1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số lý luận và thực tiễn tuyển dụng công chức

18 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 155 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chung về cán bộ, công chức Trong mỗi giai đoạn khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ những người làm việc trong biên chế và

Trang 1

A- MỞ ĐẦU

Ngay từ thời phong kiến các nhà nước phong kiến Việt Nam rất đề cao nhân tài, chú trọng khâu tuyển dụng nhân tài, bởi “xem xét cái mực hơn kém của nhân vật, quan

hệ đến cơ an nguy của nước nhà” Chính vì vậy các triều đại phong kiến tuy lúc thịnh,lúc suy nhưng đều chú trọng đến khâu tuyển chọn quan lại, những tiêu chuẩn về phẩm hạnh ,đạo đức của người làm quan được đặt lên hàng đầu, kẻ làm quan phải là người quân tử,phải”trung với vua,hiếu với nước”,phải coi “công việc quôc gia là công việc của mình, lấy điều lo của dân,làm điều lo thiết kỉ”

Tuyển dụng công chức ngày nay thực chất là tuyển chọn từ nguồn nhân lực xã hội những người đáp ứng được yêu cầu của ngạch sử dụng bổ sung cho nguồn nhân lực của cơ quan,tổ chức có nhu cầu Vì vậy, khi tuyển dụng công chức cần phải đảm bảo tuyển chọn được những người có khả năng đảm trách được các công việc của cơ quan trong hiện tại cũng như khả năng phát triển cùng với sự phát triển của cơ quan, tổ chức

Tuy nhiên,việc tuyển dụng công chức từ lý luận đến thực tiễn bên cạnh những

ưu điểm vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế.Vì thế tuyển dụng công chức vẫn là nỗi lo

của nhiều bạn trẻ Chính vì thế, em xin chọn đề tài : “Một số lý luận và thực tiễn tuyển dụng công chức”.

B- NỘI DUNG

I Khái niệm chung về cán bộ, công chức

Trong mỗi giai đoạn khác nhau, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ những người làm việc trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1 Theo Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 thì Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và bao gồm 8 đối tượng sau:

a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện)

Trang 2

b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện

c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện

d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân; e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong

cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;

g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung

là cấp xã);

h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp

vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã

2 Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật

II Một số vấn đề lý luận về tuyển dụng công chức.

1 Điều kiện tuyển dụng:

Những điều kiện tuyển dụng một công dân vào hàng ngũ công chức được phân

ra thành hai phần: những điều kiện chung và những điều kiện riêng

Trang 3

Những điều kiện chung là những điều kiện bắt buộc được áp dụng chung cho

mọi công dân khi tuyển vào cơ quan nhà nước Nghị định 117 điều chỉnh vấn đề này tại điều 5:

“1 Người đăng kí dự tuyển vào công chức phải đảm bảo những điều kiện sau đây:

a) Là công dân Việt Nam Có địa chỉ thường trú tại Việt Nam

b) Tuổi của người dự tuyển từ đủ 18 tuổi đến dưới 40 tuổi.Trường hợp

người dự tuyển là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước thì tuổi dự tuyển có thể cao hơn nhưng không quá 45 tuổi

c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển;

d) Đủ sức khỏe để đảm nhận nhiệm vụ,công vụ

đ) Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, quản chế, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục

2 Những người dự tuyển vào công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 của pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003 phải qua thực hiện chế độ công chức dự bị

3.Ngoài những điều quy định tại khoản 1 điều này, căn cứ vào tính chất, đặc điểm chuyên môn nghiệp vụ của ngạch tuyển dụng có thể bổ sung thêm một số điều kiện đối với người dự tuyển.”

Những điều kiện riêng được áp dụng để tuyển dụng những chức danh cụ thể,

nhằm đảm bảo chuyên môn và tiêu chuẩn hóa chức danh, đó là thời gian, cônh tác, tuổi, trình độ và năng lực, kinh nghiệm chuyên môn, học vấn…Trong thời đại mở cửa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cách mạng công nghệ thông tin thì trình độ ngoại ngữ và kiến thức tin học là bộ phận kiến thức hầu như là bắt buộc, đặc biệt đối với những cán bộ,công chức trẻ Một số ngành nghề còn đòi hỏi cả về ngoại hình và giọng nói

Trang 4

v v Những quy định riêng này được áp dụng trong các ngành kinh tế quốc dân cụ thể,

và do những cơ quan quản lý ngành đó quy định

2 Hình thức tuyển dụng

Việc tuyển dụng công chức, viên chức trước đây được thực hiện dưới 3 hình thức bầu, xét tuyển,thi tuyển Nay chỉ còn hai hình thức là thi tuyển và xét tuyển Điều

23 Pháp lệnh sửa đổi 2003 quy định chung về căn cứ tuyển dụng, tiêu chuẩn, hình thức tuyển dụng và chề độ công chức dự bị như sau:

“1 Khi tuyển dụng cán bộ, công chức quy định tại điểm b, c, d, e và h khoản 1 điều 1 của Pháp lệnh này, cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác của chức danh, cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế được giao

2.Khi tuyển dụng cán bộ,công chức quy định tai điểm d khoản 1 Điều 1 của pháp lệnh này, đơn vị sự nghiệp phải căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế và nguồn tài chính của đơn vị Việc tuyển dụng được thực hiện theo hình thức hợp đồng làm việc

3 Người được tuyển dụng làm cán bộ, công chức quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều 1 của pháp lệnh này phải thực hiện chế độ công chức dự bị

4 Người được tuyển dụng phải có phẩm chất đạo đức, đủ tiêu chuẩn và thông qua thi tuyển; đối với việc tuyển dụng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc để đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở vùng dân tộc ít người thì có thể thực hiện thông qua xét tuyển

Chính phủ quy định cụ thể chế độ thi tuyển và xét tuyển”

** Hình thức tuyển dụng:

a) Thi tuyển là hình thức phổ biến đóng vai trò rất quan trọng để thiết lập đội ngũ công chức Thực chất đây là hình thức để tuyển công chức mới Nghị định số 117/2003/NĐ-chính phủ quy định các yêu cầu về nội dung và thủ tục tổ chức thi tuyển, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng tuyển dụng, cách tính điểm trong thi tuyển, nguyên tắc xác định người trúng tuyển và các vấn đề khác có liên quan đến tuyển dụng công chức

Trang 5

Tất cả những quy định nêu là khung pháp lý mà khi thi tuyển công chức các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuân theo, nhưng tất nhiên các quy định này cũng hoàn toàn không phải là những bảo đảm đầy đủ, chắc chắn cho việc tuyển dụng công chức một cách khách quan, khoa học, mà còn tuỳ thuộc vào việc tổ chức thi tuyển, hình thức thi tuyển bởi từng nghề có những yêu cầu, tiêu chuẩn riêng

Đây là hình thức có nhiều ưu điểm do tính khách quan của nó,đang đóng vai trò rất quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có chuyên môn,tay nghề cao.Tùy theo yêu cầu cụ thể của từng ngành, nghề mà cơ quan tuyển dụng đề ra yêu cầu lựa chọn theo tài năng,trình độ chuyên môn….Trước đây, hình thức này còn được áp dụng rất hạn chế, đặc biệt trong cơ chế quản lí hành chính- mệnh lênh khép kín.Nhưng cùng với quá trình đổi mới theo cơ chế thị trường, dân chủ hóa, hình thức này dần dần được

áp dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực, nhất là vào các ngạch công chức chuyên môn và nghiệp vụ kĩ thuật, không chỉ đối với các cơ quan, tổ chức nghiên cứu và giảng dạy, mà

cả đối với các cơ quan hành chính nhà nước, các công ty, xí nghiệp,văn phòng đại diện,

tư vấn Việt Nam và liên doanh nước ngoài…

b) Xét tuyển là một trong những hình thức tuyển dụng cán bộ, công chức mới được quy định trong pháp luật Việc áp dụng hình thức này là hợp lý trong điều kiện nay ở nước ta

Trong nền kinh tế thị trường con người đều cao lợi ích kinh tế, bị cuốn hút bởi các quy luật của kinh tế thị trường, do vậy sau khi được đào tạo người ta thường đổ xô

về các đô thị lớn để tìm kiếm việc làm, thậm chí làm cả những công việc không liên quan đến chuyên môn đã được đào tạo, miễn là kiếm được một khoản thu nhập nhất định, miễn là khoản thu nhập ấy cao hơn thu nhập của họ nếu họ làm việc ở vùng núi, hải đảo hơn nữa đô thị bao giờ điều kiện sống với đầy đủ ý nghĩa của nó cũng tốt hơn các vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo Để khắc phục tình trạng này và khuyến khích những người lao động có trình độ cao tự nguyện công tác tại vùng sâu, vùng xa, miền núi Điều 8 Nghị định số 117/2003/NĐ - CP đã quy định việc ưu tiên trong việc xét tuyển gồm: Những người cam kết tình nguyện làm việc từ năm năm trở lên ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo được xét tuyển theo thứ tự ưu tiên sau

Trang 6

đây: người dân tộc thiểu số, người cư trú tại nơi tình nguyện làm việc; Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động; thương binh; con liệt sỹ; con thương binh, con bệnh binh; người có học vị tiến sỹ đúng chuyên ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người có học vị thạc sĩ đúng chuyên ngành đào tạo, phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các bậc đào tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã tạo chuyên môn phù hợp với nhu cầu tuyển dụng; người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội viên thanh niên xung phong, đội viên đội trí thức trẻ tình nguyện phục vụ nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ

3 Công chức dự bị và tập sự của công chức trong các cơ quan nhà nước.

Theo Nghị định 115/2003/NĐ-CP của Chính phủ thì “công chức dự bị là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được tuyển dụng để bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, Công chức năm 2003” và làm việc có thời hạn tại: Văn phòng Quốc hội; Văn phòng Chủ tịch nước, TAND các cấp; VKSND các cấp; bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; HĐND, UBND các tỉnh, thành phố thực thuộc T.Ư; UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội UBND xã, phường, thị trấn

Và thời gian tập sự được hiểu là giai đoạn đầu của công chức dự bị

Thời gian tập sự là khoảng thời gian, trong đó người trúng tuyển qua kỳ thi tuyển công chức, đã có quyết định tuyển dụng và xếp theo lương theo đúng tiêu chuẩn ngạch, bậc của công chức nhưng chưa được bổ nhiệm chính thức vào ngạch công chức phải

"học làm việc", đồng thời cũng là khoảng thời gian mà cơ quan nhà nước "dạy học" cho người trúng tuyển và đánh giá toàn diện về năng lực của người được tuyển Giai đoạn này hình thành quan hệ giữa người trúng tuyển và cơ quan sử dụng người trúng tuyển thể hiện qua quy định của pháp luật

- Thời gian tập sự đối với từng loại công chức được quy định tại Điều 16 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP như sau:

Trang 7

+ 12 tháng đối với ngạch chuyên viên và tương đương;

+ 06 tháng đối với ngạch cán sự và tương đương;

+ 03 tháng đối với ngạch chuyên viên và thị tương đương;

Trong thời gian tập sự, cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm cử một công chức cùng ngạch, có năng lực và kinh nghiệm trực tiếp hướng dẫn Thời gian này, người tập sự được hưởng 85% hệ số lương khởi điểm của ngạch được tuyển dụng và các quyền lợi khác như công chức trong cơ quan Người được tuyển dụng làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo hoặc làm việc trong các ngành nghề độc hại, nguy hiểm, thì trong thời gian tập sự được hưởng 100% hệ số lương khởi điểm của ngạch được tuyển và được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định chung

Thời gian tập sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với người đã trúng tuyển qua kỳ thi tuyển công chức cũng như đối với cơ quan tuyển công chức Đây là khoảng thời gian để "người công chức trẻ" học các kỹ năng, kiến thức chuyên môn, kiểm nghiệm lại những kiến thức đã tiếp thu trong nhà trường cũng là thời gian để cơ quan sử dụng công chức có điều kiện đánh giá đúng khả năng thực tế của người đã trúng tuyển Điều đặc biệt quan trọng là người mới được tuyển phải làm việc trong một môi trường mới, phải giao tiếp với những người xa lạ, đồng thời cũng là thời gian để người đó thể hiện năng lực của mình qua công việc, tìm hiểu giá trị nơi mình làm việc và cũng bắt đầu thể hiện giá trị của bản thân

4 Nguyên tắc tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là một hoạt động của quản lý hành chính nhà nước.Vì thế việc tuyển dụng phải được tuân thủ theo quy định của pháp luật và phải được tuân theo một số nguyên tắc sau:

Nguyên tắc bình đẳng: Đây là nguyên tắc xuất phát từ Hiến pháp quy định

những quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền được tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.Ở đây nói về việc mọi công dân đều bình đẳng trong việc tham gia vào các hoạt động tuyển dụng công chức.Nguyên tắc trên căn bản bảo đảm bình đẳng về giới, về giai cấp, về tôn giáo, dân tộc và mức độ thu nhập…

Trang 8

Dựa trên nguyên tắc bình đẳng, Chính phủ ban hành những điều kiện pháp lý cụ thể, nhưng hướng chủ yếu vào những tiêu chuẩn khách quan do công vụ đòi hỏi, nhưng không vi phạm quyền bình đẳng được Hiến pháp thừa nhận

Trên thực tế,do những yếu tố chi phối như tâm lý trọng nam khinh nữ nên có nơi này, nơi kia còn có những quy định “bất thành văn” hạn chế tuyển dụng cán bộ nữ

Nguyên tắc khách quan: Nguyên tắc khách quan đòi hỏi cơ quan tuyển dụng

phải căn cứ vào những yêu cầu khách quan để tuyển dụng và lựa chọn.Đó là nhu cầu thực tế của công việc, là hệ thống quy định pháp luật do Nhà nước ban hành.Nguyên tắc khách quan không chấp nhận việc tuyển dụng bị chi phối bởi những thái độ chủ quan như: cố tình tuyển dụng số lượng công chức vượt quá tiêu chuẩn biên chế, lựa chọn thí sinh căn cứ vào những quan hệ chủ quan như chọn người nhà, chọn người “ăn cánh”, người “hiền”.Đáng tiếc nhất là trong việc vi phạm nguyên tắc khách quan là những quan hệ tiêu cực, hối lộ trong tuyển dụng

Khi những yếu tố chủ quan vi phạm,lấn át những quy định pháp lý,thì nguyên tắc khách quan không được tôn trọng Nghĩa là cơ quan,người có trách nhiệm đã bỏ qua, bất chấp những đòi hỏi của công việc, của sự nghiệp cải cách để phục vụ những mục đích vụ lợi,cục bộ

Nguyên tắc này còn được bổ sung bằng hai nội dung chi tiết là vô tư và công bằng

5.Vai trò của tuyển dụng công chức.

Mục đích của việc thi tuyển là để chọn nhân tài, xoá bỏ chế độ dùng tiền, dùng quyền để mua bán văn bằng, tước vị.Việt Nam là nước có một số lượng lớn lao động và việc thi tuyển,xét tuyển sẽ giúp lựa chọn những người có năng lực để hoàn thành tốt công việc cũng như tránh được tình trạng sử dụng nhầm những người không có năng lực

Tuyển dụng công chức phải căn cứ vào nhu cầu thực tế- thiếu công chức nào, thi tuyển đúng chuyên môn,trình độ.Có thể cao hơn, nhưng tối kị lấy thấp hơn.Như vậy,tuyển dụng không những là để bổ sung cho việc “thiếu” mà còn đáp ứng sự “cần” của công việc

Trang 9

Việc tuyển dụng công chức sẽ giúp tránh được những hậu quả như: đủ biên chế mà vẫn thiếu người làm việc,có người chơi mà không có người làm; việc đang một người làm lại phân ra cho ba,bốn người làm.Không những thế cũng tránh được việc có sự tị nạnh,nhòm ngó lẫn nhau trong công vụ khá phổ biến ở những cơ quan bất cập về cơ cấu hiện nay

III) Thực tiễn tuyển dụng công chức hiện nay.

Theo ông Trần Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Công chức - Viên chức (Bộ Nội vụ), mỗi năm ở nước ta có 1,5 triệu người đến độ tuổi lao động Hiện nay các đơn vị tuyển dụng của Nhà nước đang quá tải do có quá nhiều người muốn vào vì ở khu vực này, người ta nghĩ rằng công việc sẽ ổn định hơn dù thu nhập không cao Vì thế dẫn đến công tác tuyển dụng rất khó khăn và đây cũng là một phần gây ra những tiêu cực Tuy

từ trước tới nay, các quy định của Nhà nước trong vấn đề tuyển dụng đều khá rõ ràng, đầy đủ và công khai, nhưng ở đâu đó vẫn có những hiện tượng tiêu cực như báo phản ánh Dù sao đó cũng chỉ là hiện tượng chứ không phải bản chất và nó không diễn ra một cách công khai, nguyên nhân vẫn là do sự chênh lệch giữa cung và cầu

1 Nhà nước ban hành thêm một số nghị định thông tư mới.

Trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Nôị vụ Việt Nam năm 2003, 2004 đã ban hành các Nghị định, Thông

tư nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh:

Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành Nghị định số: 117/2003/NĐ-CP, ngày 10 - 10 - 2003, về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ,công chức trong các cơ quan Nhà nước; và Nghị định số: 116/2003/NĐ-CP, ngày

10 - 10 - 2003, về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn

vị sự nghiệp của Nhà nước;

Bộ nội vụ ban hành Thông tư số: 09/2004/TT-BNV, ngày 19 - 02 - 2004, Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 - 10 -

2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ,công chức trong các cơ quan Nhà nước; và Thông tư số: 10/2004/TT-BNV, ngày 19 -02 - 2004 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 - 10 - 2003 của Chính

Trang 10

phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước

Ngoài ra Ngày 15/01/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

09/2007/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 117/2003/NĐ-09/2007/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng

và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước

2.Nhà nước đã có những đổi mới trong luật cán bộ công chức.

Ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ,công chức (CBCC) thay thế Pháp lệnh CBCC nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với xu hướng chuyển đổi sang nền hành chính phục vụ, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế Luật CBCC được ban hành với các quan điểm chỉ đạo là: thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách chế độ công chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

Về tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch: cùng với việc giao thẩm quyền tuyển dụng cho các bộ, ngành và địa phương, Luật bổ sung quy định các bộ, ngành và địa phương

có trách nhiệm thực hiện việc phân cấp tuyển dụng công chức cho các cơ quan thuộc quyền quản lý Bước đầu gắn dần thẩm quyền sử dụng với thẩm quyền tuyển dụng, khắc phục tình trạng người được giao quyền tuyển dụng không được giao quyền sử dụng; người được giao sử dụng thì lại không được giao quyền tuyển dụng; qua đó nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, lựa chọn được đúng người có đủ năng lực, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu công việc.Việc nâng ngạch phải qua kỳ thi và thực hiện theo nguyên tắc cạnh tranh để lựa chọn người giỏi hơn; không hạn chế số người đăng ký, không quy định thâm niên giữ ngạch và hệ số lương… Tuy nhiên, chỉ tiêu dự thi được xác định trên cơ sở nhu cầu vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức Theo nguyên tắc cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền sẽ chỉ bổ nhiệm vào ngạch dự thi số người bằng đúng số vị trí còn thiếu trong số những người đạt yêu cầu, theo nguyên tắc chọn người

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w