1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nguồn điều ước Quốc tế điều chỉnh hợp đồng thương mại Quốc tế ( Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa Quốc tế, Quy định Rome I 2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng)

23 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 179,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: Nguồn điều ước Quốc tế điều chỉnh hợp đồng thương mại Quốc tế Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa Quốc tế, Quy định Rome I 2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng.. Đố

Trang 1

Đề bài: Nguồn điều ước Quốc tế điều chỉnh hợp đồng thương mại Quốc tế ( Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa Quốc tế, Quy định Rome I 2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng)

Bài làm:

A – LỜI MỞ ĐẦU:

Hiện nay, tự do hóa thương mại trở thành xu thế của thời đại, với mục đích là xóa

bỏ mọi rào cản để hoạt động thương mại giữa các quốc gia được thuận lợi hơn,phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế toàn cầu nói chung và mỗi quốc gia nóiriêng Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều lĩnh vực khácnhau như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đếnquyền sở hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư… Những hoạt động này đòihỏi phải sử dụng các công cụ pháp lý điều chỉnh khác nhau Đó là những hợp đồngthương mại quốc tế Trong bài viết dưới đây, người viết muốn được đi vào phântích và làm rõ một trong những nguồn điều chinh hợp đồng thương mại quốc tế, đó

là các điều ước quốc tế

I, GIỚI THIỆU NGUỒN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TÊ ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ:

Nguồn Điều ước Quốc tế điều chỉnh hợp đồng thương mại Quốc tế gồm có: Côngước Viên 1980 về mua bán hàng hóa Quốc tế; Quy định Rome I 2008 về luật ápdụng đối với nghĩa vụ hợp đồng

1 Khái quát chung về công ước Viên 1980 và Quy định Rome I 2008:

Trang 2

Năm 1965, Liên Hiệp Quốc lập ra Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương MạiQuốc tế (“UNCITRAL”) với mục đích lập ra hệ thống luật chung cho các hợpđồng mua bán quốc tế Công ước này được đóng góp và bổ sung bởi các học viện,

tổ chức, thương nhân, nhà ngoại giao và luật sư từ hơn 61 quốc gia đại diện nhữngquy phạm pháp luật khác nhau UNCITRAL nhất trí phê duyệt dự thảo và trình lênHội đồng Liên Hiệp quốc CISG được phê duyệt chính thức năm 1980 tại Viên vàđược dịch sang 6 ngôn ngữ: tiếng Ả Rập, tiếng Hoa, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếngNga và tiếng Tây Ban Nha Hiện nay, Công ước Viên là một trong những công ướcquốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất, với 74 thành viên(tính đến ngày 11/4/2010/) ước tính CISG điều chỉnh khoảng 80% giao dịchthương mại quốc tế

Công ước Viên 1980 (“CISG”) được đưa ra nhằm mục đích giảm thiểu nhữngxung đột trong các giao dịch thương mại quốc tế nhờ đưa ra một khung pháp lýthống nhất, có thể áp dung tại mọi quốc gia không phân biệt trình độ phát triểnkinh tế Đối tượng áp dụng của Công ước là hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cácbên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau là thành viên của công ước và

Công ước Rome 1980 quy định về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng Côngước được ký kết ngày 19/6/1980 và có hiệu lực ngày 1/4/1991 về luật áp dụng đốivới quan hệ nghĩa vụ hợp đồng Đây là điều ước quốc tế quan trọng được xây dựngtrên cơ sở thống nhất các nguyên tắc của tư pháp quốc tế trong lĩnh vực hợp đồngthương mại quốc tế Công ước đã được các nước thành viên của Liên minh Châu

1 Việt Nam tham gia công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế (CISG) – Lợi ích và hạn chế: http://trungtamwto.vn/vandedacbiet/cong-uoc-vien/viet-nam-tham-gia-cong-uoc-vien-1980-ve-hop-dong-mua-ban- hang-hoa-quoc-te.

Trang 3

Âu phê duyệt một cách nhanh chóng và trở thành nguồn luật quan trọng điều chỉnhcác vấn đề về luật áp dụng đối với quan hệ nghĩa vụ hợp đồng hiện nay.

2 Vai trò của Điều ước Quốc tế điều chỉnh hợp đồng thương mại Quốc tế ( Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế; Quy định Rome I về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng).

tế:

Thứ nhất, CISG trở thành nguồn luật trong nước của rất nhiều quốc gia.

Thứ hai, CISG được đánh giá là góp phần cho các nguyên tắc UNIDROIT hay các

nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu ( PECL) Trên cơ sở nền tảng của CISG,Các nguyên tắc này đã trở thành một nguồn luật quốc tế quan trọng, được nhiềuquốc gia và doanh nhân sử dụng trong thương mại giao dịch quốc tế

Thứ ba, CISG cũng được khuyến khích áp dụng cho các giao dịch không thuộckhuôn khổ CISG như một Lex Mercatoria Nhiều doanh nhân các nước đã tựnguyện áp dụng áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mìnhmặc dù các giao dịch này không thuộc phạm vi áp dụng của Công ước

Thứ nhất, với các bên tham gia giao kết hợp đồng thì những quy định về chọn lựa

luật áp dụng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng của

họ vì họ thường lựa chọn hệ thống pháp luật gần gũi và họ hiểu rõ nhất về sự lựachọn đó Đối với các cơ quan tài phán thì luật áp dụng đối với hợp đồng còn là cơ

sở pháp lý để xem xét giá trị pháp lý của hợp đồng và giải quyết tranh chấp

Thứ hai, sự ra đời của công ước này còn nhằm đảm bảo sự ổn định, tính thống nhắtcho việc thực hiện các hợp đồng quốc tế, tránh sự thiếu hiểu biết lẫn nhau gây bất

Trang 4

đồng tranh chấp Đặc biệt có thể coi đây là một hành lang pháp lý an toàn, đảm bảođược khả năng dự liệu trước được mọi tình huống có thể phát sinh trong tương lai,tránh rủi ro, thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra.

II, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế:

1, Phạm vi áp dụng:

Theo Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa thì phạm vi ápdụng đối với công ước quy định rõ tại Điều 1 như sau:

"1 Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ

sở thương mại tại các quốc gia khác nhau

a Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,

b Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này

2 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên

3 Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân

sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này."

Theo đó thì nếu các bên có trụ sở kinh doanh tại các nước tham gia Công ướcViên, khi hợp đồng rơi vào phạm vi điều chỉnh của Công ước, hợp đồng được tựđộng điều chỉnh bởi Công ước, trừ khi các bên trong hợp đồng qui định khác vàthỏa thuận khác đối với hợp đồng, Nếu là thành viên công ước Viên chịu sự điềuchỉnh của công ước này thì khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa thì phải tuân

Trang 5

thủ theo Công ước Viên Có 2 trường hợp: một là, các bên tham gia hợp đồng đến

từ các nước thành viên Công ước khác nhau; hai là, hợp đồng giữa một bên là nướcthành viên và một bên là nước không tham gia công ước ví dụ công ty A quốctịch Canada ký hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty B quốc tịch Trung Quốcthì hợp đồng giũa hai nước này chịu sự điều chỉnh của công ước Viên, bởi hai nướcđều là thành viên của Công ước Viên

Tại Ðiều 4 công ước viên cũng quy định phạm vi điều chỉnh của công ước này nhưsau: “ Công ước này chỉ điều chỉnh việc ký kết hợp đồng mua bán và các quyền vànghĩa vụ của người bán và người mua phát sinh từ hợp đồng đó” Theo đó thì côngước chỉ điều chỉnh việc điều chỉnh ký kết của hợp đồng cũng như quyền và nghĩa

vụ của người bán và người mua phát sinh từ hợp đồng thuộc sự điều chỉnh củacông ước còn các vấn đề khác thì công ước không diều chỉnh

Công ước quy định rất rõ về phạm vi điều chỉnh bên cạnh đó công ước cũng quyđịnh về phạm vi không áp dụng công ước đó là:

Ðiều 2: Công ước này không áp dụng vào việc mua bán:

a Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán,vào bất cứ lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng,không biết hoặc không cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng nhưthế

b Bán đấu giá

c Ðể thi hành luật hoặc văn kiện uỷ thác khác theo luật

d Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền

tệ

Trang 6

e Tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí

f Ðiện năng

Theo đó thì công ước không áp dụng đối với việc mua bán được liệt kê tại Điều 2của công ước, Việc mua bán tại khoản 2 liêt kê như ở trên mang tính chất của cánhân, hay các mặt hàng hóa sự điều chỉnh phức tạp, nếu xảy ra tranh chấp thì côngước Viên không điều chỉnh các tranh chấp đó Bên cạnh đó thì công ước cũngkhông được áp dụng tại Ðiều 5: “Công ước này không áp dụng cho trách nhiệmcủa người bán trong trường hợp hàng của người bán gây thiệt hại về thân thể hoặclàm chết một người nào đó”

2, Nguyên tắc chọn luật điều chỉnh hợp đồng:

Nguyên tắc chọn luật điều chỉnh hợp đồng của công ước viên đã được quy địnhtrong khoản 1 điều 1 tại Phần I của công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Nó đã được quy định như sau:

“ 1 Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên cótrụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau

a Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,

b, Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nướcthành viên công ước này ”

Ở đây, Công ước Viên 1980 đã quy định một nguyên tắc chung mang tính chất bắtbuộc cho việc chọn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bằng cáchđưa ra quy định về việc công ước chỉ có thể áp dụng cho các bên tham gia kí kếthợp đồng mua bán hàng hóa phải có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhauvới điều kiện kèm theo là khi các quốc gia đó của các bên kí kết hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế đều là các quốc gia thành viên của Công ước Viên 1980 hoặc là

Trang 7

khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng cho hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế đó là luật của thành viên công ước này.

-Nêu ví dụ cho nguyên tắc?

Công ty A có trụ sở thương mại tại Mỹ và công ty B có trụ sở thương mại tại ViệtNam đã kí kết hợp đồng mua bán chip điện tử và thỏa thuận sẽ dùng công ướcViên 1980 về mua bán hàng hóa thương mại quốc tế để áp dụng cho hợp đồng muabán chip điện tử này Như vậy, xét theo nguyên tắc lựa chọn luật áp dụng cho hợpđồng mua bán hàng hóa quốc tế của công ước Viên 1980 thì 2 Công ty A và B nàyđều có trụ sở thương mại ở hai nước khác nhau

-Nếu 2 quốc gia của 2 công ty A và B đặt trụ sở tại đó đều tham gia công ước thìhợp đồng dĩ nhiên sẽ được áp dụng công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc

tế để giải quyết tranh chấp

-Nếu chỉ có một quốc gia của 1 trong 2 công ty A và B tham gia Công ước Viên

1980 thì luật được lựa chọn áp dụng cho hợp đồng mua bán trên sẽ là luật của quốcgia thành viên tham gia Công ước Viên 1980 mà 1 trong 2 công ty A hoặc công ty

B đã đặt trụ sở tại quốc gia thành viên này

3) phạm vi lựa chọn luật áp dụng

Lựa chọn luật áp dụng là việc các bên khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa đãthỏa thuận với nhau về việc lựa chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp phạm vilựa chọn luật áp dụng cũng được áp dụng theo việc ký kết của các bên

Tại Ðiều 6 công ước viên quy định

“ Các bên có thể loại bỏ việc áp dụng Công ước này hoặc với điều kiện tuân thủđiều 12, có thể làm trái với bất cứ điều khoản nào của Công ước hay sửa đổi hiệulực của các điều khoản đó”

Trang 8

Nói cách khác, khi không muốn áp dụng Công ước Viên, các bên phải nêu rõ tronghợp đồng rằng hợp đồng được điều chỉnh bởi luật quốc gia (ví dụ, các bên tronghợp đồng là các công ty của Hoa Kỳ và Đức qui định “Hợp đồng này được điềuchỉnh bởi luật bang New York”) hoặc khi không sử dụng nguồn luật điều chỉnhkhác, Công ước Viên sẽ được ưu tiên lựa chọn luật áp dụng Tóm lại, nếu các bênkhông muốn áp dụng công ước Viên thì nên nêu rõ trong hợp đồng mua bán.

Công ước Viên cũng có thể được áp dụng đối với các giao dịch giữa các bênkhông tham gia Công ước nếu các bên chỉ định trong hợp đồng.Ví dụ, giao dịchgiữa công ty của Đài Loan và Brazil (cả 2 nước này đều chưa tham gia công ướcViên), Công ước Viên có thể được áp dụng nếu hai bên lựa chọn luật áp dụng, vớilưu ý là nếu Công ước Viên được áp dụng như một nguồn luật, nó sẽ được ưu tiên

áp dụng trong trường hợp có xung đột với luật nội địa nhưng nếu Công ước Viênchỉ được áp dụng trong hợp đồng đơn lẻ, Công ước sẽ chỉ là một điều khoản củahợp đồng, không thay thế các điều khỏan bắt buộc khác của luật quốc gia

Ngoài ra, có những trường hợp mà Công ước Viên vẫn có thể được áp dung mặc

dù cả hai bên tham gia hợp đồng đều không phải là nước thành viên Công ước vàhợp đồng không dẫn chiếu tới Công ước Đó là những trường hợp do tòa án sửdụng

4) Nhận xét

Có hiệu lực từ ngày 01/01/1988, cho đến nay, Công ước Viên 1980 đã trở thànhmột trong các công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãinhất So với các công ước đa phương khác về mua bán hàng hóa (như các côngước Hague 1964), CISG có quy mô lớn hơn hẳn về số quốc gia tham gia và mức

độ được áp dụng Hiện nay, có 74 quốc gia đã là thành viên công ước thuộc các hệthống pháp luật khác nhau từ các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đangphát triển, các quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các quốc gia theo đường lối xã

Trang 9

hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục Hầu hết các cường quốc về kinh tế trên thếgiới (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã tham gia CISG Uớc tính, Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến ba phần tư thương mạihàng hóa thế giới Trong thực tiễn, đã có hơn 2500 vụ tranh chấp được Tòa án vàtrọng tài các nước, trọng tài quốc tế giải quyết có liên quan đến việc áp dụng vàdiễn giải Công ước Viên 1980 phát sinh không chỉ tại các quốc gia thành viên màtại các quốc gia chưa phải là thành viên, Công ước vẫn được áp dụng, hoặc do cácbên trong hợp đồng lựa chọn như là luật áp dụng cho hợp đồng, hoặc do các tòa

án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp

Trong bối cảnh giao dịch thương mại quốc tế đóng vai trò trụ cột với nền kinh tế(gồm cả xuất, nhập khẩu hàng hóa), CISG đã góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy

sự phát triển của quan hệ thương mại về hàng hoá giữa các quốc gia, mang lại lợiích đáng kể, không chỉ lợi ích kinh tế (đứng từ góc độ doanh nghiệp) mà lợi ích vềpháp lý (đứng từ góc độ của hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật); giúp thốngnhất hệ thống pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế giữa các quốc gia trên thếgiới với nhau, tăng cường mức độ hội nhập thế giới Đồng thời giúp cho việc giảiquyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được nhanhchóng và thuận lợi hơn

Theo các chuyên gia và các doanh nghiệp, sở dĩ CISG được sử dụng một cách rộngrãi, trở thành một trong những Công ước thống nhất về luật tư thành công nhất làbởi:

Thứ nhất, CISG được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc - tổchức quốc tế liên chính phủ lớn nhất hành tinh một mặt tạo được sự tin cậy từ phíacác quốc gia (trong quá trình soạn thảo), mặt khác cũng nhận được sự tin tưởng củađông đảo doanh nghiệp (trong quá trình thực thi)

Trang 10

Thứ hai, CISG là kết quả của quá trình thảo luận chi tiết với việc xem xétđầy đủ và hợp lý các yêu cầu, tập quán thương mại của các quốc gia Do sự khácbiệt về pháp luật của các quốc gia cũng như lợi ích mà các quốc gia hướng tới khitham gia vào Công ước mà quá trình soạn thảo CISG đã gặp rất nhiều khó khăn.Tuy nhiên, các điều khoản của CISG vẫn thể hiện được sự thống nhất, hài hòa cácquy phạm khác nhau trong pháp luật của các quốc gia tham gia soạn thảo, phản ánhđược mối quan tâm chung của các quốc gia này Để đảm bảo cho tính chất quốc tế,Công ước đã được soạn thảo bằng ngôn ngữ trung tính, đơn giản, tránh sử dụng cáckhái niệm riêng của từng hệ thoongd luật của các quốc gia

Thứ ba, các điều khoản của CISG được xây dựng một cách hiện đại, linhhoạt, phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế CISG được soạn thảo dựatrên một nguồn luật quan trọng là các tập quán thương mại quốc tế, trong đó có cảINCOTERMS của ICC Nhiều điều khoản cụ thể của Công ước cũng có cách tiếpcận rất linh hoạt (như sử dụng các điều khoản tùy nghi) để phù hợp với thực tiễnrất phong phú về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đảm bảo được sự bình đẳnggiữa bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế

Trong khi CISG ngày càng được áp dụng rộng rãi, khẳng định vai trò quantrọng của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hợp đồng thươngmại quốc tế thì trên thực tế vẫn còn tồn tại khuynh hướng loại trừ không áp dụngCông ước này Điều này được lý giải bởi: một là, mặc dù CISG được biết đến khárộng rãi nhưng mức độ am hiểu về việc áp dụng và chức năng của Công ước trênthực tế vẫn rất thấp, do vậy mà vẫn áp dụng pháp luật trong nước Hai là, khi mộtbên trong hợp đồng có ưu thế thì bên đó thường thích sử dụng luật của nước mìnhhơn để áp dụng cho hợp đồng Ba là, các bên vẫn chưa bị thuyết phục về lợi íchcủa CISG so với các luật trong nước về hợp đồng Tuy nhiên, những lập luận nàyđều không có tính thuyết phục bởi những lý do sau:

Trang 11

Thứ nhất, hiện nay tại các nước phương tây và các nước công nghiệp hóa, các bênđược tự do để chọn luật áp dụng cho hợp đồng của họ Nhưng tại nhiều nước đangphát triển và các nước chuyển đổi lại e ngại dành cho các thương nhân phương tâyquá nhiều lợi thế dẫn đến việc từ chối công nhận các điều khoản chọn luật Ví dụ ởBrazil, giá trị pháp lý của các điều khoản chọn luật được bàn cãi nhiều hơn hết Do

đó, người mua từ Hoa Kỳ nhận hàng hóa từ người bán Brazil và tự tin giao kết trên

cơ sở Luật Thương mại mẫu của Hoa Kỳ có thể bị rơi vào tình trạng rất rủi ro khi

cố gắng kiện người bán ở các tòa án Brazil nơi áp dụng luật Brazil đối với hợpđồng mua bán Điều này dễ dẫn tới tình trạng một bên phải đương đầu với một luậtkhó có khả năng dự đoán và thậm chí khó hiểu hoặc tiếp cận (Theo Tạp chí Luật

So sánh Hoa Kỳ)

Thứ hai, nếu điều khoản chọn luật được thừa nhận thì việc một bên yêu cầu ápdụng luật của nước mình có thể vẫn gặp phải những trở ngại đáng kể khi kiện ratòa án của một nước khác, yêu cầu đặt ra là phải chứng minh luật được chọn tạiTòa Việc chứng minh được không phải dễ dàng, tốn kém trong khi vẫn phải đốimặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc giải thích và áp dụng luật này bởi sựkhác biệt về ngôn ngữ, trình độ…Do vậy, các trọng tài – những người đến từ các

hệ thống pháp luật khác nhau khó có thể thể áp dụng luật của một nước khác đểđiều chỉnh

Thứ ba, trong nhiều trường hợp, các bên viễn dẫn pháp luật nước thứ ba đểgiải quyết tranh chấp Tuy nhiên, nếu các bên chọn một luật (trung lập) của nướcthứ ba, họ thậm chí có thể rơi vào hoàn cảnh xấu hơn là chọn luật của chính mộttrong các bên Đầu tiên, họ phải tìm hiểu về luật nước ngoài này Hơn nữa, khókhăn và chi phí trong việc chứng minh nó thậm chí còn nặng nề hơn

Tất cả những thiếu sót của luật trong nước nói trên có thể tránh được bằng

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w