1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trình bày ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật ViệtNam hiện hành

11 634 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại điều 6, Luật Tương trợ tư pháp 2008: “ Ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Từ lâu, kết quả ủy thác tư pháp đã là một vấn đề “nhức nhối”, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp Song, qui định pháp luật hiện hành về vấn đề này còn chung chung, nên cả cơ quan nhà nước và

người dân chỉ biết “chờ đợi” cơ quan nhận ủy thác có kết quả trả lời Thực tế,

mỗi ngày, lãnh đạo các cơ quan chức năng Việt Nam phải “chia nhau” ký hàng chục hồ sơ ủy thác tư pháp Nhưng như Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Tư pháp) Nguyễn Khánh Ngọc thừa nhận: “Bộ Tư pháp chỉ có chức năng chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp Nếu giữa hai nước có Hiệp định Tương trợ tư pháp thì còn có căn cứ để “nhắc nhở” các cơ quan chức năng của bạn thực hiện theo yêu cầu ủy thác Còn nếu không thì đành chỉ biết chờ bạn có thông tin”1 Thực tế đó đã thúc đẩy cần phải nghiên cứu các quy định của pháp luật

về vấn đề này để tháo gỡ những vướng mắc của pháp luật Chính vì thế, bài viết dưới đây sẽ làm sang tỏ them những vướng mắc đó thông qua đề tài:

“Trình bày ủy thác tư pháp quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Thực tiễn thực hiện ủy thác tư pháp quốc tế giữa Việt Nam và các nước không ký kết điều ước quốc tế về vấn đề này.”

NỘI DUNG

1 Khái niệm UTTP

Theo quy định tại điều 6, Luật Tương trợ tư pháp 2008: “ Ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc

cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có lien quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc

cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông qua ủy thác tư pháp”

Qua quy định trên chúng ta có thể nhận thấy rõ một trong các hoạt động tương trợ tư pháp chính được thực hiện thông qua các hoạt động ủy thác tư

1 Theo tin từ: http://www.phapluatvn.vn.

Trang 2

pháp Nói cách khác ủy thác tư pháp chỉ là một trong các hình thức của hoạt động tương trợ tư pháp Nội hàm các hoạt đồng tương trợ tư pháp rất rộng không chỉ giới hạn trong các hoạt động tương trợ, giúp đỡ nhau trong hoạt động tố tụng của quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

mà còn mở rộng sang cả các hoạt động về giúp đỡ, hỗ trợ xây dựng pháp luạt, nghiên cứu, đào tạo các chuyên gia pháp lý, trao đổi thông tin Còn hoạt động

ủy thác tư pháp chủ yếu được thực hiện trong quá trình tố tụng như: tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, lấy lời khai, xác nhận tình trạng nhân than, tài sản của đương sự ở nươc ngoài…

2 Ủy thác TPQT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Hiện nay pháp luật trong nước cũng đã xây dựng một số quy định về tương trợ tư pháp, cụ thể:

- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã đưa vào một số quy định về tương trợ tư pháp tại Chương XXXVI (từ điều 414 đến điều 418)

- Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007

và có hiệu lực từ ngày 1/7/2008

- Nghị định số 92/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTP

Thông qua các văn bản trên có thể thấy, vấn đề ủy thác TPQT theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành gồm những nội dung chính sau:

2.1 Nguyên tắc thực hiện ủy thác TPQT

Trên phương diện quốc tế, tương trợ tư pháp là biểu hiện của chủ quyền quốc gia, các quốc gia khác không được can thiệp và phải tôn trọng, việc cho phép tiến hành hoặc không cho phép, phạm vi, mức độ thực hiện các hoạt động hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của mỗi quốc gia và việc thực hiện Ủy thác TPQT cũng là một hình thức của TTTP vì thế cũng phải tuân theo những nguyên tắc đó Vì thế Hiện nay theo quy định tại điều 4 Luật TTTP việc thực hiện các hoạt động ủy thác tư pháp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Trang 3

- Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

- Trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật

và tập quán quốc tế

2.2 Phạm vi nội dung thực hiện ủy thác tư pháp

Nội dung các hoạt động ủy thác tư pháp với các nước cũng có nhiều điểm khác nhau, phụ thuộc quan hệ song phương, cũng như ý chí của các bên

ký kết theo quy định tại điều 10 của Luật TTTP hiện nay thì phạm vi tương trọ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm 4 nội dung:

- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu lien quan đến tương trợ tư pháp về dân sự: Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự có thể bao gồm:

+ Văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân

sự Văn bản này thực chất là công văn hoặc công hàm yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu gửi tới nước nhận yêu cầu

+ Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự Văn bản uỷ thác tư pháp về dân

sự thực chất là những nội dung chính trong yêu cầu tương trợ của nước yêu cầu Văn bản uỷ thác tư pháp về dân sự theo quy định tại Điều 12 Luật Tương trợ tư pháp bao gồm các nội dung như: ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản; tên, địa chỉ cơ quan uỷ thác tư pháp; tên, địa chỉ cơ quan được uỷ thác tư pháp; họ, tên, địa chỉ nơi thường trú hoặc nơi làm việc của cá nhân, tên đầy

đủ, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến uỷ thác tư pháp; nội dung công việc được uỷ thác tư pháp về dân sự (trong phần nội dung công việc này, cơ quan yêu cầu uỷ thác phải nêu rõ mục

Trang 4

đích uỷ thác, công việc và các tình tiết liên quan, trích dẫn điều luật có thể áp dụng, các biện pháp để thực hiện uỷ thác và thời hạn thực hiện uỷ thác)

+ Quyết định của Toà án Trong vụ việc dân sự, Quyết định của Toà án

có thể là Quyết định ly hôn, Quyết định về truy nhận cha cho con, Quyết định

về quyền nuôi con, Quyết định về việc phân chia tài sản, Quyết định về phân chia di sản trong thừa kế…

+ Giấy triệu tập đến Toà án Trong vụ việc dân sự, Giấy triệu tập có thể liên quan đến việc phân chia tài sản trong ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng, thừa kế…

- Triệu tập người làm chứng, người giám định:

Đối với một số vụ việc dân sự cần đến lời khai hoặc chứng cứ của người người làm chứng, bản kết luận chuyên môn của người giám định như một vụ việc về truy nhận cha cho con, tranh chấp tài sản trong hôn nhân, đòi quyền thừa kế… nhưng người làm chứng, người giám định đang ở nước ngoài, thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi đề nghị triệu tập người làm chứng, người giám định tới cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người làm chứng, người giám định đang có mặt để yêu cầu người làm chứng, người giám định có mặt tại Việt Nam trong một thời gian nhất định để họ tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự có liên quan

Điều 8 Luật Tương trợ tư pháp quy định cụ thể về triệu tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định Qua đó:

+ Người làm chứng, người giám định được tạo điều kiện thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam;

+ Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải cam kết về việc bảo đảm

an toàn tính mạng, sức khoẻ, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định; người làm chứng;

+ Người làm chứng, người giám định được triệu tập đến Việt Nam sẽ không bị bắt, bị tam giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử vì những hành vi trước khi đến Việt Nam như cung cấp lời khai làm chứng, bản kết

Trang 5

luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập; phạm tội ở Việt Nam; có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự của Việt Nam; có liên quan đến một vụ việc dân sự hoặc hành chính khác ở Việt Nam

- Thu thập, cung cấp chứng cứ:

Khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh việc phải có thu thập chứng cứ ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không có thẩm quyền thu thập trực tiếp chứng cứ ở nước ngoài mà phải gửi yêu cầu về thu thập và cung cấp chứng cứ tới cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài Dựa trên yêu cầu tương trợ này của phía Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài sẽ xem xét việc có hay không thực hiện yêu cầu tương trợ

Các trường hợp cần tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài như đã nêu ở trên phải được thực hiện thông qua cơ quan đầu mối về tương trợ tư pháp về dân sự Điều 62 Luật Tương trợ tư pháp quy định “Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động tương trợ tư pháp; tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các uỷ thác tư pháp về dân sự” Do vậy, Bộ Tư pháp chính là cơ quan đầu mối của Việt Nam trong việc giải quyết các yêu cầu về tương trợ tư pháp về dân sự đối với nước ngoài Qua đó, khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ

tư pháp về dân sự, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi yêu cầu tương trợ tới Bộ Tư pháp Thủ tục yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật Tương trợ tư pháp

- Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự

2.3Trình tự thủ tục thực hiện và pháp luật áp dụng

Hiện nay, theo các quy định của các điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, trình tự thủ tục thực hiện ủy thác tư pháp giữa Việt Nam và các nước được thực hiện qua hệ thống các cơ quan trung ương (Bộ tư pháp hoặc Bộ Ngoại giao) của hai nước hữu quan Tuy nhiên, quy trình này được đánh giá

Trang 6

là phức tạp, qua nhiều cơ quan, tốn thời gian…ảnh hưởng đặc biệt đến quá trình xét xử và quyền lợi của đương sự Cụ thể, quy trình được thực hiện như sau:

a)Đối với các ủy thác tư pháp do Tòa án Việt Nam yêu cầu tòa án nước ngoài thực hiện

Đầu tiên, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ ủy thác cho Bộ Tư pháp (là cơ quan trung ương); Bộ Tư pháp Việt Nam sẽ chuyển sang cho Bộ tư pháp nước ngoài (hoặc cho Bộ ngoại giao) nước được yêu cầu thực hiện

Tiếp đến Bộ Tư pháp nước ngoài (hoặc Bộ Ngoại giao) chuyển đến các

cơ quan tư pháp nước bạn để nhờ thu thập, xác minh chứng cứ…Nếu có kết quả trả lời thì quy trình lại qua các cơ quan trên gửi ngược trở lại cho Tòa án Việt Nam; nhiều trường hợp, không có kết quả, hoặc không thể thực hiện được việc ủy thác tư pháp do không tìm thấy đương sự ở nước ngoài, có thể dẫn đến bế tắc, tòa có thể phải ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ việc b)Đối với các ủy thác tư pháp do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài yêu cầu Việt Nam thực hiện

Bộ Tư pháp Việt Nam nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu, vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Bộ tư pháp tra lại cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu và nêu rõ lý do

Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sau khi thực hiện phải thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp cho Bộ tư pháp; Bộ tư pháp sẽ chuyển văn văn bản dó cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nươc yêu cầu là thành viên hoặc thông qua con đường ngoiaj giao

Trường hợp ủy thác tư pháp không thực hiện được hoặc quá thời hạn

mà nước ngoài yêu cầu hoặc cần bổ sung thông tin, tài liệu lien quan, cơ quan

Trang 7

có thẩm quyền cua Việt Nam thực hiện ủy thác tư pháp phải thông báo bằng văn bản cho Bộ tư pháp và nêu rõ lý do để Bộ tư pháp thông báo cho cơ quan

có thẩm quyền của nước yêu cầu

Hiện nay, đối với dương sự là cá nhân, tổ chức nước ngoài thì hồ sơ ủy thác tư pháp được gửi cho tòa án có thẩm quyền của nước tiếp nhận thông qua

Bộ Tư pháp Việt Nam; đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam thì hồ sơ ủy thác gửi cho Đại sứ quán Việt Nam ở nước tiếp nhận ủy thác thông quan Bộ Tư pháp Việt Nam

c)Về pháp luật áp dụng thực hiện ủy thác tư pháp

Hâu hết các Hiệp định đều quy đinh rằng: khi thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp, cơ quan được yêu cầu áp dụng pháp luạt nước mình theo đề nghị của cơ quan yêu cầu, cơ quan được yêu cầu có thể áp dụng các quy phạm tố tụng của bên ký kết yêu cầu, nếu các quy phạm đó không trái với pháp luật của bên ký kết được yêu cầu

Mỗi bên ký kết chịu các chi phí thực hiện tương trợ tư pháp phát sịnh trên lãnh thổ nước mình trong trường hợp chi phí thực hiện quá cao, các cơ quant rung ương của hai nươc sẽ thỏa thuận với nhau để giải quyết

3 Thực tiễn thực hiện hoạt động ủy thác TPQT giữa Việt Nam với các nước không ký kết điều ước.

Trong thực tiễn quan hệ quốc tế hoạt động tương trợ tư pháp chủ yếu được thực hiện thông qua các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương Trường hợp không có điều ước quốc tế, hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại hiện nay, các hoạt động tương trợ tư pháp mới chỉ được quy định trong các Hiệp định Tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số nước

Nội dung chính của các hiệp định chủ yếu đề cập đến các vấn đề cách thức lien hệ với tòa án, trợ giúp pháp lý, chuyển giao giấy tờ, thu thập chứng cứ…giữa các cơ quan tư pháp hai nước trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, lao động, hôn nhân gia đình Đặc biệt, các hiệp định đã xây dựng một

Trang 8

cơ chế thực hiện các hoạt động ủy thác tư pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án cũng như cho các bên trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình và lĩnh vực hình sự giữa các nước hữu quan

Tuy nhiên, do số lượng các Hiệp định TTTP còn hạn chế vơi một số quốc gia( khoảng 15 hiệp định) trong khi công dân Việt Nam cư trú sinh sống

ở nhiều nước như Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức, Australia,…lại là những nước chưa ký hiệp định TTTP dẫn đến việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài lien quan đến các quốc gia này gặp rất nhiều khó khăn cho các cơ quan tư pháp do không thể thực hiện được ủy thác tư pháp

Trong trường hợp giữa Việt Nam và nước ngoài chưa ký kết hoặc cùng gia nhập điều ước quốc tế có quy định ủy thác trong tố tụng dân sự quốc tế thì việc tương trợ tư pháp vẫn có thể được tòa án Việt Nam chấp nhận trên nguyên tắc có đi có lại, nhưng không được trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế 2 Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, Việt Nam có quyền từ chối thực hiện các hoạt động ủy thác

tư pháp theo yêu cấu của quốc gia khác nếu như giữa Việt Nam và quốc gia

đó không có sự giàng buộc bởi pháp luật quốc tế về vấn đề này (không có các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương)

Dù có quyền từ chối như vậy song trên thực tế chúng ta vẫn thực hiện các hoạt động ủy thác TPQT trong trường hợp không có Điều ước quốc tế Điều này xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Để bảo vệ lợi ích chính đáng của cá nhân và pháp nhân các quốc gia khác nhau

- Để thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực phát triển;

- Để đảm bảo cho việc yêu cầu ủy thác quốc tế của mình được thực hiện ở nước ngoài

2 Điều 414 Bộ luật TTDS 2004; điều 4 Luật TTTP 2008.

Trang 9

Khi nhận được ủy thác TPQT của các nước chưa ký hiệp định TTTP, trong thực tế theo thống kế tại Vụ hợp tác quốc tế - Bộ Tư pháp, chúng ta thường thực hiện như sau:

Các bước:

+ Gửi hồ sơ tương trợ tư pháp: Sau khi nhận được hồ sơ của các nước chưa có Hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam gửi đến, Bộ Ngoại giao gửi hồ sơ đó cho Bộ Tư pháp;

+ Giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp: - Bộ Tư pháp kiểm tra tính hợp

lệ của hồ sơ; trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Bộ Tư pháp trả lại cho cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu và nêu rõ lý do bằng văn bản;

- Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để thực hiện; Sau khi nhận được kết quả thực hiện của các cơ quan nói trên, Bộ Tư pháp gửi kết quả cho cơ quan gửi đề nghị tương trợ tư pháp

Thành phần hồ sơ

- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự;

2 Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự ;

3

Các giấy tờ khác: Tuỳ từng trường hợp có thể là: Bản

án, Thông báo thụ lý án, Quyết định đưa vụ án ra xét

xử, Quyết định đình chỉ/tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Số bộ hồ sơ: 03 bộ

Mặc dù trong thực tế chúng ta vẫn thực hiện hoạt động ủy thác TPQT với cả các nước chưa ký hiệp định TTTP nhưng hiệu quả còn chưa cao bởi cả hai bên không có gì rang buộc để “nhắc nhở” nhau thực hiện việc ủy thác TPQT, việc thực hiện đó hoàn toàn dựa trên mối quan hệ ngoại giao Chính vì thế trong những năm qua, số án còn tồn đọng khi có lien quan đến ủy thác Tư pháp với các nước chưa ky kết hiệp định TTTP với Việt nam đã tăng lên đáng kể: số các hồ sơ ly hôn giữa công dân Việt Nam và công dân Hoa Kỳ tồn

Trang 10

đọng mà Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh gửi tới Bộ Tư pháp có khoảng 200 hồ sơ Không chỉ vậy, thời gian giải quyết một vụ án khi có vấn

đề ủy thác tư pháp với các nước không ký kết điều ước là khá dài Có những

vụ phải hoãn không thời hạn

Ví dụ: Trước đây, TAND quận Tân Phú đang giải quyết vụ vợ chồng ông A kiện tranh chấp nhà với người khác thì vợ ông A đột ngột qua đời Theo luật, tòa phải đưa sáu người con của vợ chồng ông A vào tham gia tố tụng (thừa kế di sản của mẹ)

Ngặt một nỗi trong số sáu người con này thì hai đang sinh sống ở Mỹ, một ở Úc, một ở Pháp Năm 2008, vụ án được tòa quận chuyển lên TAND TP

vì có yếu tố nước ngoài Qua điện thoại, bốn người con đang cư trú ở nước ngoài đều đồng ý để ông A đại diện họ tham gia tố tụng Vấn đề là không thể nói miệng mà phải có văn bản ủy quyền hợp lệ Để có được những văn bản này, TAND TP phải tiến hành ủy thác tư pháp với… bốn nước mà cả bốn nước này đều chưa ký hiệp định TTTP với Việt Nam, vì thế nên chúng ta không có cách nào để “thúc ép” họ làm nhanh Đến năm 2009, việc ủy thác vẫn chưa có kết quả dù đã gần một năm trôi qua Hồ sơ ủy thác vẫn còn nằm

ở đâu đó trong khi TAND TP cũng chỉ biết chờ và chờ vì có muốn đình chỉ vụ

án cũng phải biết là việc ủy thác có thất bại hay không.3

KẾT LUẬN

Tóm lại, để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, Việt Nam cần tham gia vào một số công ước đa phương về vấn đề này Việc tham gia công ước đa phương sẽ tạo thuận lợi, để có thể cùng một lúc hợp tác tương trợ tư pháp với nhiều nước là thành viên của công ước, mở rộng phạm vi hợp tác mà không cần phải trực tiếp đàm phán với từng nước một như điều ước song phương như Công ước La Haye ngày 15/11/1965 về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài

tư pháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại ra nước ngoài; Công ước La Haye 18/3/1970 về thu thập chứng cứ cho các vụ kiện dân sự và thương mại; Công

3 Theo tin từ: http://phapluattp.vn

Ngày đăng: 17/02/2016, 23:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w