1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề lý luận chung về nguồn điều ước quốc tế điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế

23 720 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào tính chất điều chỉnh thì, Công ước Viên năm 1980 là loại điều ước quốc tế quy định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, còn Q

Trang 1

A – LỜI MỞ ĐẦU

Điều ước quốc tế bên cạnh pháp luật quốc gia và tập quán thương mại quốc tế là loại nguồn luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế Bài làm dưới đây đi tìm hiểu về nội dung của hai điều ước quốc tế quan trọng điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế là Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế ngày 11 tháng 4 năm 1980 (sau đây gọi tắt là Công ước Viên năm 1980) và Quy định Rome của Nghị viện và Hội đồng liên minh châu Âu ngày 17 tháng 6 năm 2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng (sau đây gọi tắt là Quy định Rome I)

Điều ước quốc tế bao gồm điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương Công ước Viên năm 1980 và Quy định Rome I đều là các điều ước quốc tế đa phương Căn cứ vào tính chất điều chỉnh thì, Công ước Viên năm 1980 là loại điều ước quốc tế quy định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, còn Quy định Rome I lại là loại điều ước quốc tế thống nhất những nguyên tắc chung

về chọn luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng mà không quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại quốc tế

Trang 2

Về việc áp dụng các quy phạm trong điều ước quốc tế, do các điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia nên chúng có giá trị bắt buộc áp dụng đối với các nước thành viên trên nguyên tắc tự nguyện (Pacta sunt servanda) Trong lĩnh vực hợp đồng thương mại quốc tế, các điều ước quốc tế được áp dụng trên cơ sở sau đây:

 Nếu các bên chủ thể hợp đồng có trụ sở kinh doanh hoặc nơi thường trú

ở các quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế;

 Trong trường hợp có sự quy định khác giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia nước thành viên thì quy định của điều ước được ưu tiên

áp dụng;

 Trong trường hợp các bên chủ thể của hợp đồng không có trụ sở kinh doanh hoặc nơi thường trú ở các quốc gia là thành viên điều ước thì điều ước đó vẫn có thể áp dụng nếu theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng điều chỉnh hợp đồng là luật của nước thành viên điều ước đó hoặc trường hợp các bên thỏa thuận áp dụng các điều khoản của điều ước quốc tế

II, Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán quốc tế ngày 11 tháng 4 năm 1980 và Quy định Rome I của Nghị viện và Hội đồng liên minh châu Âu ngày 17 tháng 6 năm 2008 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng.

1 - Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế:

a, Khái quát

Công ước Viên năm 1980 là công ước Quốc tế được kí ngày 14/4/1980 tại Viên (Áo) và có hiệu lực từ ngày 1/1/1988 Nội dung của công ước quy định các vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế Hiện nay công ước Viên là một trong những công ước Quốc tế về thương mại được

Trang 3

phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất, với 75 thành viên và ước tính CISG điều chỉnh khoảng 80% giao dịch thương mại Quốc tế1

Nguồn gốc ra đời của Công ước Viên đó là: khi mà hợp đồng thương mại quốc tế với vị trí là trung tâm của giao dịch thương mại Do đó hoàn toàn

tự nhiên mà các quy tắc của luật liên kết việc mua bán đã được tập trung chú

ý Trước đó thì những năm 1800 và 1900 thì các thương nhân đã có tất cả những mục đích hướng tới thực tiễn dựa trên những gì mà họ đã kế tục để đồng ý một cách tuyệt đối trên đó và hoàn thiện sự khác biệt về hợp đồng của

họ với những tập quán Quốc tế và những quy định thường được gọi là luật của thương nhân hoặc lex mercatoria.Tuy nhiên thì không có giải pháp chắc chắn và thích đáng cho các loại vi phạm và những kẽ hở của hợp đồng Do

đó, với mong muốn pháp điển hóa hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa QT trên Châu âu lục địa và ở Anh trước năm 1893 Và cũng như vậy ở Sandinavian các hoạt động mua bán hàng hóa trở thành lực lượng qua trọng vào đầu những năm 1900 ( tương ứng từng nước 1905, 1906 và 1907 hoạt động mua bán hàng hóa ở Thụy Điển, Đan Mạch, Na uy) Vào thời kì các cuộc chiến tranh lớn thì công ước quốc tế được kí kết dẫn dắt đến hai công ước, Luật thống nhất dựa trên mua bán hàng hóa QT và Luật thống nhất dựa trên việc kí kết các hợp đồng cho mua bán hàng hóa QT ( ULIS và ULFIS)2 Tuy nhiên thì những công ước này chỉ góp thành công một phần và những nỗ lực để nhận được sự chấp thuận rộng rãi hơn bởi cộng đồng thương mại QT được phục hồi lại sau chiến tranh thế giới thứ 2, và dẫn đến sự ra đời công ước Viên năm 1980 ( CISG) Chính vì lý do ra đời như vậy mà có thể nói rằng công ước Viên được đưa ra nhằm mục đích giảm thiểu những xung đột trong các giao dịch thương mại quốc tế nhờ đưa ra một khung pháp lý

1 Việt Nam tham gia công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế (CISG) – Lợi ích và hạn chế: http://trungtamwto.vn/vandedacbiet/cong-uoc-vien/viet-nam-tham-gia-cong-uoc-vien-1980-ve-hop- dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te.

2 Bản dịch do nhóm 1 – QT33A dịch – international contracts of sale, international commercial law

Trang 4

thống nhất, có thể áp dung tại mọi quốc gia không phân biệt trình độ phát triển kinh tế.

b, Nội dung Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế:

 Phạm vi áp dụng:

Tại Điều 1 Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế quy định như sau:

"1 Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên

có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

a, Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,

b, Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này "

Với quy định tại khoản 1 Điều 1 của Công ước Viên 1980 thì việc áp dụng công ước được xác định trong hai trường hợp: căn cứ vào trụ sở thương mại của chủ thể có quan hệ với nước là thành viên của Công ước Viên 1980; căn

cứ vào việc liên quan tới nguyên tắc chọn luật áp dụng của tư pháp Quốc tế

 Trường hợp thứ nhất: Căn cứ vào trụ sở thương mại của chủ thể có

quan hệ với nước là thành viên của Công ước Viên 1980.

Ở trường hợp thứ nhất này được hiểu đó là khi trụ sở thương mại của các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế đặt ở quốc gia thành viên của Công ước, thì khi đó công ước được áp dụng Tuy nhiên, trên thực tế thì không đơn thuần chủ thể trong quan hệ thương mại Quốc tế không chỉ có một trụ sở kinh doanh mà còn có thể có nhiều trụ sở kinh doanh ở nhiều quốc gia khác nhau hoặc còn có trường hợp không có trụ sở kinh doanh nào Vậy câu hỏi đặt ra đối với trường hợp này đó là: Có phải chỉ cần một trong các trụ

sở kinh doanh của một trong các bên chủ thể trong thương mại QT có trụ sở tại quốc gia thành viên thì miễn nhiên trường hợp phức tạp trên được giải quyết? Ở trường hợp này, tại Điều 10 Công ước Viên 1980 quy định như sau:

Trang 5

"Điều 10 Nhằm phục vụ công ước này:

a, Nếu một bên có hơn một trụ sở thương mại trở lên thì trụ sở thương mại của họ sẽ được coi là trụ sở nào đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và đối với việc thực hiện hợp đồng đó, có tính tới những tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự đoán được vào bất kì lúc nào trước hoặc vào thời điểm hợp đồng.

b, Nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ."

Như vậy với quy định tại Điểm a Điều 10 Công ước Viên thì trường hợp nếu một bên có hơn một trụ sở thương mại trở lên thì trụ sở được xác định trong mối quan hệ sẽ là trụ sở mà có mối liên hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng được đặt tại quốc gia thành viên của Công ước Còn với Điểm b Điều 10 Công ước Viên thì trường hợp một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên của họ, và ở trường hợp tại điểm b Điều 10 với khoản 1 Điều 1 Công ước thì nếu một bên không có trụ sở thương mại thì nơi

cư trú thường xuyên của họ là quốc gia thành viên của công ước thì công ước được áp dụng

Vậy trường hợp nảy sinh từ trường hợp trên đó là: trường hợp nếu một bên không có trụ sở thương mại mà việc xác định nơi cư trú thường xuyên của họ không là thành viên của công ước thì có trường hợp nào để công ước được áp dụng ở trường hợp nảy sinh trên hay không?

 Trường hợp thứ hai: Căn cứ vào việc liên quan tới nguyên tắc chọn

luật áp dụng của tư pháp Quốc tế.

Đối với trường hợp trên trên cơ sở lý luận cũng như thực tế thì trong trường hợp này vẫn có thể áp dụng công ước Viên Công ước viên có thể áp dụng trong hai trường hợp cụ thể sau3:

3 TS Nông Quốc Bình, Phạm vi áp dụng và không áp dụng của công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế, tạp chí luật học số 10/2010 ( trang 4)

Trang 6

+ Trường hợp thứ nhất: khi các bên chủ thể trong quan hệ hợp đồng

thỏa thuận áp dụng Công ước Viên 1980 Việc thỏa thuận chọn công ước viên coi như các bên đã chuyển điều khoản của công ước thành điều khoản của hợp đồng mà các bên sẵn sàng ràng buộc

+ Trường hợp thứ hai: khi một bên là chủ thể trong hợp đồng có mối

quan hệ với một nước là thành viên của Công ước Trong trường hợp này nếu

cả hai bên đều thỏa thuận áp dụng công ước Viên thì đương nhiên công ước

sẽ được áp dụng Nhưng nếu các bên không thỏa thuận công ước Viên thì khả năng áp dụng công ước vẫn có thể xảy ra, vì tại điểm b khoản 1 Điều 1 "Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này"

Với quy định điểm b khoản 1 Điều 1Công ước viên 1980 " Khi theo các quy

tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên công ước này."

Vậy với quy định như vậy, có thể hiểu tinh thần của điều luật như sau: việc áp dụng công ước hay không phụ thuộc hoàn toàn vào quy tắc của tư pháp Quốc tế Bởi quy phạm được sử dụng để giải quyết ở đây là quy phạm xung đột chứ không phải quy phạm thực chất, bởi quy phạm xung đột là quy phạm xác định luật nước nào điều chỉnh Theo đó thì quy phạm xung đột sẽ được sử dụng để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa các bên Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật nào thì hệ thống pháp luật đó sẽ được áp dụng Với quy định tại điểm b khoản 1 Công ước thì khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến hệ thống pháp luật của quốc gia thành viên Công ước viên 1980 thì toàn bộ quy định của công ước này sẽ được áp dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể4

Trong phạm vi áp dụng công ước Viên 1980 thì trường hợp sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự

4 TS Nông Quốc Bình, Phạm vi áp dụng và không áp dụng của công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế, tạp chí luật học số 10/2010 ( trang 5)

Trang 7

kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là tự việc trao đổi thông tin giữa các bên, và trường hợp quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng Công ước ( khoản 2 và 3 Điều 1 Công ước Viên 1980).

 Nhận xét:

Có thể thấy rằng, qua việc phân tích phạm vi áp dụng công ước Viên 1980, đã thấy được các điều khoản tạo ra hành lang pháp lý rộng cho việc áp dụng công ước Viên 1980 và cũng có điều khoản thu hẹp hành lang pháp lý cho

việc áp dụng công ước Viên như Điều 6 Công ước Viên " Các bên có thể

loại bỏ việc áp dụng Công ước này hoặc với điều kiện tuân thủ điều 12, có thể làm trái với bất cứ điều khoản nào của Công ước hay sửa đổi hiệu lực của điều khoản đó"

 Phạm vi không áp dụng của Công ước Viên 1980:

Trường hợp phạm vi không áp dụng của công ước Viên được quy định tại điều 2 như sau:

" Công ước này không áp dụng vào việc mua bán:

a, Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán hàng, vào bất cứ lúc nào trong thời gian trước hoặc vào thời điểm

ký kết hợp đồng, không biết hoặc không cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế.

b, Bán đấu giá.

c, Để thi hành luật hoặc văn kiện ủy thác theo luật.

d, Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền têh.

e, Tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí.

f, Điện năng."

Trang 8

Và Điều 5 của Công ước quy định như sau:

" Công ước này không áp dụng cho trách nhiệm của người bán trong trường hợp làm hàng của người bán gây thiệt hại về thân thể hoặc làm chết người nào đó."

Xét từng trường hợp:

Trước tiên, việc xác định các trường hợp không áp dụng công ước Viên

1980 dựa vào một số dấu hiệu cơ bản trong giao dịch mua bán hàng hóa như: mục đích của việc mua bán hàng hóa, hình thức của việc mua bán hàng hóa, bản chất của việc mua bán hàng hóa, bản chất của hàng hóa là đối tượng mua bán, hậu quả khôg mong muốn do việc mua bán hàng hóa gây ra5

Thứ nhất, tại điểm a Điều 2 Công ước Viên quy định " Các hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ" là hàng hóa thuộc phạm vi không

điều chỉnh của công ước viên Ở đây, nhóm chúng tôi đưa ra giải thích cho việc các hàng hóa dùng cho mục đích cá nhân, gia đình hoặc nội trợ lại thuộc phạm vi không điều chỉnh của Công ước Viên bởi công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa điều chỉnh các quan hệ phát sinh áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa mà thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước Viên Mà mua bán hàng hóa quốc tế phải là hành vi mua bán hàng hóa xuất phát từ mục đích kinh doanh, sinh lời Mà việc mua bán hàng hóa dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ là giao dịch mua bán không sinh lời, giao dịch mua bán cho mục đích tiêu dùng Do đó, có thể lập luận giải thích lý do của phạm vi không điều chỉnh tại điểm a khoản 1 Công ước Viên

Thứ hai, tại điểm b Điều 2 Công ước Viên " bán đấu giá" không thuộc

phạm vi áp dụng của Công ước Viên Bán đấu giá là hình thức được quy định những quy tắc và thủ tục nhất định Việc quy định bán đấu giá không thuộc phạm vi áp dụng của Công ước Viên trong số các dấu hiệu giao dịch mua bán hàng hóa thì trường hợp này thuộc trường hợp hình thức mua bán hàng hóa

5 TS Nông Quốc Bình, Phạm vi áp dụng và không áp dụng của công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế, tạp chí luật học số 10/2010 ( trang 5)

Trang 9

Vậy với hình thức mua bán hàng hóa thông qua đấu giá là hình thức theo quy định không thuộc phạm vị áp dụng của công ước Viên 1980.

Thứ ba, việc mua bán " để thi hành luật hoặc văn kiện ủy thác theo luật", bản chất của việc mua bán này mang tính chất quyền lực, tính chất công

mà mang tính chất quyền lực và tính chất công " ủy thác" theo luật thì không

mang tính chất sinh lời, và đặc biệt là mang tính chất quyền lực Nhà nước Do

đó, việc mua bán

" đề thi hành luật hoặc văn kiện ủy thác theo luật" là đúng và hợp lý

Thứ tư, " Tàu thủy, máy bay và các chạy trên đệm không khí" và " điện năng", đặc tính của loại hàng hóa này có tính chất đặc biệt Do đó mà công

ước Viên sẽ không điều chỉnh việc mua bán hàng hóa đặc biệt này

Thứ năm, trường hợp tại Điều 5 của Công ước Viên 1980 " Công ước này không áp dụng cho người bán trong trường hợp hàng của người bán gây thiệt hại về thân thể hoặc làm chết một người nào đó", với quy định tại Điều

5 Công ước Viên 1980 thì không chỉ xác định tính chất của giao dịch thương mại để xác định phạm vi không áp dụng công ước mà ở điều 5 còn là hậu quả không mong muốn do việc mua bán hàng hóa gây ra

Ví dụ: việc mua bán hàng hóa tác động đến quyền sở hữu, quyền nhân thân, gây thiệt hại mà nguyên nhân chính từ việc mua bán hàng hóa ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc tính mạng một người nào đó chứ không phải chỉ giới hạn ở người cùng giao dịch

c, Ý nghĩa:

Thứ nhất, CISG trở thành nguồn luật trong nước của rất nhiều quốc gia

Thứ hai, CISG được đánh giá là góp phần cho các nguyên tắc UNIDROIT hay các nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu ( PECL) Trên cơ sở nền tảng của CISG, Các nguyên tắc này đã trở thành một nguồn luật quốc tế quan trọng, được nhiều quốc gia và doanh nhân sử dụng trong thương mại giao dịch quốc tế

Trang 10

Thứ ba, CISG cũng được khuyến khích áp dụng cho các giao dịch không thuộc khuôn khổ CISG như một Lex Mercatoria Nhiều doanh nhân các nước

đã tự nguyện áp dụng áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình mặc dù các giao dịch này không thuộc phạm vi áp dụng của Công ước

2- Quy định Rome I.

a,Khái quát chung:

Quy định Rome I là văn bản thay thế Công ước Rome 1980 của Cộng đồng châu Âu (EC) về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng Quy định Rome I chính thức được áp dụng từ ngày 17 tháng 12 năm 2009 (trừ Điều 6 được áp dụng từ ngày 17 tháng 6 năm 2009) Quy tắc Rome I được một số học giả trên thế giới đánh giá là một bước tiến trong lĩnh vực chọn luật áp dụng cho hợp đồng của tư pháp quốc tế

Quy định Rome I bao gồm 4 Chương với 29 Điều nêu lên những nguyên tắc chung về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng

b, Nội dung:

Phạm vi áp dụng.

Quy định Rome I được áp dụng trong các trường hợp liên quan đến xung đột pháp luật đối với nghĩa vụ hợp đồng về các vấn đề dân sự và thương mại, trừ các vấn đề về thuế, hải quan và hành chính.6

-Quy định Rome I cũng liệt kê một loạt các lĩnh vực không thuộc phạm vi điều chỉnh của nó như sau:

o Vấn đề liên quan đến năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cá nhân;

o Nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hôn nhân gia đình, bao gồm cả quan hệ cấp dưỡng;

o Nghĩa vụ phát sinh từ chế độ tài sản vợ chồng; di chúc và thừa kế;

6 Paragraph 1 Article 1 Rome I.

Trang 11

o Nghĩa vụ phát sinh từ việc thanh toán bằng hối phiếu, séc, giấy hẹn trả

nợ, hay các hình thức khác…

o Thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận về việc chọn tòa án;

o Quy chế pháp lý thành lập, đăng kí, mua bán, sáp nhập công ty;

o Vấn đề về mối quan hệ giữa công ty, đại lý của nó với bên thứ ba;

o Thiết lập sự ủy thác và mối quan hệ giữa người chuyển nhượng gia tài, người được ủy thác trông nom và người được hưởng gia tài 7

Nguyên tắc chọn luật áp dụng.

Tôn trọng sự tự do ý chí của các chủ thể hợp đồng.

Nguyên tắc tự do hợp đồng là nguyên tắc căn bản khi các bên thiết lập hợp đồng Tôn trọng nguyên tắc này, Quy định Rome I quy định ngay từ đầu:

hợp đồng được điều chỉnh bởi luật do các bên lựa chọn 8

Đây là nguyên tắc quan trọng và thống nhất với pháp luật quốc tế về hợp đồng

Luật được chọn không bắt buộc chỉ phải là luật của các nước thành viên Liên minh châu Âu.

Quy định Rome I đề cập đến vấn đề này tại Điều 2 với tiêu đề bao trùm

là “áp dụng phổ biến” (universal application) như sau: “Bất cứ luật được chỉ

định bởi Quy định này sẽ được áp dụng cho dù đó có phải là luật của nước thành viên hay không”.9 Như vậy, luật được lựa chọn không giới hạn chỉ là luật của nước thành viên Liên minh châu Âu

Đây cũng là một quy định theo tinh thần tôn trọng nguyên tắc tự do ý chí của các bên chủ thể hợp đồng, mặt khác đây cũng là một quy định rất linh hoạt tạo điều kiện cho các giao kết hợp đồng, bởi vì các hợp đồng được giao kết không chỉ trong phạm vi liên minh châu Âu

Chọn luật cho toàn bộ hoặc cho từng phần của hợp đồng.

7 Paragraph 2 Article 1 Rome I.

8 Paragraph 1 Article 3 Rome I.

9 Article 2 Rome I.

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w