1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MÔ HÌNH TÒA ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

55 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 330 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, phải có một cơ chế kiểm soát hữu hiệu hoạt động của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành xã hội, khắc phục những biểuhiện cửa quyền, lạm quyề

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MÔ HÌNH TÒA ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÒA ÁN HÀNH CHÍNH

1.1 Tòa án hành chính – một thiết chế đặc thù trong bộ máy Nhà nước

1.1.1 Khái niệm Tòa án hành chính

1.1.2 Tính đặc thù của Tòa án hành chính

1.1.3 Vị trí vai trò Tòa án hành chính trong bộ máy Nhà nước

1.2 Một số mô hình tổ chức tòa án hành chính trên thế giới

1.2.1 Mô hình tổ chức tòa án hành chính ở cộng hòa Pháp

1.2.2 Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở cộng hòa Liên Bang Đức

1.2.3 Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở các nước theo hệ thống Luật Anh

1.2.4 Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở các nước xã hội chủ nghĩa

CHƯƠNG II: TÒA ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM

2.1 Lịch sử hình thành, phát triển tòa án hành chính tại Việt Nam

2.1.1 Thời phong kiến

2.1.2 Thời Ngụy quyền Sài Gòn

2.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975

2.2 Những quan điểm tổ chức và hoạt động của Tòa án hành chính ở nước ta

2.3 Cơ cấu tổ chức của Tòa án hành chính hiện nay

2.4 Thực trạng hoạt động của Tòa án hành chính

2.5 Các hạn chế của mô hình Tòa hành chính hiện hành

CHƯƠNG III: VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA

3.1 Nhu cầu đổi mới tổ chức Tòa án hành chính

3.2 Các quan điểm quán triệt khi thực hiện đổi mới tổ chức của Tòa án hành chính

3.3 Vấn đề hoàn thiện pháp luật về việc giải quyết khiếu kiện hành chính

3.3.1 Hoàn thiện Pháp luật phù hợp với thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội

Trang 2

3.3.2 Xây dựng và tăng cường đội ngũ cán bộ, thẩm phán hành chính

3.3.3 Nên tổ chức Toà án hành chính thuộc Chính phủ hay thuộc Tòa án nhân dân tốicao?

3.3.4 Xác định đầy đủ các cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc thành lập môhình tổ chức Tòa án hành chính thuộc Chính phủ nhưng độc lập với cơ quan hành pháp3.3.5 Mô hình tòa án hành chính được đề xuất: Tòa án hành chính thuộc Chính phủ

KẾT LUẬN CHUNG

MỞ ĐẦU

Trang 3

Từ đầu năm 1992, thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao, Thanh tra nhà nước đãphối hợp với Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân tối cao, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ

và các cơ quan hữu quan soạn thảo “Đề án tổ chức Toà án hành chính ở Việt Nam” Nhưvậy, ngay từ những năm đầu tiên Việt Nam mở cửa hội nhập thế giới, xây dựng mô hìnhTòa án hành chính đã là một chủ trương, một vấn đề rất lớn gắn liền với công cuộc đổimới, với cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách hệ thống tư pháp, nhằm xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam, nội dung đó đã được đưa vào chương trình xây dựngluật, pháp lệnh của Nhà nước ta xuyên suốt gần 20 năm qua

Việc nghiên cứu, soạn thảo đề án xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam, nhà nước của dân, do dân, vì dân, Nhà nước có kỷ cương, kỷ luật, cónền pháp chế cao và nền dân chủ mở rộng, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật vàtheo pháp luật Điều này có nghĩa là, Nhà nước đặt ra pháp luật thì chính cơ quan nhànước và nhân viên nhà nước phải tuân theo pháp luật, các quyền và lợi ích cơ bản củacông dân đã được pháp luật công nhận phải được coi trọng và bảo đảm thực hiện trênthực tế Do vậy, phải có một cơ chế kiểm soát hữu hiệu hoạt động của cơ quan nhà nước

và nhân viên nhà nước trong quá trình quản lý, điều hành xã hội, khắc phục những biểuhiện cửa quyền, lạm quyền, lộng quyền hoặc trốn tránh thẩm quyền, vô trách nhiệm trướcnhân dân, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được pháp luật ghi nhận Cơchế đó chính là cơ quan Tòa án về hành chính phán quyết tính hợp pháp hoặc bất hợppháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước và nhânviên nhà nước, khi những quyết định và hành vi đó xâm hại đến quyền và lợi ích hợppháp của công dân

1 Lý do chọn đề tài

Tòa án hành chính là một vấn đề hết sức mới mẻ, từ chỗ Tòa án còn rất xa lạ nhưngđến nay vấn đề Tòa án hành chính đã được tiếp cận trong lý luận cũng như thực tiễn ởnước ta Toà hành chính đã được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1995, tại kỳ họpthứ 8, quốc hội khóa IX, ngày 28/10/1995, kỳ họp đã thông qua luật sửa đổi bổ sung một

số điều của luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1992 Trong lần sửa đổi bổ sung này Tòa án

Trang 4

hành chính được thiết lập trong Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân cấp tỉnhbên cạnh các tòa dân sự, hình sự, kinh tế, lao động để thực hiện chức năng xét xử những

vụ án hành chính Qua giải quyết các khiếu kiện hành chính, Tòa án đã góp phần tích cựcvào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cho đến nay đã qua rất nhiều những lần sửa đổi; ra đời những văn bản pháp luật nhằmhoàn thiện mô hình Tòa án hành chính, nhưng Tòa án hành chính còn rất hạn chế, Môhình Tòa án hành chính hiện nay đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần nghiên cứunhư:

2 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Kinh nghiệm học hỏi được từ các mô hình tổ chức của Tòa án hành chính ở một sốquốc gia

- Làm rõ thực trạng, đánh giá về tổ chức và hoạt động của mô hình tòa án hànhchính ở Việt Nam

- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề xuất mô hình giải pháp nhằm đổimới, hoàn thiện pháp luật về tổ chức Tòa án hành chính ở nước ta

Trang 5

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa ánhành chính.

3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duyvật lịch sử và phép biện chứng duy vật Trên cơ sở phương pháp luận trên, đề tài này sửdụng các phương pháp nhận thức khoa học cụ thể như:

- Phương pháp so sánh;

- Phương pháp tổng hợp, thống kê;

- Phương pháp phân tích đánh giá…

4 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Để nghiên cứu về Tòa án hành chính và tổ chức mô hình Tòa án hành chính khôngthể không vận dụng những quy tắc cơ bản, các phạm trù, khái niệm của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cũng như các khái niệm chính trị học, hành chínhhọc hiện đại Chúng cho phép ta nhận thức và thấu hiểu bản chất cũng như đặc điểmriêng của Tòa án hành chính, và với các vấn đề có liên quan khác

Về mặt cơ sở lý luận, đề tài này sử dụng những thành tựu lý luận của khoa họcLuật hành chính thế giới, trước hết là của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Hệ thốngcác khái niệm, phạm trù, quan điểm được sử dụng trong đề tài cũng bắt nguồn từ nhữngkết luận khoa học của lý luận luật hành chính XHCN, đồng thời còn tiếp thu những yếu

tố khoa học, hợp lý liên quan đến các lý luận về Tòa án hành chính của các nước có chế

độ chính trị khác nhau

Nguồn tư liệu quan trọng của đề tài này là các nghị quyết của Đảng cộng sản ViệtNam, đặc biệt là chủ trương đổi mới và tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, thựchiện cải cách bộ máy hành chính nhà nước và tăng cường quản lý nhà nước bằng phápluật của Đảng và Nhà Nước ta hiện nay Ngoài ra, đề tài này còn tham khảo, sử dụng cácgiáo trình có liên quan , các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước…

Cơ sở thực tiễn chủ yếu của khóa luận là thực tiễn hoạt động giải quyết khiếu kiện hànhchính của Tòa án nhân dân; Nguồn thông tin được sử dụng làm cơ sở nghiên cứu thực

Trang 6

tiễn nêu trên là các văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo tổng kết hoạt động, cáctham luận… của các cơ quan nhà nước, các nhà khoa học có liên quan.

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn đựơc trình bày trong khoá luận bước đầu là tổng quát nhữngvấn đề cần thiết đề cập đến để hoàn thiện Pháp luật, cụ thể là hoàn thiện về mô hình tổchức Toà án với tư cách là một thiết chế quyền lực Nhà nước Toà án là công cụ tối ưubảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận cũngnhư thực tiễn trong công việc đấu tranh phòng ngừa cac vi phạm Pháp luật bảo vệ quyền,

tư do và lợi ích hợp pháp của công dân

Tôi hy vọng rằng, các giải pháp đổi mới mô hình tổ chức Tòa án hành chính ởnước ta do đề tài này đề xuất sẽ góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống lý luận khoa họcluật hành chính và cung cấp được những thông tin có ý nghĩa cho các cơ quan chức năngtrong việc đổi mới và hoàn thiện mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở nước ta, đóng gópvào công cuộc cải cách thủ tục hành chính, cải cách nền hành chính Nhà nước của dân -

do dân- dân vì theo định hướng Xã hội chủ nghĩa

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI PHÁN HÀNH CHÍNH

1.1 Tòa án hành chính – một thiết chế đặc thù trong bộ máy Nhà nước

1.1.1 Khái niệm Tòa án hành chính

Trang 7

Thuật ngữ tòa án trong tiếng Latinh là “Forum”, nghĩa là nơi công đường, nơi hoạtđộng của cộng đồng được tiến hành Điều 127, Hiến pháp 1992 thừa nhận: Tòa án là cơquan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tòa án là một cơ quan của Nhà nước thực hiện hoạt động xét xử bao gồm những hoạtđộng: xem xét, đánh giá và ra phán quyết nhân danh quyền lực Nhà nước, về tính hợphiến và tính hợp pháp của các hành vi hay quyết định khi có sự tranh chấp và mâu thuẫngiữa các chủ thể có lợi ích khác nhau

Như vậy, Tòa án hành chính là một cơ quan của Nhà nước thực hiện hoạt động xét xử cáchoạt động của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính Cụ thể hoạt động củaTòa án hành chính bao gồm việc: xem xét, đánh giá và ra phán quyết nhân danh quyềnlực Nhà nước, về tính hợp hiến và tính hợp pháp đối với những quyết định hành chính

hay hành vi hành chính khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa hai chủ thể, một bên là

các cơ quan nhà nước- người có quyết định, hành vi hành chính và một bên là các cánhân, tổ chức- đối tượng của quyết định, hành vi hành chính

1.1.2 Tính đặc thù của Tòa án hành chính

• Tòa án hành chính làm nhiệm vụ xét xử các vụ kiện hành chính Trong đó,một bên của vụ kiện là công dân hoặc một nhóm công dân, còn bên kia luôn luôn là cơquan nhà nước và nhân viên nhà nước Những khiếu kiện này chỉ phát sinh trong quátrình thực thi quyền lực hành chính (quyền lực công) của cơ quan nhà nước, nghĩa làtrong mối quan hệ giữa cơ quan quản lý với đối tượng bị quản lý

• Về đối tượng xét xử của tòa án hành chính: là những khiếu kiện đối vớihành vi hành chính và quyết định hành chính của cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhànước trong quá trình thực thi quyền lực công; còn đối tượng xét xử của các tòa án khác lànhững tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các cá nhân và của các tổ chức

• Toà án hành chính không làm nhiệm vụ xác định tội danh và áp dụngkhung hình phạt như trong vụ án hình sự, không xác định quyền dân sự, quyền sở hữu tàisản của công dân như trong tranh chấp dân sự, không xác định tính hợp pháp của hợpđồng kinh tế như trong vụ kiện kinh tế Toà án hành chính chỉ xác định tính hợp pháp hay

Trang 8

bất hợp pháp của quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nướchoặc nhân viên nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực công.

• Nếu đối tượng chấp hành các bản án, quyết định của Toà án dân sự, hình sự

và các Tòa án khác là công dân hoặc pháp nhân thì đối tượng chấp hành các phán quyếtcủa Toà án hành chính chủ yếu là cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước (có chức, cóquyền) Do đó, việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án hành chính có đặc thùkhác với các Tòa án khác như Tòa án nhân dân, nhiều nước có Toà án hành chính đãkhông đặt vấn đề cưỡng chế thi hành bản án, quyết định của Toà án hành chính như đốivới Toà án nhân dân

Thẩm phán Toà án hành chính cũng rất khác với Thẩm phán Toà án nhân dân Đókhông chỉ là những người có kiến thức pháp lý mà còn phải là những người có kiến thức

về quản lý nhà nước và am hiểu các ngành kinh tế - kỹ thuật khác như: tài chính, thuế,nhà đất, xây dựng

1.1.3 Vị trí vai trò Tòa án hành chính trong bộ máy Nhà nước

Trong hệ thống tư pháp, Tòa án giữ một vị trí đặc biệt, là một bộ phận của bộ máynhà nước, là tổ chức của quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực xét xử Bằng hoạt động củamình, Tòa án có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ gìn và đảm bảo công lý, bảo vệpháp luật và quyền lợi của công dân.Toà hành chính cũng nằm trong hệ thống tư pháp, cóvai trò bảo đảm tôn trọng quyền công dân, quyền con người và tạo ra một cơ chế kiểmtra, giám sát thực hiện quyền lực Nhà nước

Trước hết, Toà án hành chính là công cụ bảo vệ các quyền của công dân có hiệulực và kết quả cao trong đấu tranh chống và ngăn chặn các hành vi vi phạm của các cơquan nhà nước và cán bộ, nhân viên nhà nước trong khi thi hành công vụ Bởi vì, với tưcách là Toà án, các phán quyết của Toà án hành chính sau khi có hiệu lực pháp lý đều cógiá trị bắt buộc thi hành Các cơ quan nhà nước, các cán bộ nhân viên nhà nước có liênquan thì đều phải tuân theo những phán quyết của Tòa án Nguyên tắc này đã được ghitrong Điều 136 Hiến pháp năm 1992 của nước ta: “Các bản án và quyết định của Toà ánnhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ

Trang 9

chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữuquan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

Toà án hành chính là công cụ đấu tranh có hiệu quả trong việc nâng cao trình độ

và năng lực quản lý xã hội của các cơ quan và cán bộ, nhân viên nhà nước Phán quyếtcủa Toà án hành chính - có thể coi đó là những đánh giá, nhận xét chính thức về nănglực, trình độ trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong bộ máynhà nước Đồng thời, với các phán quyết của Toà án hành chính, việc đánh giá năng lực,trình độ chuyên môn của các cơ quan quản lý nhân sự đối với cán bộ, nhân viên nhà nước

sẽ có căn cứ rõ ràng hơn Việc thay thế những cán bộ, nhân viên nhà nước kém năng lực,kém trình độ sẽ có tính thuyết phục cao Đồng thời, đó cũng là biện pháp nâng cao tinhthần trách nhiệm, nâng cao trình độ, năng lực quản lý của các cơ quan, cán bộ, nhân viênnhà nước trước nhân dân

Sự thiếu vắng các Toà án hành chính trong hệ thống các Toà án nhân dân chính làmột trong những nguyên nhân làm cho cán bộ, nhân viên nhà nước luôn cảm thấy họ làngười ban ơn cho dân, là bề trên của dân, là những người sinh ra để lãnh đạo, chỉ huy vàluôn ở vị trí nắm quyền sinh, quyền sát đối với dân, chứ không phải là nô bộc của dân,phải chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước dân Sự thiếu vắng của các Toà án hànhchính trong hệ thống các Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng chính là một trong các nguyênnhân làm cho nhân dân thiếu lòng tin tưởng ở tinh thần phục vụ của bộ máy nhà nướccách mạng do chính nhân dân tạo lập nên Nó gây nên sự xa cách giữa Nhà nước vớinhân dân Nhà nước do vậy không nhận được sự bảo vệ, ủng hộ của nhân dân khi lâmvào cơn khủng hoảng

Toà án hành chính là công cụ có hiệu lực, không những có vai trò to lớn trong việctạo lập và duy trì một chế độ kỷ cương, pháp chế nghiêm minh trong hoạt động của bảnthân các cơ quan nhà nước mà còn góp phần to lớn vào việc đổi mới và hoàn thiện khôngngừng nền hành chính quốc gia Sự nghiệp quản lý nhà nước, quản lý xã hội không thểtiến hành một cách trôi chảy, có hiệu quả nếu bản thân nền hành chính quốc gia ở vào

Trang 10

tình trạng yếu kém Khái niệm về nền hành chính quốc gia chứa đựng trong nó nhiều nộidung, hoặc nói một cách khác là do nhiều nhân tố tạo thành như tổ chức bộ máy hànhchính, quy chế, chế độ, trình tự, thủ tục hoạt động hành chính, chất lượng – trình độ, nănglực, phẩm chất của cán bộ, viên chức nhà nước…

Trong khi chúng ta từng bước xây dựng một Nhà nước mới pháp quyền việc thiếtlập hệ thống toà án hành chính là sự đáp ứng nhu cầu cần thiết khách quan nhằm đảm bảopháp chế kỷ luật trong hoạt động hành chính Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân, cơ quan, công chức và viên chức

Tòa án hành chính sẽ làm bộ máy hành chính Nhà nước nâng cao trách nhiệm,tăng cường kỷ cương, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chínhNhà nước, nâng cao trách nhiệm làm việc của công chức viên chức trong khi thực thi, tôntrọng và bảo vệ quyền tự do, dân chủ, lợi ích hợp pháp của Nhân dân , góp phần xâydựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước của dân do dân và vì dân

1.2 Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở một số nước trên thế giới

Hoàn thiện mô hình xét xử vụ án hành chính được xem là một vấn đề bức thiết và còngây nhiều tranh cãi trong quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp ở Việt Nam Đểđáp ứng yêu cầu hoàn thiện này, việc học tập kinh nghiệm nước ngoài là cần thiết

Tùy theo quan điểm về Tài phán hành chính cũng như các điều kiện chính trị, kinh tế, xãhội cụ thể các quốc gia trên thế giới đã lựa chọn cho mình một hình thức tổ chức Tòa ánhành chính phù hợp Mỗi một hình thức Tòa án đều chứa đựng trong nó những yếu tố tíchcực cùng hạn chế Đổi mới mô hình Tòa án hành chính phải đứng trên quan điểm khaithác triệt để ưu điểm của các mô hình Tòa án hành chính của các quốc gia trên thế giới.Một số mô hình tòa án hành chính trên thế giới mà tôi lựa chọn để nghiên cứu đó là:

1.2.1 Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở cộng hòa Pháp (1- tr3)

Ở Cộng hòa Pháp cơ quan Tòa án hành chính đã được thiết lập từ gần 2 thế kỷnay Trước kia, cơ quan Tòa án hành chính ở Pháp chỉ có 2 cấp: ở trung ương là Hội đồngNhà nước, ở cơ sở là các Tòa án hành chính liên tỉnh Hiện nay, mô hình Tòa án hànhchính ở Pháp được thiết lập là một hệ thống trực thuộc Chính phủ, được tổ chức thành 3

Trang 11

cấp: Hội đồng Nhà nước, Tòa án hành chính phúc thẩm, Tòa án hành chính sơ thẩm liêntỉnh

So với các cơ quan khác, Hội đồng Nhà nước (Le Conseil d’État) vừa thuộc hệthống cơ quan Tài phán, vừa nằm trong quyền hành pháp có hai chức năng: chức năng tưvấn pháp lý cho Chính phủ ( Chính phủ không nhất thiết phải nghe theo Hội đồng Nhànước); và chức năng xét xử tối cao mà không ai có thể phản bác: giám đốc thẩm các loại

án có hiệu lực pháp luật cuả cơ quan tàì phán cấp dưới; xét xử sơ thẩm đồng thời làchung thẩm các vụ kiện quan trọng như: kiện văn bản quy phạm pháp luật hành chính,kiện các vụ việc liên quan đến hành vi hành chính cuả các chức danh do Tổng thống bổnhiệm Để đảm đương được chức năng kép (xét xử và tư vấn pháp lý) này, Hội đồngNhà nước được chia làm 6 ban gồm 5 ban hành chính làm nhiệm vụ tư vấn pháp lý và 1ban tố tụng làm nhiệm vụ xét xử Ban tố tụng của Hội đồng Nhà nước được chia thành 10tiểu ban Các tiểu ban là các bộ phận cơ bản cấu thành của Hội đồng Nhà nước, chiụ tráchnhiệm thẩm cưú các vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử cuả Hội đồng Nhà nước Tuỳ theotính chất,mức độ phức tạp cuả vụ kiện mà nó có thể do tiểu ban đã thẩm cứu xét xử hoặctiểu ban đã thẩm cứu phối hợp với tiểu ban khác xét xử Riêng các vụ việc quan trọng sẽđược đưa lên ban tố tụng xét xử Các vụ việc đặc biệt quan trọng sẽ được xét xử bằng Hộiđồng tố tụng (Hội đồng tố tụng gồm có các thành viên thuộc ban tố tụng và các trưởngban cuả các ban hành chính) Với tư cách là Tòa án hành chính tối cao, hàng năm Hộiđồng Nhà nước xét xử khoảng 10.000 đến 11.000 vụ án, với số lượng khoảng 300 thẩmphán được chia làm ba cấp với cấp cao nhất là Hội đồng viên

Các Tòa án hành chính phúc thẩm có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các vụ án do cácToà hành chính sơ thẩm giải quyết Tại Cộng hòa Pháp hiện tại có 8 Tòa án hành chínhphúc thẩm, mỗi toà chiụ trách nhiệm xét xử phúc thẩm các loại án, quyết định cuả một sốTòa án hành chính sơ thẩm Chánh án cuả Tòa án hành chính phúc thẩm là thành viên cuảHội đồng nhà nước Trong Tòa án hành chính phúc thẩm thường được chia làm 2 bộphận: một bộ phận chuyên xét xử các khiếu kiện về thuế, một bộ phận đảm nhiệm xét xửcác khiếu kiện khác

Trang 12

Các Tòa án hành chính sơ thẩm được tổ chức theo liên tỉnh, hiện nay có 41 tòa, cóthẩm quyền xét xử sơ thẩm tất cả các khiếu kiện hành chính, trừ các khiếu kiện thuộcthẩm quyền cuả Hội đồng Nhà nước.

Để đạt được hiệu quả tối ưu trong hoạt động của Tòa án hành chính, người Phápđưa ra một nguyên tắc quan trọng của nền hành chính Pháp, đó là nguyên tắc phân chiahành chính quản lý và hành chính tài phán với lý lẽ: nền hành chính quốc gia là sự thốngnhất gồm hai hoạt động:

- Hành chính quản lý: là toàn bộ hoạt động thường ngày của cơ quanhành chính trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

- Hàng chính tài phán: là hoạt động xem xét tính hợp pháp của cáchành vi hành chính thông qua việc giải quyết các khiếu kiện của người dân

Hai mặt hoạt động này có một mục đích chung là làm cho bộ máy công quyền ngày cànghoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phuc vụ nhân dân tốt hơn (10, tr11,12)

Ngoài hệ thống Tòa án hành chính chung, ở Pháp còn có một số cơ quan Tài phánhành chính chuyên biệt như:

- Thẩm kế viện;

- Tòa án kỷ luật tài chính và ngân sách;

- Các cơ quan Tài phán hành chính có tính chất nghề nghiệp: Hội đồng cao cấp các thẩmphán, Hội đồng cao cấp về giáo dục quốc gia, Hội đồng quốc gia các thầy thuốc

Các cơ quan tài phán chuyên biệt này cũng chiụ sự giám đốc thẩm cuả Hội đồng Nhànước ( 2, tr2-5)

Dù trước hay sau khi Tòa án hành chính Việt Nam ra đời( năm 1995) thì vẫn cónhiều học giả Việt Nam ủng hộ mô hình của Pháp, mong muốn có thể thiết lập mô hình

cơ quan tài phán hành chính nằm trong nhánh hành pháp nhưng độc lập với cơ quan hànhchính tại Việt Nam Có thể thấy trong luật tố tụng hành chính năm 2010 của Việt Nam

sẽ có hiệu lực vào ngày 01/07/2011 tới đây đã có một số điểm mới học tập được từ môhình tổ chức Tòa án hành chính của Pháp: đó là việc bỏ thủ tục tiền tố tụng và mở rộngthẩm quyền của Tòa án

Trang 13

Một trong những nội dung cơ bản, quan trọng nhất trong Luật Tố tụng hành chính

là bãi bỏ thủ tục tiền tố tụng – thủ tục bắt buộc đối với người khởi kiện trước khi khởikiện vụ án hành chính theo Pháp lệnh trước đây Theo đó, công dân không phải thực hiệnthủ tục khiếu nại trước khi khởi kiện, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân vàgiúp đơn giản hóa thủ tục hành chính Theo luật hành chính Pháp cũng vậy, Tòa án có thểxem xét tính hợp pháp của các quyết định, hành vi công quyền bất kể khi nào khi có yêucầu khởi kiện mà không cần trải qua giai đoạn tiền tố tụng bắt buộc Điều này lý giải cho

số lượng vụ kiện hành chính ở Pháp tăng cao đáng kể, và tất cả các vụ việc được xét xửthỏa đáng đến mức tối đa nhất

Khác với Pháp lệnh trong việc xác định những loại việc thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án, nay Luật Tố tụng hành chính không quy định theo hướng liệt kê 21 loại

vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà quy định theo hướng loại trừ những

vụ việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án, số còn lại sẽ do Tòa án giải quyết Theo đó,những loại việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án bao gồm: các quyết định hành chính,hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, anninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính,hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức Về thẩm quyền của Tòa ántrong Luật hành chính Pháp cũng chỉ đưa ra một nguyên tắc ngoại lệ là Tòa án sẽ khôngxem xét, giải quyết các vụ việc liên quan đến quá trình lập pháp của cơ quan Nghị viện,các mối quan hệ luật pháp quốc tế, các hoạt động hành chính nhưng mang bản chất dân

sự như hợp đồng hành chính Về nguyên tắc, người dân có thể kiện bất kỳ một quyếtđịnh hay hành vi công quyền nào ra tòa án có thẩm quyền nếu không thuộc những trườnghợp ngoại lệ

Dù những điểm mới trên chưa được thực hiện trên thực tế nhưng hi vọng nhữngđiểm tiến bộ của mô hình Tòa án hành chính Pháp mà Việt Nam đã học hỏi được, sẽ đạtđược hiệu quả cao khi thực hiện ở Việt Nam

1.2.2 Mô hình Cộng hòa liên bang Đức

Ở Cộng hoà liên bang Đức, những tư tưởng ủng hộ việc thiết lập một hệ thống Tòa

án hành chính độc lập xuất hiện từ nửa sau của thế kỷ thứ XIX Những nhà tư tưởng này

Trang 14

cho rằng: bản chất luật công là việc điều chỉnh những quan hệ giữa nhà nước và côngdân, đối tượng này khác biệt so với những quan hệ giữa công dân với nhau do luật tư điềuchỉnh Do đó yêu cầu phải có những nguyên tắc pháp lý cũng như một trình tự tố tụngmang tính đặc thù cho từng lĩnh vực Vì vậy, phần lớn các bang ở Đức đã quyết định theohướng thành lập một hệ thống tòa án hành chính độc lập sự tách biệt về mặt tổ chức vớiTòa án thường và độc lập với hệ thống hành chính Nhà nước, thậm chí là còn lập ra cácTòa án chuyên trách tách ra khỏi hệ thống Tòa án hành chính chung Các quốc gia tiêubiểu theo mô hình này có thể kể đến: Cộng hòa liên bang Đức, Thụy Điển, Áo, PhầnLan…

Hiện nay, tại Cộng hòa liên bang Đức có 6 loại tòa án cùng tồn tại thành những hệ thốngđộc lập, đó là:

Tòa án hành chính liên bang chỉ có nhiệm vụ xét xử các vụ kiện hành chính mà không cóchức năng tư vấn cho Chính phủ như mô hình của Pháp Bên cạnh đó, khác với tòa ánhành chính Pháp có thể xem xét các vụ việc bồi thường thiệt hại, tòa án Đức chỉ xem xéttính hợp pháp của các quyết định, hành vi, còn việc yêu cầu bồi thường sẽ do tòa án dân

sự giải quyết

Trang 15

Theo mô hình này, các tranh chấp được bảo đảm xét xử bằng Tòa án, quyền tưpháp và quyền hành pháp được tách bạch Ngoài ra, do được tổ chức thành một hệ thốngchuyên trách nên các thẩm phán có điều kiện tìm hiểu, tích lũy, nâng cao trình dộ chuyênmôn cũng như kiến thức pháp luật trong lĩnh vực Tài phán hành chính Nhưng bên cạnh

đó, để thiết lập được hệ thống tòa án chuyên trách sẽ làm tăng số lượng các cơ quan Nhànước trong hệ thống cơ quan tư pháp và điều này sẽ rất khó để thực hiện trong bối cảnhViệt Nam hiện nay

1.2.3 Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở các nước theo hệ thống Luật Anh

Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở các nước theo hệ thống luật Anh khônggiống như hệ thống luật của Pháp hay Đức, Tòa án hành chính ở các nước này được tổchức thuộc hệ thống Tòa án tư pháp Việc xét xử các khiếu kiện hành chính được giaohoàn toàn cho các toà án tư pháp (toà án thường) Mô hình này với những hình thức khácnhau được áp dụng ở nhiều nước như Anh quốc, Hoa Kỳ… và nhiều nước châu Phi nhưSênegan, Bờ Biển Ngà…

Nhìn chung, ở các nước có hệ thống này, luật hành chính ít phát triển, người tatrao cho Tòa án thường chức năng xét xử hành chính và không tổ chức Tòa án hànhchính độc lập Các cơ quan hành chính nhà nước không có nhiều uy quyền trong quan hệhành chính với nhân dân Với quan niệm lợi ích chung chẳng qua chỉ là con số cộng đơnthuần của nhiều lợi ích riêng nên trong các quan hệ pháp lý, nguyên tắc bình đẳng thỏathuận và quyền của các cá nhân được đề cao Từ đó sự phân chia giữa luật tư và luật côngkhông rõ nét Người ta cho rằng hệ thống pháp luật hiện có đủ để áp dụng cho cả cácquan hệ giữa nhà nước và công dân Từ đó dẫn đến việc từ chối việc thiết lập cơ quan tàiphán hành chính chuyên trách Các tranh chấp hành chính thông thường trước hết đượcgiải quyết trong nội bộ theo hệ thống thứ bậc: công dân phản đối quyết định hành chínhthì gửi phiếu nhận đến chính cơ quan đã ra quyết định đó hoặc cấp trên của chính cơ quan

đã ra quyết định này Nếu công dân không thỏa mãn với trả lời của cơ quan hành chínhthì khi đó họ mới kiện ra Tòa Thủ tục tiền tố tụng này cũng đã được quy định trong Pháp

Trang 16

luật Việt Nam, cụ thể là trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm

1996 (sửa đổi, bổ sung ngày 05 tháng 4 năm 2006)

Thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng trong việc giải quyết các vụ án hành chính.Thông thường chỉ có tòa án cao cấp (phúc thẩm) mới có quyền thụ lý và xét xử các vụkiện hành chính Tuy nhiên trong khoảng 20 năm trở lại đây ở một số nước theo hệ thốngnày cũng bắt đầu nghĩ đến việc cần phải có cơ quan tài phán hành chính chuyên tráchtrong một số lĩnh vực quan trọng (thuế, nhà cửa, đất đai, bảo hiểm, y tế ).(10, tr18)

Để hiểu rõ hơn mô hình này, ta có thể xem xét tổ chức và hoạt động tài phán hành chính

ở một quốc gia điển hình như: hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Mô hình cuả Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một quốc gia có hình thức cấu trúc liên bang, do đó hệ thống toà áncũng được tổ chức theo liên bang và các tiểu bang [4,Tr6]

Hệ thống Toà án liên bang bao gồm:

- Các Toà án khu vực liên bang, các Toà án chuyên biệt (Toà thương mại quốc tế, Toàkhiếu nại, Toà phá sản…);

- Các Toà án phúc thẩm lưu động liên bang;

- Toà án tối cao liên bang

Hệ thống Toà án cuả các tiểu bang gồm;

- CácToà án sơ thẩm;

- Các Toà án phúc thẩm;

- Toà án tối cao tiểu bang

Tuỳ theo tính chất, mức độ, quan hệ pháp luật điều chỉnh mà vụ kiện có thể thuộc thẩmquyền giải quyết cuả Toà án liên bang hoặc tiểu bang

Toà án tối cao liên bang là cơ quan xét xử cao nhất cuả Hoa Kỳ Các phán quyết cuả nó làcao nhất và cuối cùng

Toà án tối cao tiểu bang là Toà án cao nhất cuả bang có nhiệm vụ xét xử tất cả các bản áncuả Toà án cấp dưới có kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên, bản án cuả Toà án tối cao tiểubang không phải là cuối cùng Trong trường hợp nội dung vụ án có liên quan đến vấn đề

Trang 17

bị pháp luật liên bang điều chỉnh thì bản án đó có thể bị Toà án tối cao liên bang xem xétlại như một vụ án cuả liên bang[5, Tr50-54].

Theo quy định cuả pháp luật Hoa Kỳ, trước khi khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa

án tư pháp, người khởi kiện phải khiếu nại trước đến cơ quan “tài phán hành chính” thuộc

cơ quan hành chính nhà nước Trường hợp không đồng ý với phán quyết cuả cơ quan Tàiphán hành chính này, người khởi kiện có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án tưpháp Khi thụ lý các khiếu kiện này, Tòa án tư pháp chỉ xem xét lại về tính đúng đắn cuảcác phán quyết tài phán Tương tự như pháp luật Trung Quốc, pháp luật Hoa Kỳ cũngtrao cho Tòa án tư pháp có quyền đưa ra các phán quyết của mình thay cho quyết địnhhành chính của cơ quan hành chính nếu thấy cần thiết [4,Tr3]

Mặc dù tại Hoa Kỳ việc giải quyết các khiếu kiện hành chính được giao cho Tòa

án tư pháp, nhưng do có cơ chế về Tài phán hành chính tiền tố tụng tư pháp nên dù phánquyết cuả Tài phán hành chính thuộc cơ quan hành chính nhà nước có thể bị Tòa án tưpháp xem xét lại, nhưng Tòa án ít khi thay đổi các quyết định này, trừ khi Tòa án thấyluật bị áp dụng sai hoặc phiên xử cuả Tài phán hành chính không được tiến hành côngbằng, vô tư

Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động Tài phán hành chính cuả Hoa Kỳ cho thấy,hình thức tổ chức giải quyết khiếu kiện bằng Tài phán hành chính thuộc cơ quan hànhchính nhà nước trước khi thực hiện việc khiếu kiện ra Tòa án tư pháp đã làm giảm nhẹđáng kể khối lượng công việc cuả Tòa án, vì Tòa án sẽ chỉ giải quyết các khiếu kiện đốivới các phán quyết cuả cơ quan Tài phán hành chính mà thôi Ví dụ, ở Hoa Kỳ chỉ cókhoảng 10% số lượng các quyết định cuả cơ quan Tài phán hành chính bị kiện ra Tòa án

và chỉ có khoảng 10% trong số này bị Tòa án sưả đổi hoặc lật ngược lại[6,tr25- 27)

Mô hình này đơn giản và có ưu điểm: trước hết, nó tạo sự gần gũi giữa toà án vànhững người đi kiện vì nó cho phép người kiện gửi đơn đến toà án thông thường Đặcbiệt, người ta cho rằng mô hình bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử hànhchính bởi toà án tư pháp không dính dáng gì đến cơ quan hành pháp

Trang 18

Nhược điểm của mô hình này: Khi trao quyền cho Tòa án, người ta lo ngại toà ánchỉ lo bảo vệ các quyền của cá nhân mà không biết đến nhu cầu quản lý công cộng, tức lànhững lợi ích chung mà cơ quan hành chính có trách nhiệm thực hiện Tiếp theo là việcNhà nước, để bảo vệ những ưu quyền của mình sẽ tìm cách hạn chế thẩm quyền của toà

án trong các vụ việc khiếu kiện hành chính Và nhược điểm cuối cùng của hệ thống này

là việc toà án tư pháp không am hiểu về hoạt động hành chính công và không phải lúcnào cũng có khả năng giải quyết tốt các tranh chấp hành chính

Chính vì vậy, cùng với việc Nhà nước ngày càng can thiệp nhiều hơn vào lĩnh vựckinh tế - xã hội, nhiều nước theo mô hình Anh-Mỹ đã thành lập trong cơ quan tài phán tưpháp bộ phận với các thẩm phán chuyên xét xử các tranh chấp hành chính Điển hình làTây Ban Nha, nước đã lập ra các “phân toà hành chính” trong các Toà án tư pháp Cũngnhư vậy, một số nước như Sênêgan, Bờ Biển Ngà đã lập ra một toà án cao cấp trong đó

có phân toà chuyên xét xử về hành chính và có thẩm quyền kép: xét xử các khiếu kiện vềtính hợp pháp của văn bản hành chính thông qua con đường tố tụng lạm quyền (le recourpour excès de pouvoir) và xét xử các khiếu kiện chống lại các quyết định của các toà áncấp dưới, bằng con đường phá án (giám đốc thẩm) Như vậy, trong nhóm các nước nàyxuất hiện các thẩm phán chuyên xét xử hành chính ngay trong lòng các toà án tư pháp

Nó có xu hướng gần gũi với hệ thống thứ hai, hệ thống hỗn hợp

1.2.3 Mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở các nước xã hội chủ nghĩa

Nhìn chung trước đây các nước theo hệ thống Pháp luật xã hội chủ nghĩa không cóToà án hành chính, quyền lợi của Nhà nước và ngưòi dân là hoàn toàn nhất trí, không có

sự mâu thuẫn đối lập Vì vậy không có sự nảy sinh tranh chấp giữa cơ quan Nhà nước vàcông dân Nếu trong quá trình quản lý điều hành, các cơ quan Nhà nước có sự sai lầm,làm trái quy tắc và bị người dân phản đối, khiếu nại thì cơ quan hành chính cấp trên trựctiếp giám sát hướng dẫn và sữa chữa(10, tr19)

Trên thực tế hệ thống cơ quan hành chính đó chính là hệ thống thứ bậc thiếu một

cơ chế đảm bảo cho công dân có thể tranh luận với cơ quan hành chính khi có một tranhchấp nào đấy, thiếu một cơ chế hữu hiệu để kiểm tra tính hợp pháp trong quản lý hànhchính Nhà nước ở một số nước có hệ thống cơ quan gọi là viện kiểm sát được giao

Trang 19

nhiệm vụ kiểm sát các văn bản và các hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhữnghoạt động này chỉ giới hạn ở việc kiểm tra , phát hiện và kiến nghị với cơ quan hànhchính chứ không có quyền xét xử phán quyết Như vậy, ở đây viện kiểm sát không cóchức năng Tài phán hành chính Cho đến vài thập niên trở lại đây sự cần thiết phải kiểmtra hoạt động của các cơ quan hành chính dưới hình thức Tài phán được đặt ra và thẩmquyền được giao cho toà án giải quyết

Phát triển nhanh hơn cả trong lĩnh vực này phải nói đến Trung Quốc

Trước đây, cũng như nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác, Trung Quốc không xây dựng hệthống Tòa án hành chính mà trao quyền tài phán này cho chính các cơ quan hành chínhnhà nước Từ năm 1982, luật pháp Trung Quốc đã cho phép công dân có thể kiện ra toà

án những khiếu kiện liên quan đến những lĩnh vực mà pháp luật hành chính quy định.Năm 1990 Trung Quốc ban hành Luật tố tụng hành chính và tổ chức các Toà hành chínhnằm trong Toà án nhân dân các cấp để giải quyết các Khiếu kiện hành chính Toà án nhândân Trung Quốc được chia thành 4 cấp:

- Các Toà án cơ sở, được tổ chức ở cấp huyện;

- Các Toà án trung cấp (đệ nhị cấp), được tổ chức ở cấp tỉnh;

- Các Toà án cao cấp, được tổ chức ở cấp vùng;

- Cấp cao nhất là Toà án nhân dân tối cao ở trung ương

Về thủ tục tiền tố tụng, Luật tố tụng hành chính Trung Quốc không quy định điều kiệnkhiếu nại đến cơ quan, người đã có quyết định hành chính, hành vi hành chính là một thủtục bắt buộc trước khi khởi kiện (trừ trường hợp luật hoặc văn bản pháp quy có quy địnhkhác) [7,Tr123]

Luật tố tụng hành chính Trung Quốc cũng cho phép Tòa án có quyền sửa đổiquyết định xử phạt nếu thấy quyết định này « rõ ràng » là thiếu công bằng Nói cách khácbản án của Tòa án sẽ thay thế quyết định hành chính [7,tr127] Quy định về quyền phánquyết thay thế của Tòa án là sự bảo hộ về pháp lý để bảo đảm phán quyết của Tòa án thực

sự là quyết định cuối cùng, trong một chừng mực nhất định nó khắc phục được tình trạngphán quyết của Tòa án không thể thi hành được vì các cơ quan hành chính nhà nướckhông chịu thực hiện Tuy nhiên, nếu quy định này không được cụ thể, chặt chẽ dễ dẫn

Trang 20

tới tình trạng bị lạm dụng, quyền hành pháp và tư pháp bị lẫn lộn làm ảnh hưởng đếnquyền hành pháp.

Qua một số năm hoạt động, việc tổ chức cơ quan Tòa án hành chính nằm trong hệthống toà án tư pháp cuả Trung Quốc tỏ ra có nhiều hạn chế, nhất là các thủ tục về xácminh, thu thập chứng cứ và việc thi hành bản án Vì vậy, hiện nay Trung Quốc đang tiếptục

nghiên cứu nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động cuả Tòa án hành chính theo hướng thiếtlập một hệ thống Tòa án hành chính độc lập, tách khỏi hệ thống Toà án tư pháp [7,Tr114-115]

CHƯƠNG II: TÒA ÁN HÀNH CHÍNH Ở VIỆT NAM

Trang 21

2.1 Lịch sử hình thành, phát triển tòa án hành chính tại Việt Nam

2.1.1 Thời phong kiến

Trong các chế độ chính trị, hoạt động hành chính luôn luôn thể hiện tính chất dânchủ cao hay thấp, dân chủ thực sự hay dân chủ giả hiệu Do đó khi xây dựng bộ máyhành chính nhà nước mỗi quốc gia thường lựa chọn các phương cách phù hợp với cácđiều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội của nước mình

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nền văn hoá Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của vănhoá Trung Quốc, nhất là tư tưởng Nho gia Suốt 10 thế kỷ (từ năm 939 đến 1945) Nhogio đã thâm nhập, có thời kỳ còn chiếm giữ vị trí độc tôn trong hoạt động của nhà nướcphong kiến Việt Nam Theo quan điểm Nho gia, trong quan hệ giữa Vua- Dân thì vua làngười thay trời trị dân Toàn bộ quyền lực quốc gia tập trung vào tay vua, từ lập pháp,hành pháp đến tư pháp Vua là gạch nối giữa trời với dân, vua có nghĩa vụ thay trời locho dân được ấm no, hạnh phúc.( 8, tr68)

Trong thời kỳ ấy mọi tầng lớp nhân dân phải có nghĩa vụ tuân thủ lệnh vua, như con tuânlệnh Cha: “Vua nói chết không chết là bất trung – Cha nói chết không chết là bất hiếu”.Trong cái trật tự ấy của Nho giáo” vua là con trời”, ” ý vua là ý trời”, “Vua sẽ thay trời trịdân”

Theo sử cũ, khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1009 - 1028), là vị vua khai sáng triều đạiquân chủ trung ương tập quyền hoàn chỉnh đầu tiên ở Việt Nam đã ban hành chiếu chỉđích thân trực tiếp giải quyết các khiếu kiện của dân Chiếu rằng “Từ nay hễ có ai kiệntụng, được đến triều tâu bày, Vua sẽ đích thân xét quyết cho”

Trong các triều đại phong kiến Việt Nam sau đó, đã hình thành một truyền thống dân chủtrong chế độ quân chủ ở Việt Nam là dân có thể kiện đến triều đình các hành vi sai trái,phạm pháp của quan lại để vua xét xử Trước điện triều có đặt sẵn một cái trống hay cáichuông để có oan ức điều gì thì dân có thể đến đánh trống, đánh chuông kêu oan lên Vua

Vào thời Trần, ở trung ương, bên cạnh các cơ quan, chức quan đã có từ thờiLý,triều đình còn đặt thêm nhiều cơ quan chuyên trách mới trong đó có Thẩm hình viện

và Tam ty viện Thẩm hình viện là cơ quan xét xử cao nhất, Tam ty viện là cơ quan cóchức năng giám sát việc thi hành pháp luật cuả các quan lại và viên chức nhà nước, là cơ

Trang 22

quan đề nghị Nhà Vua sưả đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cuả Nhà nước Ngoài cácchức quan như đã có dưới triều Lý, nhà Trần còn đặt thêm các chức quan như Tư đồ, Tư

mã, Tư không, gọi chung là Tam tư, trong đó Tư mã là quan phụ trách công việc chinhphạt như quốc phòng, công an, tư pháp( 9, tr91) Có chức quan là Ngự sử đài với nhiệm

vụ là chuyển những giấy tờ trình nhà vua, chuyển đơn khiếu tố cuả tất cả các nơi lên nhàvua, kiểm tra, giám sát và phát hiện lầm lỡ cuả các quan lại, viên chức lên vua

Ở điạ phương, mỗi lộ có 2 viên quan trông coi về hành chính và tư pháp là An phủ chánh

sứ và An phủ phó sứ Quan lại hành chính ở điạ phương đồng thời phụ trách cả việc xét

Dưới triều Nguyễn, có cơ quan phụ trách giải oan cho dân là Tam pháp ty NămMinh Mạng thứ 13 (1832) theo tấu trình của đình thần, Vua đã chuẩn cho quy định: Hàngtháng, cứ đến ngày 6, 16 và 26 thì Tam pháp ty mở hội đồng để nhận các đơn kiện củadân Tuy nhiên, đối với những việc thật cần kíp, khẩn thiết không thể đợi đến nhật kỳnhận đơn thì cho phép bất cứ lúc nào dân cũng có quyền đến triều đình đánh trống kêuoan Trước Công chính đường có treo một cái trống gọi là trống Đăng Văn để cho ai cóviệc oan thì đến đánh trống ấy và nộp đơn kêu oan Dân có quyền kêu oan tới Vua thìcũng có nghĩa vụ bảo đảm cho việc cáo oan nghiên túc Nếu không phải sự việc khẩnthiết mà cứ đánh trống đưa đơn kêu thì việc dẫu có thật cũng bị đóng gông 10 ngày đểngoài sân, đến khi mãn hạn còn bị phạt đánh 100 trượng, nếu có vu cáo thì chiếu theo tội

Trang 23

vu cáo mà bắt chịu tội( 11, tr141) Theo luật lệ triều Nguyễn lúc đó kẻ nào đón xa giá nhàvua hoặc đánh trống Đăng Văn để khiếu oan mà việc không có gì khẩn thiết thì bị xử phạt

100 trượng; nếu khiếu oan không có sự thực thì theo mức nặng của tội vu cáo mà xử tội

Các quy định trên chứng tỏ nhà nước phong kiến Việt Nam cũng có quan tâm đếnviệc khiếu kiện của dân Không ít quan lại làm điều phi pháp nếu bị kiện đến tai vua thì

bị trừng trị thích đáng như: Cách chức; thu hồi áo, mão…Theo Đại Nam Thực Lục ChínhBiên vào năm 1832 bọn lại viên và người coi kho ở Sơn Nam và Hải Dương có ý gianđem cái quan hộc dùng để đong gạo thu thuế đẽo đáy cho trũng xuống và mỗi lần đongthì nặng tay ấn gạo xuống để lạm thu cho nhiều… Khi vụ việc bị khiếu kiện, nhà Vua đã

ra lệnh chém bêu đầu những kẻ cầm đầu, đục lấy mỗi bên một mảnh xương sọ, phơi giócho khô, treo ở cửa để răn đe người khác Vua còn bảo quần thần rằng: “Lấy được mảnhxương sọ mà cứu được ức muôn người khỏi khổ luỵ, thì dù có mang tiếng là hình phạttàn khốc cũng không hề gì”

2.1.2 Thời Ngụy quyền Sài Gòn

Năm 1885 kinh đô thất thủ, vua nhà Nguyễn thực tế lúc đó không còn quyền hànhthực sự nên Tam pháp ty bị bị bỏ, trống Đồng Văn bị dẹp Cũng kể từ thời điểm này, đấtnước ta luôn chìm trong khói lửa chiến tranh cho đến năm 1954, bằng các thoả thuận tạiHiệp định Géneve đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc

Tại miền Nam Việt Nam kế thừa Dụ số 2 ngày 05/01/1950 (được ban hành khi Việt Namcòn là thành viên trong Khối liên hiệp Pháp), chính quyền Ngô Đình Diệm tiếp tục banhành Dụ số 36 ngày 08/11/1954 tiếp tục duy trì tổ chức Tòa hành chính và Dụ số 38 ngày09/11/1954 về việc thành lập Tham chính viện

Theo các quy định có liên quan thì Tòa hành chính có thẩm quyền xét xử sơ thẩmcác vụ án đòi bồi thường liên quan đến pháp nhân hành chính, các vụ kiện xin thủ tiêucác quyết định hành chính có tính cá nhân liên quan đến tình trạng hành chính của côngchức cấp trung, cấp thấp, các vụ tranh tụng liên quan đến tuyển cử hội đồng hàng tỉnh,hàng quận, hàng xã; sơ và chung thẩm các vụ kiện liên quan đến thuế trực thu và các thuếđồng hoá với thuế trực thu Tham chính viện là cơ quan cấp trên của Toà hành chính,trong đó có Ban tài phán có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án do Toà hành chính

Trang 24

đã xử sơ thẩm; xét xử sơ và chung thẩm những việc xin thủ tiêu các QĐHC cá biệt haylập quy có vi phạm, các vụ tranh tụng liên quan đến tình trạng hành chính của các côngchức cao cấp…

Ngoài ra, trong tổ chức Tối cao pháp viện còn có Ban bảo hiến có thẩm quyền giảithích luật; xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, sắc lệnh, nghị định…và Ban phá án cóthẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật (11, tr148)

2.1.3 Ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975

Tại miền Bắc Việt Nam, chính quyền thuộc về nhân dân Đảng và Nhà nước ViệtNam dân chủ cộng hòa đã chủ trương xây dựng một nhà nước Việt Nam của dân, do dân

và vì dân: “Tất cả quyền binh trong nước là của tòan thể nhân dân”( Điều 1 Hiến pháp1946) “Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước phải dưạ vào dân, lắng nghe ý kiến vàchiụ sự kiểm sóat cuả nhân dân Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trungthành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sứcphục vụ nhân dân”( Điều 29 Hiến pháp 1959); “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộnghòa có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi viphạm pháp luật cuả nhân viên cơ quan nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phảiđược xem xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi vi phạm pháp luậtcuả nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường “(Điều 73, Hiến pháp 1980)

Từ ngày 30/4/1975 đất nước được thống nhất Kế thưà các quy định về quyền khiếu nại,

tố cáo cuả các cá nhân, cơ quan, tổ chức do nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyđịnh, Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tụcban hành các quy định có liên quan như: Tất cả các cơ quan nhà nước từ trung ương đếnđiạ phương phải trả lời kịp thời và đầy đủ tất cả các vấn đề cuả nhân dân đặt ra Một sựkiện đáng ghi nhớ là ngày 07/11/1979 Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 363/TTgtrong đó quy định: Sau khi xác minh sự phản ánh cuả quần chúng, báo, đài có thể tự độngđăng công khai các vấn đề để đấu tranh chống tiêu cực Trong thời hạn 30 ngày các cơquan liên quan phải trả lời việc được báo đài nêu lên hoặc chuyển thư đến

Ngày 27/11/1981 Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét và giảiquyết KNTC cuả công dân (Pháp lệnh 1981); quy định về quyền khiếu nại tố cáo cuả

Trang 25

công dân đến các cơ quan hành chính nhà nước và thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo cuảcông dân tại các cơ quan hành chính nhà nước Ngày 02/5/1991 Hội đồng nhà nước cóPháp lệnh KNTC cuả công dân (Pháp lệnh 1991) để thay thế cho Pháp lệnh 1981 Đếnngày 02/12/1998 Pháp lệnh 1991 được nâng lên thành một đạo luật là Luật khiếu nại tốcáo (Luật 1998) Đặc biệt, một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của phápluật về giải quyết khiếu kiện hành chính ở nước ta là ngày 21/5/1996 Uỷ ban thường vụquốc hội thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, có hiệu lực từngày 01/7/1996 (Pháp lệnh 1996) Theo đó trong một số trường hợp, ngoài việc khiếu nạitheo thủ tục khiếu nại tố cáo, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức còn có quyền khởi kiện vụ ánhành chính đến Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cuả mìnhkhi bị các quyết định hành chính, hành vi hành chính cuả các cơ quan nhà nước, cán bộ,công chức, người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước xâm phạm

2.2 Những quan điểm tổ chức và hoạt động của Tòa án hành chính ở nước ta

Phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhànước ta xác định cần phải xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, một Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một Nhà nước của dân, do dân và vì dân Với bảnchất đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan niệm quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân.Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cảquyền lực thuộc về nhân dân” Chính vì vậy không có sự phân lập tuyệt đối giữa cácquyền năng lập pháp, hành pháp và tư pháp mà trong bộ máy nhà nước quyền lực tậptrung vào cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân là Quốc hội Quyền lực nhà nước làthống nhất có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việcthực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp

Quyền tư pháp chủ yếu được thực hiện bằng hoạt động xét xử, công tố và các hoạtđộng hỗ trợ tư pháp khác như điều tra, công chứng, luật sư…, các chức năng trên đượcthực hiện bởi Toà án, Viện kiểm sát và một số cơ quan nhà nước khác theo trình tự tốtụng tư pháp (hình sự, dân sự…) Như vậy, khâu trọng tâm của quyền tư pháp là xét xửcủa Toà án, đúng pháp luật để bảo vệ quyền chủ thể, lợi ích hợp pháp của họ, bảo vệ trật

tự luật pháp của xã hội

Trang 26

Hoạt động xét xử hiện nay được thực hiện bởi các Toà án nhân dân, nhân danhNhà nước ra các bản án về hình sự, dân sự, kinh tế… Những tranh chấp trong lĩnh vựchành chính nhà nước giải quyết theo thủ tục hành chính Giải pháp này dựa trên quanniệm chung là Nhà nước hiện hữu để phục vụ cho lợi ích chung, hoạt động của các cơquan hành chính cũng nhằm mục tiêu đó Vì vậy, các khiếu kiện của công dân về “saisót” trong hoạt động quản lý có thể được giải quyết bằng bản thân các cơ quan hànhchính nhà nước với các hành vi tự sửa chữa Rõ ràng là, quan niệm trên đây không cònthích hợp với xu hướng xây dựng một Nhà nước pháp quyền và dân chủ, trong đó mọiquyền lợi của công dân phải được đảm bảo thực hiện và trên nguyên tắc mọi hoạt độngđều cần có cơ chế kiểm tra, kiểm soát nhân danh quyền lực nhà nước, quyền lực của nhândân Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước hàng ngày, hàng giờ đụng chạm đến đờisống nhân dân càng phải cần có cơ chế kiểm tra hữu hiệu.

Nhu cầu bức thiết về việc thành lập tổ chức chuyên giải quyết các vụ án hànhchính ở nước ta nằm trong nhu cầu chung của tiến trình đổi mới theo xu hướng dân chủhóa, xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường những bảo đẩm đối với quyền côngdân Nhu cầu đó lần đầu tiên được chỉ rõ trong nghị quyết 8 của ban chấp hành trungương đảng khóa VII

Các chuyên gia đã đưa ra bốn mô hình tòa án hành chính ở nước ta như sau:

1 Hình thành một hệ thống tòa án hành chính độc lập do Quốc hội lập

ra không phụ thuộc vào cơ quan hành chính và Tòa án nhân dân

2 Hình thành một hệ thống tòa án hành chính do Chính phủ lãnh đạo(trực thuộc Chính Phủ) nhưng độc lập với các bộ va Uỷ ban nhân dân các cấp, độclập với các Tòa án nhân dân

3 Hình thành một hệ thống tòa án hành chính gồm hai cấp: Tòa ánhành chính ở trung ương nằm trong cơ cấu của Tòa án nhân dân tối cao và tòahành chính nằm trong cơ cấu của tòa án nhân dân cấp tỉnh

4 Hình thành một hệ thống tòa án chuyên trách về xét xử các vụ kiệnhành chính nằm trong cơ cấu Tòa án nhân dân ở ba cấp: trung ương, tỉnh, huyện

Trang 27

Ngày 28/10/1995, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8, đã thông qua luật sửa đổi bổsung một số điều của luật tổ chức tòa án nhân dân 1992 ( sửa dổi bổ sung lần đầu năm

1993 Trong lần sửa đổi này, Tòa án nhân dân đã được thiết lập theo mô hình thứ ba trênđây Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 đã hoàn thiện thêm một bước hệ thống Tòa

án Việt Nam trong đó có Tòa hành chính Theo các văn bản pháp luật này, Tòa án nhândân cấp huyện cũng có chức năng xét xử những tranh chấp hành chính

2.3 Cơ cấu tổ chức Tòa án hành chính ở Việt Nam

Ở nước ta Tòa án hành chính được chính thức thành lập và đi vào hoạt động từ 7-1996 Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật tổ chức Tòa án nhândân được Quốc hội thông qua ngày 26-10-1995 thì Tòa hành chính không được tổ chứcthành một hệ thống độc lập, mà tổ chức thành các Tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa

1-án nhân dân Theo quy định này Tòa 1-án hành chính các cấp đều có quyền xét xử các vụ

án hành chính Để đảm bảo giải quyết các vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luậtnhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức, gópphần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đãthông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (PLTTGQCVAHC) ngày21-5-1996 và có hiệu lực từ 1-7-1996 Pháp lệnh được sửa đổi bổ sung hai lần: năm 1998

và năm 2006 Mới đây nhất là luật tố tụng hành chính, đã được Quốc hội khóa XII, kỳhọp thứ tám thông qua ngày 24-11-2010, có hiệu lực vào ngày 01/07/2011 Các văn bảnnày là cơ sở cho hoạt động xét xử các vụ án hành chính của tòa án

Như vậy, theo pháp luật hiện hành, mô hình tổ chức Tòa án hành chính ở Việt Nam đượcthiết lập là một hệ thống “Tòa hành chính trong tòa án nhân dân” mô hình này được tổchức như sau:

- Cơ quan cao nhất ở trung ương là Tòa hành chính tòa án nhân dân tối cao Theođiều 18 luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002, cùng với các Tòa án quân sự trungương,Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa kinh tế, Tòa lao động, các Tòa phúc thẩm Tòa ánnhân dân tối cao, Tòa hành chính được thành lập thuộc Tòa án nhân dân tối cao Theokhoản 2 Điều 23 của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: Toà hành chính

Ngày đăng: 17/02/2016, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w