Thẻ thanh toán không chỉ đơn thuần là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà thẻ thanh toán là loại chứng chỉ đặc biệt thể hiện sự cam kết của
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Một số vấn đề lý luận về thẻ thanh toán 1
1 Khái niệm, bản chất của thẻ thanh toán 1
2 Phân loại thẻ thanh toán 2
3 Vai trò của thẻ thanh toán trong nền kinh tế: 4
4 Khái quát pháp luật về thẻ ngân hàng 4
II Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán thông qua thẻ ngân hàng 6
1 Các chủ thể tham gia quan hệ này 6
2 Quy trình thực hiện thanh toán thông qua thẻ ngân hàng 7
3 Mối quan hệ giữa các bên trong quan hệ thanh toán thông qua thẻ ngân hàng 8
3.1 Quan hệ giữa chủ thẻ và NHPHT 8
3.2 Trong quan hệ giữa chủ thẻ với ĐVCNT 10
3.3 Trong quan hệ giữa ĐVCNT với NHTTT 11
3.4 Quan hệ giữa NHTTT với NHPHT 12
3.5 Quan hệ giữa trung tâm chuyển mạch với NHPHT, ĐVCNT, NHTTT, tổ chức thẻ quốc tế 13
3.6 Quan hệ giữa tổ chức thẻ quốc tế với NHPHT, NHTTT, ĐVCNT 13
III Thực trạng của hoạt động thanh toán thông qua thẻ ngân hàng 13
1 Những ưu điểm khi sử dụng thẻ ngân hàng 13
2 Những rủi ro khi sử dụng thẻ ngân hàng để thanh toán 14
KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, nhu cầu sử dụng các tiện ích và dịch vụ của con người ngày càng mở rộng Từ đó nhu cầu thanh toán làm sao cho nhanh chóng, tiện lợi và an toàn nhất cũng đã phát sinh trong đời sống Xã hội ngày càng phát triển, quy trình công nghệ ngày càng được nâng cao thì phương thức thanh toán cũng ngày càng hiện đại Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời góp phần làm đa dạng hóa phương thức thanh toán trong nền kinh tế Chính vì thế, các chủ thể trong nền kinh tế có thêm cơ hội để lựa chọn phương thức cho phù hợp với ngành và lĩnh vực kinh doanh của mình Khác với nền kinh tế giản đơn, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nảy sinh nhiều mối quan hệ thanh toán lớn ở mức độ ngày càng tăng Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, các tổ chức tín dụng đã phát hành thêm nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng Sec, thanh toán uỷ nhiệm chi, thanh toán uỷ nhiệm thu, thanh toán bằng thư tín dụng, thanh toán bằng thẻ điện tử Đây là những hình thức thanh toán đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới hàng trăm năm nay và tại Việt Nam nó cũng đã và đang phát huy những ưu điểm vượt trội
so với những hình thức thanh toán truyền thống Trong đó hình thức thanh toán thông qua thẻ ngân hàng đang từng bước được sử dụng rộng rãi phù hợp với nhu cầu sử dụng của cá nhân, tổ chức Trong phạm vi bài viết này chúng ta sẽ
cùng tìm hiểu vấn đề thanh toán qua thẻ ngân hàng thông qua đề tài: “ Phân tích mối quan hệ pháp lý giữa các bên chủ thể trong quan hệ thanh toán thông qua thẻ ngân hàng”
NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận về thẻ thanh toán.
1 Khái niệm, bản chất của thẻ thanh toán.
Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thẻ thanh toán, tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận của các nhà nghiên cứu và tất cả các định nghĩa đều nhằm tới một mục đích là nêu bật được nội dung của thẻ thanh toán một cách khái quát nhất Tuy nhiên, nhìn chung tất cả các định nghĩa đều chỉ ra rằng thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán nhưng các định nghĩa đó chưa thể nêu bật được đầy đủ bản chất pháp lý của thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán không chỉ đơn thuần là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà thẻ thanh toán là loại chứng chỉ đặc biệt thể hiện sự cam kết của tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán cho những khoản tiền do chủ sử dụng bằng tiền của tổ chức phát hành cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi lại tổ chức phát hành Việc thanh toán thẻ thực chất là việc chủ thẻ ủy nhiệm cho tổ chức phát hành thực hiện các
Trang 3nghĩa vụ thanh toán của mình bằng các bút toán ghi trên tài khoản của chủ thẻ
có tại tổ chức phát hành thông qua hệt hống thanh toán điện tử được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng, tin học và viễn thông Vì vậy, thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán điện tử không dùng tiền mặt
Về mục đích sử dụng của thẻ thanh toán cũng không còn bó hẹp trong từng lĩnh vực cụ thể cũng như lúc mới hình thành Với một tấm thẻ, khách hàng
có thể vừa dùng vừa để mua hàng, rút tiền mặt, chuyển khoản, xem sao kê toài khoản của mình tại ngân hàng, giao dịch mua bán qua Internet, trả cước phí dịch vụ công cộng Chủ thẻ vừa có thể sử dụng bằng tiền gửi của mình tại ngân hàng vừa có thể sử dụng tiền vay nếu được ngân hàng chấp nhận… Tóm lại, mục đích sử dụng của thẻ thanh toán là nhằm thoản mãn nhu cầu tiêu dùng của các chủ thể trên cơ sở đáp ứng về mặt công nghệ
Như vậy, có thể định nghĩa về thẻ thanh toán như sau: Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng, các tổ chức tài chính hay các công ty phát hành được người sở hữu thẻ sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt, thực hiện các dịch vụ tự động
do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp thông qua hệ thống thanh toán điện tử.
2 Phân loại thẻ thanh toán.
Có nhiều căn cứ để phân loại thẻ thanh toán và với mỗi căn cứ có thể chia thẻ thanh toán thành các loại khác nhau Cụ thể:
- Căn cứ vào công nghệ sản xuất và đặc tính kĩ thuật, người ta chia thẻ thanh toán thành ba loại chính:
+ Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): đây là loại thẻ được sản xuất trên công nghệ khắc chữ nổi, các thông tin cơ bản được khắc nổi trên thẻ
+ Thẻ từ (Magnetic Stripe): đây là loại thẻ được sản xuất dựa trên kĩ thuật thư tín với một băng từ có hai hoặc ba dải ghi các thông tin cần thiết
+ Thẻ thông minh – Thẻ Chip (Smart Card): đây là loại thẻ được sản xuất dựa trên nền tảng kĩ thuật vi xử lý Mặt trước của thẻ được gắng một chip điện
tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ
- Căn cứ vào tính chất thanh toán, người ta chia thẻ thanh toán thành 4 loại chính:
+ Thẻ ghi nợ (Debit Card): đây là loại thẻ được dùng để thanh toán, chi trả hoặc rút tiền trên cơ sở số tiền của chính chủ thẻ gửi tại ngân hàng Thẻ này không tạo tín dụng và hoạt động theo nguyên tắc tương tự như thẻ ATM Mỗi lần sử dụng, ngân hàng sẽ tự động trừ ngay số tiền tương ứng trên tài khoản của chủ thẻ Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản:
Trang 4 Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ
Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày
+ Thẻ tín dụng (Credit Card): đây là loại thẻ được sử dụng rất phổ biến, theo đó chủ thể sẽ được cấp một khoản tín dụng không phải trả lãi để mua hàng hóa, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này hoặc để rút tiền mặt tại quầy giao dịch của ngân hàng
+ Thẻ thanh toán trả sau (Change Card): loại thẻ này thường do các tổ chức phi ngân hàng phát hành; là loại thẻ không quy định trước hạn mức chi tiêu, cuối thánh khách hàng sẽ phải thanh toán theo bảng thống kê thông báo tài khoản
+ Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): đây là loại thẻ dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng
- Dựa vào chủ thể phát hành thẻ, người ta chia thẻ thành hai loại chính:
+ Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): đây là loại thẻ do các ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động các tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng
+ Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành (Non- Bank Card): đây là loại thẻ du lịch và giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu… phát hành như: Dinner Club, Amex…
- Dựa vào chủ thẻ người ta chia thành hai loại:
+ Thẻ của tổ chức (công ty): là thẻ do một tổ chức yêu cầu ngân hàng phát hành
+ Thẻ cá nhân: đây là loại thẻ do một cá nhân có nhu cầu và đủ điều kiện trực tiếp đúng ra yêu cầu ngân hàng phát hành thẻ cho mình
- Dựa vào phạm vi lãnh thổ sử dụng người ta chia thẻ thành hai loại chính là: thẻ nội địa và thẻ quố tế
+ Thẻ nội địa: là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quôc sgia, chủ yêu do mục đích tiêu dùng Đồng tiền được sử dụng của loại thẻ này là đồng bản tệ của quốc gia đó
+ Thẻ quốc tế: là loại thẻ do tổ chức thẻ quốc tế hoặc thành viên của tổ chức này phát hành Loại thẻ này có tính chất toàn cầu, tức là có thể thanh toán
ở bất cứ nước nào chấp nhận loại thẻ đó
Ngoài ra, dựa vào mức độ tín nhiệm của chủ thẻ và trị giá sử dụng của thẻ, người ta chia thẻ thành ba loại chính: thẻ thường, thẻ vàng và thẻ thượng hạng
Trang 53 Vai trò của thẻ thanh toán trong nền kinh tế:
Thẻ thanh toán có những vai trò rất quan trọng, cụ thể:
Thứ nhất, thẻ thanh toán giúp Nhà nước quản lý nền kinh tế và thực hiện
chỉ đạo thực hiện kinh tế tốt hơn, giúp giảm chi xã hội cho nền kinh tế
Thứ hai, thẻ thanh toán tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ
an toàn, chính xác, hiệu quả… giúp giảm thiểu thời gian, chi phí để đạt hiệu quả cao trong thanh toán Ngoài ra, bộ nhớ cài đặt trên thẻ ghi laijchinhs xác từng giao dịch, cuối lì chủ thẻ có thể nhận được báo cáo giao dịch qua thẻ Do đó chủ thẻ có thể quản lý chi tiêu của mình
Thứ ba, thẻ thanh toán tạo cho các giao dịch tính an toàn và bảo mật rất
cao Chỉ với một thẻ thanh toán, người tiêu dùng có thể thanh toán, người tiêu dùng có thể thanh toán một khối lượng lướn hàng hóa, dịch vụ mà không phải mang theo tiền mặt
Thư tư, thẻ thanh toán tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của
ngân hàng Để thực hiện việc thanh toán, khách hàng phải tiến hành mở tài khoản tiền giử tại ngân hàng Như vậy ở tài khoản tiền gửi khách hàng luôn phải duy trì một khoản tiền nhất định, số tiền này sẽ trở thành nguồn vốn nhàn rỗi, ngân hàng có thế sử dụng số tiền này để kinh doanh sau khi đã duy trì một tỉ
lệ dự trữ bắt buộc đủ chi trả cho các chủ tài khoản trong mọi trường hợp
Thanh toán thẻ vừa tạo nguồn thu từ phí thanh toán cho ngân hàng, vừa góp phần làm cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng khi thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng Ngoài ra, thẻ thanh toán có tác dụng tích cực , kích thích các hoạt động dịch vụ ngân hàng liên quan phát triển
4 Khái quát pháp luật về thẻ ngân hàng.
Pháp luật về thẻ ngân hàng được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định các vấn đề phát sinh trong quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động thẻ 1
Pháp luật Việt Nam nhìn chung chưa có các quy định cụ thể về hoạt động thanh toán qua thẻ ngân hàng Chủ yếu chỉ quy định trên các phương diện cơ bản, các quy định mang tính chất chung chung định hướng chứ chưa đi vào chi tiết Văn bản mới nhất hiện nay điều chỉnh về vấn đề thanh toán thông qua thẻ ngân hàng đó là: Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2007 ban hành quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung ứng các dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng (Sau đây gọi tắt là Quy chế) Với sự ra đời của quy chế này, vấn đề quan hệ giữa các bên trong quan hệ thanh toán thông qua thẻ ngân hàng đã được xác định một cách rõ ràng hơn thông qua việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên
1 Quy chế pháp lý về thẻ ngân hàng – Khóa luận tốt nghiệp – Đỗ Thị Thùy Dương.
Trang 6Vấn đề thanh toán thẻ được quy định tại chương IV của quy chế, cụ thể bao gồm các nội dung như sau:
Về điều kiện thanh toán thẻ: Được quy định tại điều 14 của quy chế:
“1 Các tổ chức sau đây được thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ:
a) Tổ chức tín dụng là ngân hàng bảo đảm thực hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều này;
b) Tổ chức khác không phải là ngân hàng được phép thực hiện dịch vụ thanh toán trong đó bao gồm thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ và bảo đảm thực hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều này.
2 Tổ chức thanh toán thẻ phải tuân thủ các điều kiện sau:
a) Việc thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ phù hợp với phạm vi và mục tiêu hoạt động của tổ chức đó;
b) Tuân thủ các quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của pháp luật;
c) Bảo đảm các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử đối với việc thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ;
d) Tuân thủ các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước về kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với việc thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ;
đ) Báo cáo và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin và văn bản có liên quan nhằm chứng minh các điều kiện bảo đảm thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ; báo cáo đầy đủ và chính xác các thông tin thống kê phục vụ cho mục tiêu quản lý, giám sát của Ngân hàng Nhà nước;
e) Tuân thủ các quy định khác tại Quy chế này.
3 Ngân hàng Nhà nước đánh giá sự tuân thủ quy định tại Khoản 2 Điều này đối với tổ chức thanh toán thẻ trong quá trình thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ Trường hợp tổ chức thanh toán thẻ không tuân thủ các quy định nói trên, tổ chức đó phải thực hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Nếu không thể khắc phục, tổ chức đó buộc phải ngừng hoạt động thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ”.2
Điều 15 quy định cụ thể về việc tổ chức thanh toán thẻ như sau:
“.1 Việc tổ chức thanh toán thẻ được thực hiện theo hợp đồng thanh toán thẻ
2 Việc thực hiện thanh toán bù trừ giao dịch thẻ thực hiện theo thoả
thuận về việc tổ chức thanh toán giữa các bên liên quan
2 Điều 14 – Quy chế.
Trang 73 Đối với thẻ quốc tế: việc tổ chức thanh toán thẻ được thực hiện theo thoả thuận với tổ chức thẻ quốc tế mà TCTTT tham gia và không trái pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Ngoài ra, còn quy định về các vấn đề khác liên quan đến thanh toán thẻ như: việc từ chối thanh toán thẻ (điều 16); quy định về vấn đề tổ chức hệ thống thanh toán thẻ (chương V); quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ liên quan đến thẻ ngân hàng được quy định tại chương VI của quy chế
Quy chế này đã có sự phát triển nhiều hơn so với các quy định trước đây Quy chế này quy định chi tiết và rõ ràng hơn, đối tượng điều chỉnh rộng hơn, các quy định về trách nhiệm của các bên tham gia cũng chặt chẽ hơn so với các văn bản trước đây Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đã ban hành Luật Các tổ chức tín dụng vào ngày 16 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 Vì vậy, quy chế trên đây cũng cần được sớm thay thế để có sự thống nhất trong hệ thống pháp luật
II Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán thông qua thẻ ngân hàng.
1 Các chủ thể tham gia quan hệ này.
Các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán thẻ hết sức đa dạng, bao gồm chủ thẻ, ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ, tổ chức thẻ quốc tế và trung tâm chuyển mạch
Chủ thẻ: là cá nhân hoặc tổ chức được ngân hàng phát hành thẻ để sử
dụng Chủ thẻ bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ Chủ thẻ chính là người đứng tên đề nghị ngân hàng phát hành thẻ và chịu trách nhiệm thanh toán, xử lý các vấn đề liên quan đến thẻ Chủ thẻ phụ là người được cấp thẻ theo yêu cầu của chủ thẻ chính
Ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT): Là tổ chức được ngân hàng nhà
nước hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép thực hiện hoạt động phát hành thẻ, cấp thẻ cho các chủ thẻ sử dụng, chịu trách nhiệm thanh toán và cung cấp các dịch vụ liên quan đến thẻ đó Khi phát hành thẻ quốc tế ngân hàng còn phải được sự động ý của tổ chức thẻ đó
Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT): Là đơn vị, tổ chức, cá nhân chấp nhận
việc thanh toán tiền hàng hóa, phí dịch vụ bằng thẻ theo hợp đồng ký kết với NHPHT hoặc NHTTT ĐVCNT có thể được trang bị các máy IDC, CAT hoặc máy cà hóa đơn để thực hiện việc xin cấp phép hoặc thanh toán
Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): Là ngân hàng được NHPHT ủy
quyền thực hiện thanh toán theo hợp đồng hoặc là thành viên chính thức hoặc là thành viên liên kết của một tổ chức thẻ quốc tế thực hiện dịch vụ thanh toán theo thỏa ước ký kết với tổ chức đó NHTTT sẽ trực tiếp ký các hợp đồng với
Trang 8các ĐVCNT để tiếp nhận và xử lý các giao dịch tại các ĐVCNT, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hướng dẫn các ĐVCNT nghiệp vụ để thực hiện xử lý, truyền tải thông tin cần thiết trong quá trình giao dịch NHTTT có thể đồng thời là NHPHT
Tổ chức thẻ quốc tế: Là một ngân hàng, một chế định tài chính hay một
tổ chức phi tài chính gắn với một thương hiệu thẻ (ví dụ như: Visa international, Mastercard international…) trên cơ sở các thương hiệu thẻ đã có, các tổ chức này ủy quyền cho các ngân hàng đại lý hoặc tự mình phát hành thẻ
Trung tâm chuyển mạch (Switching Center): là một đầu mối kết nối hệ
thống thanh toán giữa các hệ thống NHPHT, các tổ chức thanh toán thẻ khác nhau để các NHTTT đó có thể thực hiện trao đổi giao dịch với nhau mặc dù mỗi
hệ thống có những đặc thù riêng Trung tâm chuyển mạch được hình thành nhằm mục tiêu kết nối các ĐVCNT, NHTTT, NHPHT, tổ chức thẻ quốc tế thành một mạng lưới rộng khắp, giúp cho chủ thẻ có thể sử dụng thẻ ở phạm vi rộng lớn hơn mà không bị bó hẹp trong phạm vi ĐVCNT thuộc hệ thống thẻ của mình Mặt khác trung tâm chuyển mạch còn giúp cho các NHPHT tiết kiệm chi phí đáng kể cho việc đầu tư mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ do việc tận dụng được đầu tư của các NHPHT khác điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với lĩnh vực thẻ ATM
2 Quy trình thực hiện thanh toán thông qua thẻ ngân hàng.
- Chủ thẻ xuất trình thẻ thanh toán tại ĐVCNT để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ
- ĐVCNT kiểm tra thẻ, nếu thẻ đủ điều kiện thanh toán thì lập hoá đơn thanh toán thông qua thiết bị đọc thẻ được trang bị Kiểm tra kỹ chữ ký, giao hóa đơn cùng với tiền và trả lại thẻ cho khách hàng
- ĐVCNT nộp hoá đơn thanh toán thẻ hoặc truyền thông tin giao dịch thanh toán thẻ về NHTTT để được tạm ứng thanh toán số tiền trên các hoá đơn giao dịch
- NHTTT sau khi kiểm tra tính hợp lệ trên hoá đơn, hoặc tiếp nhận thông tin
do ĐVCNT truyền về sẽ làm thủ tục tạm ứng thanh toán cho đơn vị chấp nhận thẻ
- NHTTT truyền thông tin các giao dịch đã tạm ứng cho ĐVCNT về NHPHT
- NHPHT sau khi tiếp nhận thông tin giao dịch của các chủ thẻ từ NHTTT sẽ thực hiện thanh toán cho NHTTT
- NHPHT thông báo về các giao dịch thẻ phát sinh cho chủ thẻ vào ngày quy định và đề nghị chủ thẻ thanh toán lại số tiền họ đã tiêu dùng bằng thẻ
Trang 9- Chủ thẻ thanh toán số tiền giao dịch phát sinh cho NHPHT.
- Đối với việc thanh toán thẻ quốc tế thì ngân hàng phát hành thẻ sẽ thực hiện thanh toán thông qua hệ thống thanh toán của tổ chức thẻ quốc tế
- Còn trong trường hợp liên kết thẻ, việc thanh toán còn phải qua một khâu trung gian là hệ thống chuyển mạch thông tin của các Trung tâm chuyển mạch
Như vậy, chúng ta có thể thấy các quan hệ phát sinh chủ yếu trong quá trình thanh toán thẻ bao gồm:
(1) Quan hệ giữa chủ thẻ với NHPHT
(2) Quan hệ giữa chủ thẻ với ĐVCNT
(3) Quan hệ giữa ĐVCNT với NHTTT
(4) Quan hệ giữa Trung tâm chuyển mạch với NHPHT, ĐVCNT, NHTTT, tổ chức thẻ quốc tế
(5) Quan hệ giữa NHTTT với NHPHT
(6) Quan hệ giữa tổ chức thẻ quốc tế với NHPHT, NHTTT, ĐVCNT Các mối quan hệ trên chủ yếu là quan hệ trao đổi thông tin và thanh toán Quá trình thông tin và thanh toán giữa NHPHT, NHTTT, tổ chức thẻ quốc tế hoàn toàn được thực hiện qua hệ thống kết nối online Còn việc thông tin và thanh toán giữa NHPHT, NHTTT và các ĐVCNT có thể được thực hiện thông qua hai chế độ online hoặc offline (chỉ để kiểm tra tính xác thực của thẻ qua việc định dạng mã số bằng máy cà tay) Với việc ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật công nghệ, tốc độ thanh toán thẻ được coi là đứng đầu trong số các dịch vụ thanh toán điện tử Quá trình thanh toán khép kín trong mạng lưới đem lại độ an toàn cao cho tất cả các bên tham gia trong hoạt động thanh toán thẻ
3 Mối quan hệ giữa các bên trong quan hệ thanh toán thông qua thẻ ngân hàng.
3.1 Quan hệ giữa chủ thẻ và NHPHT.
Mặc dù, dịch vụ thanh toán thẻ mới chỉ ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, nhưng các ngân hàng thương mại đã phải giải quyết nhiều đơn thư khiếu nại của các chủ thẻ, thậm chí đã phải tham gia tố tụng tại Tòa án theo đơn khởi kiện của chủ thẻ Điển hình là vụ chị Trần Thị Thanh Thủy kiện Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) tại Tòa án Nhân dân quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội (xử sơ thẩm) để đòi bồi thường số tiền trên tài khoản của chị bị mất 30 triệu đồng năm 2005 Từ vụ án này và nhiều vụ khiếu nại khác về thẻ, một số chủ thẻ cho rằng quan hệ giữa ngân hàng phát hành thẻ với chủ thẻ là quan hệ gửi giữ tài sản (quan hệ pháp luật dân sự) Cho nên, quan
hệ gửi giữ tài sản này phải chịu sự điều chỉnh của các quy định về hợp đồng dân
sự trong Bộ luật Dân sự Bằng chứng cho sự tồn tại quan hệ gửi giữ tài sản giữa
Trang 10ngân hàng với chủ thẻ là chiếc thẻ thanh toán và tài khoản mang tên chủ thẻ tại ngân hàng Do đó, số tiền trên tài khoản là tài sản mà chủ thẻ gửi giữ tại ngân hàng Chính vì vậy, nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản gửi giữ đó (trừ trường hợp bất khả kháng), thì ngân hàng giữ tài sản phải bồi thường thiệt hại cho người gửi tài sản
Căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự “Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản
và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết hạn hợp đồng, còn bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ, trừ trường hợp gửi giữ không phải trả tiền công”
(Điều 559 Bộ luật Dân sự năm 2005), việc một số chủ thẻ cho rằng quan hệ giữa chủ thẻ với ngân hàng phát hành thẻ là quan hệ gửi giữ tài sản là chưa đủ
cơ sở và chưa phù hợp với quy định của pháp luật vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, người giữ tài sản là pháp nhân và thực hiện dịch vụ này nhằm
mục đích sinh lợi (ngân hàng), trong khi một bên là cá nhân gửi tài sản hầu như không có mục đích kinh doanh (chủ thẻ) Nếu cá nhân gửi tiền tại ngân hàng với mục đích kinh doanh, thì cá nhân đó lựa chọn các hình thức đầu tư khác với lãi suất cao hơn để đầu tư Các hình thức đầu tư này có thể là: gửi tiết kiệm có
kỳ hạn, mua kỳ phiếu, trái phiếu Mục đích chính của cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng và chuyển tiền vào tài khoản đó không phải hưởng lãi theo lãi suất không kỳ hạn do ngân hàng quy định mà là để cất giữ tài sản hoặc để thuận tiện hơn cho việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ
Thứ hai, hiện nay, không còn văn bản pháp luật nào định nghĩa tài sản mà chỉ có quy định mang tính liệt kê “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” (Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2005) Cho nên, tiền trên
tài khoản của chủ thẻ là tài sản mà chủ thẻ gửi tại ngân hàng Tuy nhiên, số tiền gửi giữ này khác với tài sản gửi giữ được nêu trong hợp đồng gửi giữ tài sản theo quy định trong Bộ luật Dân sự Trong quan hệ giữa chủ thẻ với NHPHT, bên giữ tài sản (ngân hàng) có trách nhiệm bảo quản tài sản cho người gửi tài sản (chủ thẻ) nhưng không có nghĩa vụ trả lại chính tài sản đó cho bên gửi tài sản khi hết thời hạn hợp đồng Trường hợp chủ thẻ phải trả lại chính số tiền mà người gửi đã nộp, thì chủ thẻ không được sử dụng thẻ để rút tiền mặt hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng gửi giữ tài sản Hơn nữa, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ giữa ngân hàng với chủ thẻ là loại hợp đồng dân sự không xác định thời hạn và bên gửi tài sản không phải trả tiền công cho bên giữ Chẳng hạn như, khi mở tài khoản thẻ ATM, chủ thẻ nộp cho ngân hàng mười triệu đồng, trong đó có 5 triệu đồng loại tiền 500.000 đồng,
3 triệu đồng loại tiền 100.000 đồng và 2 triệu đồng loại tiền 50.000 đồng với số seri xác định Số tiền này sẽ được ngân hàng đưa vào lưu thông và không còn là tài sản thuộc sở hữu của chủ thẻ ngay sau khi nộp Do đó, khi sử dụng thẻ ngân