1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu chếđộ công ty đại chúng theo quy định của pháp luật việt nam và thực tế áp dụng pháp luật về chế độ công ty đại chúng

11 696 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các đặc điểm về thành viên công ty giới hạn tối thiểu nhưng không giới hạn tối đa, vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau, tính tự do chuyển nhượng phần vốn g

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, vấn đề TTCK đã ,đang và sẽ trở thành một vấn đề “thời sự nhất” đối với nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới hiện nay.Thực tế đã chứng minh rằng TTCK cung cấp một nguồn vốn rất quan trọng cho nền kinh tế thị trường, nó thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia tham gia phát triển mạnh hơn ,nhanh chóng hơn

Thời gian qua, TTCKVN đã có sự chuyển mình đặt những mốc quan trọng sau nhiều năm hoạt động và phát triển Trước năm 2009, do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, TTCKVN đang giảm sút nghiêm trọng và biến động thường xuyên Kéo dài từ năm 2009 đến nay thị trường chứng khoán đang diễn ra một cách ảm đạm Nhằm điều tiết sự phát triển của hoạt động kinh doanh chứng khoán bước sang năm 2011 năm tiền đề của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm, TTCKVN đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức để phát triển hơn trong thời gian

tới Vậy chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về một khía cạnh của TTCK “tìm hiểu chế

độ công ty đại chúng theo quy định của pháp luật việt nam và thực tế áp dụng pháp luật về chế độ công ty đại chúng”

NỘI DUNG

I Những vấn đề cơ bản về công ty đại chúng.

1. Khái niệm công ty đại chúng.

Thông thường tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển khái niệm CTĐC được quy định trong luật công ty còn LCK chỉ quy định nghĩa vụ công bố thông tin của CTĐC Tuy nhiên đối với những nước mà luật liên quan chưa quy định thì LCK có quy định cụ thể về CTĐC

Điều 25 LCK quy định: "Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình sau đây:

a) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng;

b) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán;

c) Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên".

2 đặc điểm và vai trò của công ty đại chúng

Đặc điểm: CTĐC trước hết là công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh của luật

doanh nghiệp CTĐC mang đầy đủ đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần để phân

Trang 2

biệt với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh Đó là các đặc điểm về thành viên công ty (giới hạn tối thiểu nhưng không giới hạn tối đa), vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau, tính tự do chuyển nhượng phần vốn góp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp, được phát hành chứng khoán các loại có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh

Ngoài những đặc điểm pháp lý của công ty cổ phần được nêu trong luật doanh nghiệp, CTĐC còn có những đặc điểm pháp lý riêng biệt quy định trong luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành luật chứng khoán:

Về luật điều chỉnh: công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh trực tiếp của luật doanh nghiệp, còn CTĐC chịu sự điều chỉnh của LCK và luật doanh nghiệp

Về lượng cổ đông và vốn điều lệ: CTĐC phải có một lượng cổ đông nhất định, theo quy định của LCK là 100 cổ đông không kể cổ đông là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, là các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm và tổ chức kinh doanh chứng khoán Các nhà đầu tư này có đặc điểm riêng biệt là họ rất am hiểu về thị trường tài chính nói chung, TTCK nói riêng

Để được công nhận là CTĐC công ty cổ phần phải có vốn điều lệ đã góp là

10 tỷ đồng trở lên Một điểm lưu ý là vốn điều lệ của CTĐC phải là vốn đã góp chứ không phải là vốn điều lệ cam kết như công ty cổ phần Thông thường, việc xác định vốn điều lệ đã góp dựa trên báo cáo tài chính của công ty

Công ty đại chúng phải đăng ký với ủy ban chứng khoán nhà nước

Quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúng có các quyền theo quy định của luật doanh nghiệp có các nghĩa vụ theo quy định của luật doanh nghiệp và quy định của LCK

Vậy, đặc điểm nổi bật nhất của CTĐC so với công ty cổ phần là CTĐC có nghĩa vụ pháp lý chặt chẽ hơn rất nhiều so với công ty cổ phần đặc biệt là các nghĩa vụ về quản trị công ty và công bố thông tin Việc quản lý chặt chẽ của pháp luật đối với CTĐC là cần thiết bởi lẽ CTĐC có quy mô rông lớn cả về vốn và số lượng cổ đông Ngoài ra công ty đại chúng còn là hạt nhân của TTCK Do vậy hoạt động của công ty đại chúng còn chi phối gián tiếp nền kinh tế thị trường

Vai trò:

Đối với nền kinh tế quốc dân: CTĐC đóng vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế quốc dân Tính đến tháng 11/2008 đã có hơn 1000 công

Trang 3

ty đăng ký làm CTĐC với UBCKNN Với lượng vốn điều lệ khoảng 144 tỷ đồng thì CTĐC là lực lượng sản xuất quan trọng của cả nền kinh tế Đối với nước ta CTĐC có ý nghĩa rất lớn lao trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước CTĐC còn là nơi huy động nguồn vốn trực tiếp hoặc gián tiếp từ nước ngoài CTĐC thường là công ty có quy mô hoạt động vừa và lớn Đóng vai trò quan trọng trong thị trường, ngành, lĩnh vực mà nó hoạt động hơn nữa CTĐC phải chịu sự quản lý khắt khe của pháp luật, công bố thông tin công khia minh bạch hơn các loại hình công ty khác Do đó, CTĐC là nới các nhà đầu tư nước ngoài hướng tới để hợp tác làm ăn Như vậy, sẽ giúp cho nền kinh tế trong nước được mở rộng khả năng hội nhập tăng cao

Đối với thị trường chứng khoán: CTĐC có vai trò rất quan trọng đối với TTCK đặc biệt là thị trường sơ cấp CTĐC là người tạo ra hàng hóa chủ yếu trên thị trường sơ cấp thông qua việc phát hành cổ phiếu của công ty Thị trường hàng hóa thị trường chứng khoán phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp tạo ra hàng hóa đó

3 Tổ chức và hoạt động của công ty đại chúng theo quy định của pháp luật.

Về mặt tổ chức và hình thức,thực chất CTĐC là công ty cổ phần đã phát

hành chứng khoán ra công chúng Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng,

tổ chức phát hành trở thành CTĐC (có đăng ký) CTĐC có nghĩa vụ phải công khai thông tin về hoạt động của mình theo quy định của pháp luật, UBCKNN và

Sở Giao dịch chứng khoán nhằm đảm bảo cho nhà đầu tư có đuợc thông tin đầy

đủ về hoạt động thuờng xuyên cũng như những sự kiện bất thuờng của công ty

Điều 30,31,32 LCK 2006 đã liệt kê những hoạt động công ty đại chúng có quyền thực hiện

Nhận xét : Việc đặt ra các quy định về CTĐC nhằm đảm bảo tất cả các

doanh nghiệp có chứng khoán được công chúng sở hữu rộng rãi (kể cả các doanh nghiệp đã phát hành chứng khoán ra công chúng từ trước khi LCK có hiệu lực hoặc phát hành riêng lẻ nhiều lần theo quy định của Luật Doanh nghiệp mà trở thành CTĐC) phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch, từ đó có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư

Về hoạt động chào mua công khai, để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong việc chào mua thâu tóm doanh nghiệp, tránh việc các CTĐC bị thâu tóm một cách không công bằng, không công khai và bảo vệ các cổ đông thiểu số trong doanh nghiệp bị thâu tóm, LCK quy định việc chào mua công khai phải báo cáo UBCKNN và chỉ được thực hiện sau khi UBCKNN chấp thuận và đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng trước thời điểm dự kiến thực hiện

Trang 4

Luật cũng quy định chứng khoán của các CTĐC phải được đăng ký, lưu ký tập trung tại Trung tâm lưu ký chứng khoán Quy định như vậy là phù hợp với thông lệ quốc tế về đăng ký và lưu ký tập trung, khắc phục được tình trạng các nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp chứng chỉ chứng khoán Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi biến động sở hữu, cũng như thuận tiện cho việc giao dịch, thanh toán và tiến tới thực hiện chính sách phi vật chất chứng khoán như một số nước đã tiến hành

II Thực tế áp dụng pháp luật về chế độ công ty đại chúng.

1 Thực tế áp dụng pháp luật về chế độ công ty đại chúng.

Kể từ khi thị trường chứng khoán (TTCK) được thành lập, số lượng công

ty đại chúng tăng đột biến với tổng số gần 2.000 doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng của công ty đại chúng phụ thuộc vào diễn biến của TTCK và một phần vào các quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Theo ước tính, không dưới phân nửa số công ty đại chúng xuất hiện trong giai đoạn 2007-2010

Theo xu hướng chung, phần lớn các doanh nghiệp đại chúng hóa như một yêu cầu tối thiểu của quá trình đăng ký niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán Ngoại trừ các doanh nghiệp đã niêm yết thành công và giả sử đang hưởng lợi từ việc niêm yết, còn gần 1.000 doanh nghiệp đã chuyển từ doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước sang công ty đại chúng Có bao nhiêu phần trăm doanh nghiệp thực sự chuyển đổi để tận dụng các lợi ích tiềm năng của một công

ty đại chúng và bao nhiêu doanh nghiệp chỉ đơn thuần chuyển đổi để đáp ứng các thủ tục hành chính?

Trên thực tế có rất nhiều công ty đã trở thành công ty đại chúng như: năm

2010 Công ty CP Đệ Tam (DETACO) chính thức được UBCKNN công nhận trở thành công ty đại chúng Năm 2011 Công ty CP Giáo dục Quốc tế Việt Úc (TP.HCM), vốn điều lệ 16 tỉ đồng đăng ký là CTĐC Và tính đến ngày 30-9 có hơn 1.000 công ty đăng ký là CTĐC - UBCK cho biết

Theo thông tin mà UBCK đã cung cấp thì hiện nay ở nước ta đã có khoảng hơn 1.600 CTĐC nằm trong diện quản lý của UBCK Theo lãnh đạo cơ quan này, chính vì số doanh nghiệp phải quản lý quá lớn như vậy, nên UBCKVN không thể soát xét đến từng báo cáo tài chính của CTĐC Việc soát xét báo cáo tài chính của CTĐC thuộc trách nhiệm của các công ty kiểm toán được chấp thuận Tuy nhiên, khác với con số này, trong mục CSDL về CTĐC tại website của UBCK,

số CTĐC được ghi nhận đến ngày 18/9/2001(có tên công ty, địa chỉ website và vốn điều lệ) chỉ là 711 công ty Lý giải cho vấn đề này là bởi nhiều công ty niêm yết chỉ thực hiện nghĩa vụ báo cáo Sở, chứ không báo cáo UBCK, mặc dù theo quy định pháp luật là công ty niêm yết phải báo cáo cả Sở và UBCK Theo quy

Trang 5

định tại Thông tư 09/2010/TT-BTC, việc công bố thông tin của CTĐC, tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng, công ty quản lý quỹ, CTCK phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo UBCK, Sở GDCK Do đó,

có thể nói vì quy định trên tại Thông tư 09 chưa được thực thi nghiêm túc, nên mới dẫn đến một thực tế là dữ liệu về CTĐC tại UBCK quá thiếu như hiện nay

Một số bất cập của thông tư 09.

Hiện nay, việc quy định CBTT trong thông tư 09 chỉ dựa trên hai nhóm đối tượng là CTĐC và công ty niêm yết Tuy nhiên, trong thực tế, có những trường hợp, CTĐC có quy mô vốn rất lớn, số lượng cổ đông nhiều và mức độ thanh khoản trên thị trường cao nhưng lại không thuộc đối tượng bị điều chỉnh

Ví dụ như trường hợp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB), một công ty cổ phần có vốn điều lệ trên 10 ngàn tỉ đồng và số lượng cổ đông rất lớn nhưng họ vẫn chưa đưa cổ phiếu vào niêm yết trên thị trường tập trung do đó không thuộc đối tượng điều chỉnh của thông tư 09 Điều này có thể gây ảnh hưởng tới quyền lợi của những người nắm giữ cổ phiếu của MB nếu thông tin không được công bố đầy đủ

Quy định về báo cáo trước ngày giao dịch của cổ đông lớn và cổ đông nội

bộ cũng chưa đáp ứng được mục tiêu quản lý và chưa phù hợp với thông lệ quốc

tế

Theo thông tư này, các cổ đông lớn và cổ đông nội bộ, trước khi thực hiện giao dịch cần công bố thông tin trên phương tiện truyền thông; tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các cổ đông này có công bố thông tin nhưng không thực hiện giao dịch hoặc chỉ giao dịch một phần hoặc vừa mua vừa bán, làm lũng đoạn thị trường chứng khoán

Ngoài ra, thông tư 09 không đảm bảo về mặt thời gian việc CBTT bất thường trong vòng 24 giờ của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ do có độ trễ khi phải nhận được sự chấp thuận của cơ quan quản lý trước khi công bố; đồng thời chưa quy định về CBTT khi trở thành cổ đông lớn (trên 5%) đối với chứng chỉ quỹ của công ty đại chúng/quỹ đại chúng; chưa có cách xác định cụ thể

“số cổ phiếu có quyền biểu quyết đang lưu hành” và chưa quy định rõ CBTT của

tổ chức niêm yết trái phiếu.1

1

1 http://cafef.vn/20110723072231530CA31/dieu-chinh-quy-dinh-ve-cong-bo-thong-tin-cua-cong-ty-dai-chung.chn

Trang 6

Điều 28 LCK quy định: “CTĐC phải tuân thủ các quy định của luật doanh nghiệp về quản trị công ty” và bộ tài chính quy định cụ thể về quản trị công ty áp

dụng với CTĐC có cổ phiếu niêm yết Như vậy pháp luật chứng khoán mới chỉ điều chỉnh đối với CTĐC chưa niêm yết trên TTCK Đối với CTĐC chưa niêm yết khung pháp lý về quản trị còn lỏng lẻo, bó hẹp trong phạm vi của luật doanh nghiệp Quy định này thể hiện sự thiếu sót của luật chứng khoán

Ngày 21/2/2012, UBCKNN vừa ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các CTĐC chưa niêm yết có hành vi vi phạm quy định về chế

độ báo cáo và công bố thông tin UBCKNN đã xử phạt 60 triệu đồng đối với Công ty Cổ phần Cơ khí chế tạo máy Long An và Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Khang theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 34 Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 2/8/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định 85/2010/NĐ-CP); Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bảo Việt bị phạt 20 triệu đồng theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 34 Nghị định 85/2010/NĐ-CP

2 Ưu điểm, hạn chế của loại hình công ty đại chúng và nhận xét:

a Ưu điểm:

Ngoài những ưu điểm của một công ty cổ phần, công ty đại chúng có những ưu điểm sau đây:

- Công ty có thể phát hành nhiều loại chứng khoán để huy động vốn đại chúng trong và ngoài nước, kể cả tổ chức Nhờ yếu tố thanh khoản, doanh nghiệp và cổ đông có thể tận dụng được lợi thế của thị trường vốn, tận dụng các khoản nhàn rỗi, tạo cơ hội gia tăng giá trị cho nhà đầu tư, đặc biệt là những người khởi lập doanh nghiệp

- CTĐC có thế mạnh đặc biệt về phát triển, có được yếu tố trường vốn

và trường tồn nhờ có tính độc lập giữa thực thể doanh nghiệp và người sở hữu

- Để trở CTĐC, công ty cổ phần phải tuân thủ một số điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật nên chỉ một số công ty cổ phần đáp ứng đủ điều kiện mới được, tạo ra một sàn chung có mặt bằng chung giống nhau, tạo ra sự chọn lọc và khả năng cạnh tranh giữa các công ty với nhau để thu hút nhà đầu tư

- Tự do chuyển nhượng, tự do mua bán cổ phần giữa các nhà đầu tư

- Công ty được xã hội biết đến do có tên tuổi xuất hiện công khai trên thị trường chứng khoán, trên báo chí Công ty đã khẳng định được danh tiếng, uy tín thì khi cần huy động vốn ngoài xã hội, công ty dễ dàng có thể tiếp tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu với chi phí phát hành thấp hơn lần phát hành truớc nên

dễ dàng tiến hành huy động vốn từ công chúng

Trang 7

- Tính minh bạch cao thể hiện ở việc Công ty phải báo cáo công khai hoạt động của mình cho công chúng, nên chịu sự giám sát của công chúng, xã hội Thêm vào đó, hội đồng quản trị và ban giám đốc phải công khai các hoạt động quản lý và điều hành công ty Ban giám đốc phải chăm lo việc phát triển công ty cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, cơ cấu hợp lý vốn, nếu không thì các giám đốc sẽ bị sa thải; như vậy hoạt động công ty đại chúng đã ràng buộc các giám đốc phải tuân thủ pháp luật, điều hành công ty theo đúng luật công ty

- Nhà nước bớt được gánh nặng phải trợ giúp vốn ngân sách cho công

ty, và như vậy Nhà nuớc có thể tập trung sức lực vào nhiệm vụ trọng đại của mình là đầu tư cơ sở hạ tầng

b Nhược điểm:

- Do tính chất đối vốn của CTĐC nên công ty có rất nhiều người nắm giữ cổ phần dẫn đến tình trạng khó quản lý và nằm ngoài tầm kiểm soát của ban quản lý công ty

- Thủ tục hành chính phức tạp, Trình tự thành lập phải đáp ứng một số yêu cầu chặt chẽ và tuân theo quy định của pháp luật, nhất là về mặt thông tin và việc công khai các hoạt động của công ty do đó CTĐC rất khó giữ bí mật vì phải tuân thủ chế độ kiểm tra và báo cáo thường xuyên công việc kinh doanh của mình đặc biệt là các khoản lợi nhuận để thu hút các nhà đầu tư

- Tài chính công ty luôn phải minh bạch điều này sẽ khiến bất lợi cho công ty vì đối thủ sẽ biết được và dễ tìm ra các phương án cạnh tranh tương ứng,

- Khi phát hành, công ty sẽ phải chịu các chi phí đợt phát hành: chi phí thuê hãng kiểm toán độc lập để lập báo cáo kiểm toán hoạt động của công ty, chi phí thuê người bảo lãnh phát hành, chi phí chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ để xin phép phát hành, chi phí quảng cáo cho đợt phát hành

c Nhận xét

CTĐC là loại hình đặc biệt của công ty cổ phần nên có tất cả những đặc điểm của công ty cổ phần, tuy nhiên để trở thành CTĐC phải tuân thủ các yêu cầu khắt khe hơn so với công ty cổ phần do đó loại hình công ty này có một số lợi thế hơn so với những công ty cổ phần như khả năng huy động vốn từ thị trường, việc chuyển nhượng cổ phần giữa các nhà đầu tư dễ dàng hơn mà không cần phải báo cáo qua công ty Tuy nhiên, CTĐC cũng có một số điểm hạn chế nhất định trong việc công khai các thông tin của công ty, với thủ tục hành chính như Việt Nam hiện nay thì phức tạp, mất nhiều thời gian và có thể dẫn đến một

số tiêu cực trong việc công bố thông tin để trục lợi từ các công ty đại chúng

Với tình hình tài chính của Việt Nam hiện nay và dự báo trong thời gian tới thì chứng khoán Việt Nam chưa khởi sắc được do đó sự phát triển của các công ty chúng còn rất chậm

Trang 8

III Các giải pháp để hoàn thiện pháp luật việt nam về hoạt động của công ty đại chúng.

Một số giải pháp:

 Phải luật hóa các quy định, chế tài về công ty đại chúng;

 Phải chấp nhận mở rộng thêm khả năng tham gia của các tổ chức đầu

tư hiệu quả và chuyên nghiệp vào các công ty;

 Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản, trong bối cảnh mới, các công ty tự mình hoặc với sự trợ giúp của các chuyên gia, công ty tư vấn cần rà soát hệ thống của mình, phát hiện những thiếu sót, lỗ hổng, từ đó đề ra biện pháp khắc phục

 Để hoàn thiện hệ thống quản trị công ty thì cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải tách bạch vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ quyền hạn cụ thể: công ty phải thiết lập một hệ thống pháp luật đầy đủ trong doanh nghiệp: điều lệ công ty, quy chế quản trị doanh nghiệp, quy chế hoạt đông của hội đồng quản trị, quy chế tiền lương tiền thưởng, quy chế duy trì và phát triển nguồn nhân lực

 Phổ biên tuyên truyền pháp luật về CTĐC: đối với 1 nước như việt Nam hiểu biết pháp luật về CTĐC còn nhiều hạn chế Thực tế cho thấy nhiều công ty vi phạm các quy định của pháp luật về công ty đại chúng ( chủ yếu là các quy định về chào bán và công bố thông tin) do không nắm được các quy định về công ty đại chúng Việc tăng cường, phổ biến pháp luật về công ty đại chúng sẽ giúp các công ty thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ của mình, tránh được việc vi phạm các quy định của pháp luật Công ty hoạt đông có hiệu quả

- Đối với Bộ Tài chính (Bao gồm cả UBCKNN):

Để đảm bảo tính minh bạch trong BCTC của doanh nghiệp niêm yết, CTĐC và quyền lợi của nhà đầu tư, Bộ Tài chính cần ban hành, sửa đổi một số các văn bản và nội dung sau:

+ Cần có quy định thống nhất trong việc xử lý chênh lệch tỷ giá

+Cần ban hành quy định việc trích lập dự phòng đối với cổ phiếu OTC trong trường hợp hầu như không có giao dịch, góp vốn bằng thương hiệu, ghi nhận lợi thế thương mại phát sinh từ các giao dịch nội bộ giữa các công ty chịu

sự kiểm soát chi phối của công ty nắm quyền kiểm soát

Bộ tài chính cần đẩy nhanh việc sửa đổi và hệ thông Chuẩn mực kế toán Việt Nam dự trên chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế hiện hành

Trang 9

UBCKNN là cơ quan nắm rõ nhiều sai sót của doanh nghiệp niêm yết và các công ty kiểm toán Bởi vậy vào tháng 11 hoặc tháng 12 hàng năm, UBCKNN cần phối hợp với Vụ Chế độ kế toán kiểm toán - Bộ Tài chính, VACPA tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm cho các công ty kiểm toán được UBCKNN chấp thuận

để các công ty kiểm toán nhận rõ các hạn chế và có hướng khắc phục Cũng trong hội thảo này UBCKNN cần đưa ra ý kiến về xử lý các trường hợp chưa có quy định hoặc quy định không thống nhất giữa các văn bản pháp quy để các công ty kiểm toán có hướng xử lý thống nhất tạo ra sự minh bạch trong BCTC đã kiểm toán Nội dung này đã được UBCKNN thực hiện tốt trong cuộc họp vào tháng 12 năm 2011 và đã có Công văn số 322/UBCK-QLPH ngày 4/2/2012 của UBCKNN

về hướng dẫn một số vướng mắc trong xử lý kế toán, kiểm toán BCTC Đây là hướng dẫn rất kịp thời cho mùa kiểm toán BCTC năm 2011 giúp tháo gỡ một số vướng mắc về các hướng dẫn về chính sách tài chính kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp trong đó có các công ty đại chúng và công ty chứng khoán Tuy nhiên về các vấn đề này, chúng tôi đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục cần phải giải quyết dứt điểm về các khác biệt trong các văn bản hướng dẫn và UBCKNN cũng cần tiếp tục phối hợp giải quyết các vướng mắc này

- Đối với doanh nghiệp niêm yết và công ty đại chúng:

Doanh nghiệp nên quyết định lựa chọn công ty kiểm toán có uy tín, chất lượng để thực hiện kiểm toán BCTC, không nên đặt tiêu thức giá phí rẻ để lựa chọn công ty kiểm toán

Doanh nghiệp nên yêu cầu kiểm toán viên phải giải trình trong đại hội cổ đông thường niên về ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên trong BCTC

Cần chủ động phối hợp với kiểm toán viên trong việc cung cấp hồ sơ, xử lý các vướng mắc và soát xét số liệu kế toán trước khi phát hành BCTC để hạn chế

sự khác biệt giữa BCTC trước kiểm toán và BCTC đã được kiểm toán

- Hiện UBCK có thể phạt tiền đến 500 triệu đồng, mức phạt này cao hơn trước đó rất nhiều, nhưng vẫn còn quá nhẹ trong nhiều trường hợp vi phạm Ông Ken Rushton, Trưởng ban Niêm yết, FSA chia sẻ, cơ quan này có quyền

“phạt tiền không giới hạn” đối với hành vi vi phạm và bỏ tù đối với những cá nhân có hành vi thao túng TTCK hay giao dịch nội gián

- Cá nhân có dấu hiệu vi phạm hay khi trên thị trường có tin đồn thì công ty, cá nhân đó phải giải trình trước Ủy ban Pháp chế Ủy ban này có Chủ tịch là thành viên của FSA và các thành viên khác là những chuyên gia độc lập,

có kinh nghiệm… Sau đó, Ủy ban sẽ ra phán quyết nếu thấy có dấu hiệu vi phạm Công ty hoặc cá nhân vi phạm có thể kháng cáo lên tòa án độc lập và quyết định của tòa án là cuối cùng

Trang 10

- Đạo đức của các thành viên HĐQT và Ban giám đốc công ty đại chúng là một dấu hỏi khi hiện tượng thành lập các công ty “sân sau” của lãnh đạo các công ty khá phổ biến Các công ty “nghiện” đầu tư vì dự án có hiệu quả hay không đều có lợi cho những người điều hành Bên cạnh đó, số lượng các công ty kiểm toán ở Việt Nam còn thiếu cũng như chất lượng kiểm toán còn yếu Có DN dừng hợp đồng với công ty kiểm toán cũ và thuê một công ty kiểm toán mới, nhưng chỉ một thời gian ngắn đã có báo cáo kiểm toán để công bố ra thị trường Điều này khiến NĐT không khỏi nghi ngờ về chất lượng của báo cáo kiểm toán

- Việc giám sát công ty đại chúng và thực hiện QTCT tốt ở Việt Nam còn lỏng lẻo do thiếu cơ chế, chế tài và cơ quan không có đủ quyền lực Hiện nay, một số văn bản luật đang được sửa đổi nhằm cung cấp thêm “cây gậy” cho UBCK thực hiện chức năng này Dự kiến, một Thông tư mới hướng dẫn về QTCT áp dụng cho các công ty đại chúng sẽ điều chỉnh cả các công ty đại chúng chưa niêm yết Tuy nhiên, liệu UBCK có đủ nhân lực và nguồn lực để giám sát

số lượng công ty đại chúng lên tới 1.600 công ty hiện nay? Kinh nghiệm của các thị trường phát triển cho thấy, công nghệ thông tin để theo dõi biến động giá cổ phiếu, theo dõi báo cáo của các công ty đại chúng là công cụ đắc lực của cơ quan giám sát Tại Anh, từ khi có hệ thống công nghệ hiện đại, số vụ xử phạt của FSA

đã tăng lên rất nhiều so với trước đó Do đó, việc bổ sung thêm các quy định pháp luật nhằm giám sát chặt chẽ các hoạt động liên quan tới chứng khoán là rất quan trọng nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước cũng như lợi ích của tổ chức, cá nhân

Ngày đăng: 17/02/2016, 23:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w