Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định...5 2.5.. Để áp dụng cách thức này đạt hi
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
1 Tìm hiểu chung về khuyến mại 1
2 Các hình thức khuyến mại 2
2.1 Hình thức đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền 2
2.2 Hình thức tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền 3
2.3 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó (hay còn gọi là “giảm giá”) 4
2.4 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định 5
2.5 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu tham dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo tỉ lệ và giải thưởng đã công bố 6
2.6 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi 6
2.7 Tổ chức các chương trình khách hàng thường xuyên 7
2.8 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại 8
3 Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện 8
3.1 Thực tiễn áp dụng 8
3.2 Phương hướng hoàn thiện 12
KẾT LUẬN 15
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước ngày càng phát triển nhanh và mạnh Số lượng hàng hóa được sản xuất ngày càng nhiều cùng với nó là chất lượng hàng hóa cũng ngày càng được nâng cao, mẫu mã, chủng loại của các mặt hàng ngày càng phong phú, đa dạng Điều đó đòi hỏi các nhà sản xuất phải tích cực hơn trong khâu tiêu thụ sản phẩm Phải làm thế nào để sản phẩm sản xuất ra phải tiêu thụ được nhanh chóng và thu lợi nhuận cao?
Vì vậy, cuộc cạnh tranh giữa các nhà sản xuất ngày càng quyết liệt hơn Muốn đi đầu trong việc tiêu thụ hàng hóa, đòi hỏi họ phải nâng cao chất lượng sản phẩm của mình đồng thời với các hoạt động xúc tiến thương mại, trong có một hình thức rất phổ biến đó là khuyến mại Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc của khuyến mại nói riêng và hoạt động thương mại nói chung đó là tính hợp pháp khi thực hiện
Bởi vậy, việc tìm hiểu các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng là một vấn đề cần thiết Đề tài
nghiên cứu dưới đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề trên
NỘI DUNG
1 Tìm hiểu chung về khuyến mại.
Khoản 1 Điều 88 Luật thương mại (LTM) năm 2005 quy định: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định” Với cách thức “dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”, khuyến mại có tác dụng kích thích nhu cầu mua sắm, tăng cường cơ
hội thương mại cho doanh nghiệp Như vậy, theo quy định của LTM, khuyến mại có các đặc điểm cơ bản sau:
- Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân Để tăng cường
cơ hội thương mại, thương nhân được phép tự mình tổ chức thực hiện hoạt động khuyến mại, cũng có thể lựa chọn dịch vụ khuyến mại cho thương nhân khác để kinh doanh Quan hệ dịch vụ này được hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương nhân kinh doanh dịch vụ
Trang 3- Cách thức tiến hành: là dành cho khách hành những lợi ích nhất định Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đổi thủ cạnh tranh trên thương trường, tùy thuộc vào điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại, lợi ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là quà tặng, hàng mẫu để dùng thử, giảm giá… hoặc là lợi ích phi vật chất khác Khách hàng được khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối
- Mục đích của khuyến mại là xúc tiến việc mua bán và cung ứng dịch
vụ Để thực hiện mục đích này, các đợt khuyến mại có thể hướng tới mục đích lôi kéo hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ của khách hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa, dịch vụ của mình, tăng lượng hàng hóa, dịch vụ cung cấp…thông qua đó tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ
2 Các hình thức khuyến mại.
Luật thương mại 2005 và Nghị định 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết LTM về hoạt động xúc tiến thương mại (sau đây gọi tắt là Nghị định 37/2006) quy định nhiều hình thức khuyến mại là cơ sở pháp lý cho hoạt động khuyến mại phát triển Việc nhận diện các hình thức này là cần thiết, bởi pháp luật hiện hành có một số quy định riêng đối với từng hình thức khuyến mại, chủ yếu là các quy định về hạn mức giá trị và thời gian khuyến mại, trình tự thủ tục tiến hành, nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại Theo quy định có các hình thức khuyên mại cụ thể và những hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại chấp thuận
2.1 Hình thức đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền.
Thực hiện hình thức này, thương nhân đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền Thông thường, hàng mẫu được sử dụng khi thương nhân cần giới thiệu một sản phẩm mới hoặc sản phẩm đã cải tiến Do vậy, hàng mẫu đưa cho khách dùng thử là hàng đang bán hoặc sẽ bán trên thị trường Hàng mẫu phải là hàng có chất lượng, kiểu dáng
Trang 4như hàng hóa đang bán hoặc sẽ bán trên thị trường và nó thường có khối lượng nhỏ hơn so với khối lượng thông thường của sản phẩm
Hàng mẫu có chức năng khuyến khích dùng thử bởi vậy, khuyến mại bằng hàng mẫu có ý nghĩa quan trọng là: thương nhân tạo điều kiện cho khách hàng được sử dụng sản phẩm miễn phí và phải chính là sản phẩm nằm trong chiến dịch xúc tiến thương mại của thương nhân Đây có thể xem là cách quảng cáo tốt, gây ấn tượng mạnh đối với khách hàng: dùng sản phẩm để quảng có cho chính sản phẩm đó
Hàng mẫu có thể được phân phối tại các cửa hàng, qua bưu điện Việc đưa hàng mẫu cho khách hàng dùng thử là cách thức khuyến mại đem lại hiệu quả cao, nhưng là hình thức tốn kém nhất, đòi hỏi thương nhân phải có một tiềm năng kinh tế lớn và sử dụng phương tiện này một cách hiệu quả Để áp dụng cách thức này đạt hiệu quả, thương nhân cần lưu ý một số điều kiện nhất định quy định tại điều 7 Nghị định 37/2006:
- Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán, cung ứng trên thị trường
- Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất
kỳ nghĩa vụ thanh toán nào
- Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu
- Đối với hình thức hàng mẫu thì không bị quy định hạn mức về giá trị hàng hóa và dịch vụ sử dụng trong khuyến mại
2.2 Hình thức tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền.
Có thể thấy, tặng quà chính là việc thương nhân dùng quà tặng kèm theo hàng hóa để thu hút, lôi kéo khách hàng đến với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình Quà tặng có thể đính kèm, có thể gói chung hoặc kèm theo bên
Trang 5ngoài gói hàng chính Ví dụ: khi mua hộp trà Lipton được tặng ngay một cốc thủy tinh…
Ngoài ra, bao bì đựng sản phẩm nếu có thể dùng lại được thì cũng có thể được coi như một loại quà tặng
Hàng hóa, dịch vụ dùng làm quà tặng có thể là hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc là hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác Việc pháp luật cho phép sử dụng hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác để phát tặng là việc khuyến khích sự liên kết xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm khai thác lợi ích tối đa Việc tặng quà trong trường hợp này không chỉ có ý nghĩa thúc đẩy hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ mà thương nhân còn có cơ hội quảng cáo, giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ của nhau
Khi thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức này, thương nhân phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa cho khách hàng, dịch vụ không thu tiền và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc
sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó (Điều 8 Nghị định 37/2006)
2.3 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó (hay còn gọi là “giảm giá”).
Giảm giá là hành vi bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó được áp dụng trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đã đang ký hoặc thông báo
Ví dụ: một chai sâm panh Nga đỏ 250ml giá 76.2000đ/ chai, giảm xuống còn 65.000đ/ chai trong thời gian khuyến mại
Có thể thấy, hình thức khuyến mại này rất hiệu quả trong việc tác động tới tâm lý khách hàng Nó luôn có sức hấp dẫn đối với người tiêu dùng mới và lôi kéo những người cũ đã từng sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân
đó cung cấp sử dụng lại sản phẩm Từ đó, sức mua đối với sản phẩm cũng tăng lên và ngày càng đem lại lợi nhuận cho các nhà sản xuất
Tuy nhiên, hình thức khuyến mại này tác động khá trực tiếp tới nhu cầu của người tiêu dùng nên nó có thể dẫn tới sự cạnh tranh không lành mạnh Để
Trang 6việc khuyến mại không bị lạm dụng và ngày càng trở thành công cụ cạnh tranh lành mạnh cho các thương nhân, pháp luật cũng đã có những quy định mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại: trong trường hợp thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá thì mức giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất kì thời điểm nào không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại ( khoản 1 điều 9 Nghị định 37/2006)
Đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định giá cụ thể thì không được giảm giá Trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu thì không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ thấp hơn giá tối thiều Như vậy, các trường hợp khuyến mại vượt quá hạn mức giá trị trên đều được coi là bất hợp pháp (khoản 2, 3 điều 9 Nghị định 37/2006)
Đối với hình thức này, khi thực hiện thương nhân cũng cần lưu ý về tổng thời gian tiến hành chương trình khuyến mại không vượt quá 90 ngày trong một năm; một chương trình khuyến mại cũng không được vượt quá 45 ngày Đặc biệt, pháp luật hiện hành nghiêm cấm các hành vi lợi dụng hình thức khuyến mại này để bán phá giá hàng hóa, dịch vụ nhằm cạnh tranh không lành mạnh (khoản 4, 5 điều 9 Nghị định 37/2006)
2.4 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.
Người tiêu dùng khi mua hàng hóa, dịch vụ với một số lượng nhất định của thương nhân hay của một hãng sản xuất thì sẽ được phát hành kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ mà sẽ được hưởng một hay một số lợi ích nhất định từ việc mua hàng đó Phiếu mua hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc có mệnh giá nhất định để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng của thương nhân Phiếu sử dụng dịch vụ có thể cho phép sử dụng dịch vụ miễn phí theo điều kiện do nhà cung cấp dịch vụ đưa ra Với cách này, thương nhân có thể khuyến khích khách hàng mua hàng hóa hoặc
sử dụng dịch vụ do mình cung cấp trong một thời gian nhất định
Trang 7Để tạo hành lang pháp lý cho thương nhân khi tiến hành các hoạt động khuyến mại trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, pháp luật quy định: giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mại không được vượt quá 50% giá trị của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại (điều 10 Nghị định 37/2006)
2.5 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu tham dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo tỉ lệ và giải thưởng đã công bố.
Đây là hình thức mà thương nhân có thể tổ chức các cuộc tìm hiểu về hàng hóa, dịch vụ mà mình đang hoặc sẽ cung cấp Mục đích là nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm, đồng thời giúp các cơ sở sản xuất và phân phối đánh giá đúng nhu cầu, mức độ quan tâm của khách hàng đối với hàng hóa, dịch vụ của mình, từ đó đưa ra được những chiến lược kinh doanh cho phù hợp Với điều kiện này, phiếu dự thi có thể mang lại giải thưởng hoặc mang lại lợi ích cho khách hàng Do đó, nó sẽ tác động đến tâm lý hiếu kì của người tiêu dùng, kích thích họ mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ do thương nhân cung cấp
Khi thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức này, thương nhân cần tuân theo các quy định tại điều 11 Nghị định 37/2006 như: thực hiện khuyến mại phải tổ chức công khai, phải trao giải thưởng theo thể lệ, giải thưởng mà mình đã công bố và có sự chứng kiến của đại diện khách hàng, đồng thời phải thông báo cho sở thương mại nơi tổ chức thi, mở thưởng biết…
2.6 Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi.
Đây là hình thức khuyến mại mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham dự theo thể lệ và giải thưởng mà thương nhân đã công bố Các sự kiện này có thể được tổ chức gắn liền hoặc tách rời với việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của khách hàng Chằng hạn như chương trình cào trúng thưởng,
Trang 8bật nắp chai trúng thưởng, bốc thăm may mắn Đây là cách tạo sức hấp dẫn đối với khách hàng, kích thích tâm lý muốn thử vật may của người tiêu dùng Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý chặt chẽ từ phía Nhà nước thì rất có thể dẫn đến sự lừa dối khách hàng để trục lợi
Hiện nay, pháp luật quy định: việc mở thưởng chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải được tổ chức công khai, theo thể lệ đã công bố, có sự chứng kiến của khách hàng Trong trường hợp giá trị giải thưởng từ 100 triệu đồng trở lên, thương nhân phải thông báo cho Sở thương mại nơi tổ chức khuyến mại (khoản 1 điều 12 Nghị định 37/2006)
Chương trình khuyến mại mang tính may rủi có phát hành vé số dự thưởng thì còn phải tuân theo một số quy định tại khoản 3 điều 12 Nghị định 37/2006 như sau:
- Vé số dự thưởng phải có hình thức khác xổ số do Nhà nước độc quyền phát hành và không được sử dụng kết quả xổ số của Nhà nước để làm kết quả xác định trúng thưởng;
- Vé số dự thưởng phải in đủ các nội dung về số lượng vé phát hành, số lượng giải thưởng, giá trị tường loại giải thưởng, địa điểm phát thưởng, thời gian, địa điểm mở thưởng và các nội dung liên quan khác theo quy định của Luật Thương mại
- Việc mở thưởng chỉ áp dụng cho các vé số đã được phát hành
Tổng thời gian thực hiện khuyến mại theo hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ không được vượt quá 180 ngày trong một năm, một chương trình khuyến mại không được vượt quá 90 ngày Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết hạn trao giải thưởng, giải thưởng không có người trúng thưởng phải được trích nộp 50% giá trị đã công bố vào ngân sách Nhà nước (khoản 4, 5 điều 12 Nghị định 37/2006)
2.7 Tổ chức các chương trình khách hàng thường xuyên.
Theo quy định hình thức khuyến mại này được thực hiện trên các căn cứ trên số lượng hoặc giá trị mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng
Trang 9hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác Bởi vậy đây được xem là một hình thức tri ân khách hàng lớn, thường xuyên sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Hình thức này cũng là một trong số các hình thức khuyến mại không
bị giới hạn giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch
vụ được khuyến mại
Ví dụ: các thương nhân thực hiện các chương trình khuyến mại như:
“Thẻ VIP" (thẻ ưu đãi giá bán, giá sử dụng dịch vụ) dựa với giá trị được ghi trên hóa đơn bán hàng trong khoảng thời gian nhất định
Khi thực hiện hình thức này, thương nhân phải tuân theo các quy định tại điều 13 Nghị định 37/2006 như: Thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận việc mua hàng hóa, dịch vụ phải có đầy đủ các nội dung chủ yếu sau đây: Ghi rõ tên của thẻ hoặc phiếu; Điều kiện và cách thức ghi nhận sự tham gia của khách hàng vào chương trình khách hàng thường xuyên, việc mua hàng hóa, dịch vụ của khách hàng Trong trường hợp không thể ghi đầy đủ các nội dung nêu tại điểm này thì phải cung cấp đầy đủ, kịp thời các nội dung đó cho khách hàng khi khách hàng bắt đầu tham gia vào chương trình;…
2.8 Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
Ngoài ra, thương nhân có thể tổ chức các hình thức khuyến mại khác như
tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng được thực hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận việc mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác, hay các hình thức giải trí, văn hóa, văn nghệ, các sự kiện vì mục đích khuyến mại
Các hình thức này thường được áp dụng với mục đích lôi kéo khách hàng, để khách hàng chuyển sang hoạc tiếp tục sử dụng hành hóa, dịch vụ mà thương nhân sản xuất, kinh doanh
Ngoài ra, thương nhân còn có thể sử dụng các hình thức khuyến mại khác nhưng khi tiến hành phải được Bộ thương mại chấp nhận
3 Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện
3.1 Thực tiễn áp dụng
Trang 10Trên thực tế các chương trình khuyến mại đã trở thành hiệu ứng kích thích tiêu dùng, tăng cường hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Tùy từng mục địch cụ thể mà doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức khuyến mại khác nhau Ngoài tám hình thức khuyến mại mà Luật thương mại quy định còn xuất hiện nhiều hình thức khuyến mại mới Điều này cho thấy tính đa dạng về hình thức trong khuyến mại Mỗi hình thức đều mang những đặc trưng khác nhau và được áp dụng phụ thuộc vào mục đích của thương nhân khi tham gia hoạt động khuyến mại Tuy nhiên, một điều có thể nhận thấy hình thức phổ biến nhất là giảm giá bán, cung ứng dịch vụ, ngoài ra
là quà tặng, rút thăm trúng thưởng Điểm hình như các chương trình khuyến mại giảm giá rất hay được các thương nhân sử dụng như: "giờ vàng", "tuần lễ giảm giá" Hoạt động khuyến mại hiện nay ngày càng trở nên phổ biến, thậm chí là mang tính thường xuyên đối với nhiều doanh nghiệp
Tuy nhiên, bên cạch những mặt tích cực thì còn nhiều chương trình sai phạm pháp luật và nảy sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện làm ảnh hưởng xấu đến văn minh thương mại Những lợi ích vật chất hay phi vật chất này đôi khi bị lạm dụng, bị đưa vượt quá mức phạm vi và mục đích của hình thức xúc tiến thương mại và làm cho hành vi khuyến mại trở nên không lành mạnh Pháp luật quy định các hình thức khuyến mại được phép và các hành vi
bị cấm khá rõ ràng Nhưng trên thực tế việc xác định ranh giới giữa khuyến mại hợp pháp và bất hợp pháp còn gặp nhiều vướng mắc Đó có thể những trường hợp nhầm lẫn giữa hình thức (hợp pháp) giảm giá 50% trong thời gian khuyến mại với hình thức "mua một tặng một" (không thuộc trường hợp quy định cụ thể của pháp luật) hay hình thức giảm giá trong khuyến mại với hạ giá Hình thức mua một tặng một khi áp dụng sẽ có lợi hơn cho doanh nghiệp rất nhiều so với với hình thức giảm giá 50% Mặc dù, thoạt nhìn chúng có thể
là tương tự nhau Nếu doanh nghiệp khuyến mại một sản phẩm giảm 50% từ 10.000đ xuống còn 5000đ thì thay vì phải bỏ ra 10.000đ thì khách hàng chỉ cần bỏ ra 5.000đ đã mua được sản phẩm đó Nhưng nếu khuyến mại mua một tặng một thì để có một sản phẩm khách hàng phải bỏ ra 10.000đ, mặc dù với
số tiền đó khách hàng nhận được hai sản phẩm Với hình thức này, một sản