuế của thành viên công ty hợp danh và của công ty hợp danh, dễ dẫn đến hiện tượng thuế đánh trùng thuế như đã phân tích hoặc hiện tượng lợi dụng khe hở của pháp luật để trốn thuế.
Thứ tư, điểm đ khoản 1 Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy
định các tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập cũng thuộc diện đối tượng nộp thuế Do đó, có ý kiến cho rằng: Điều 2 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp chưa xem xét đến tính đặc thù về cơ cấu thu nhập của tổ hợp tác cũng như doanh nghiệp quy mô nhỏ dẫn đến việc các
Trang 10
tổ chức này sẽ gặp khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ nộp thuế của mình là thuế thu nhập cá nhân hay thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ năm, Theo quy định hiện nay cá nhân và hộ gia đình kinh doanh
phải đăng kí kinh doanh nhưng không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, phần thu nhập của cá nhân phải chịu thuế thu nhập cá nhân Tuy vậy, hình thức kinh doanh này thường không rõ ràng về hoá đơn, chứng từ dẫn đến tình trạng là cơ quan nhà nước không thể xác định về doanh thu của các cơ sở kinh doanh So với doanh nghiệp tư nhân thì hình thức kinh doanh này dễ dàng trốn thuế, lại chỉ chịu một loại thuế thu nhập, thuế suất thuế thu nhập cá nhân về cơ bản thấp hơn thuế thu nhập doanh nghiệp Dẫn đến thực trạng là, tuy cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh như nhau nhưng do hình thức tổ chức kinh doanh khi đăng kí kinh doanh khác nhau mà việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước khác nhau.
2.2 Hướng khắc phục khi xác định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Thứ nhất, như đã phân tích trong phần hạn chế, thủ tục thành lập
doanh nghiệp được pháp luật quy định khá thông thoáng, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp “ma” mọc lên nhiều, do đó để khắc phục tình trạng này, việc sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật về thành lập và quản lý hoạt động của doanh nghiệp theo hướng vừa tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, vừa quản lý được tình hình hoạt động của doanh nghiệp là thực sự cần thiết Theo đó, để hạn chế tình trạng này, nên chăng
có quy định cho phép các cơ quan thuế có thể thực hiện một số biện pháp kiểm tra đặc biệt nếu nghi ngờ có sự sai trái trong việc sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng mà doanh nghiệp đã mua và không nhất thiết phải qua cơ quan thanh tra sau khi có quyết định thanh tra hoặc qua cơ quan kiểm soát điều tra Điều này có thể góp phần không nhỏ khắc phục tình trạng doanh nghiệp “ma”.