1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong TTHS và việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữ

19 610 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 145,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài việc quy định cho người vị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự còn quy định cho họ được nhờ người khác bào chữa cho mình.. Hiện nay trong tố tụng

Trang 1

Đề 3: Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong TTHS và việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

MỤC LỤC

I – ĐẶT VẤN ĐỀ

II – NỘI DUNG

1 Khái quát chung

2 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của BLTTHS

a Quyền của người bào chữa

b Nghĩa vụ của người bào chữa

3 Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện pháp luật

a Về quyền của người bào chữa

b Về nghĩa vụ của người bào chữa

c Một số giải pháp khác

III – KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

I – ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Ngoài việc quy định cho người vị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, Bộ luật tố tụng hình

sự còn quy định cho họ được nhờ người khác bào chữa cho mình Hiện nay trong tố tụng hình sự vai trò của người bào chữa ngày càng được thể hiện rõ ràng tại các phiên tòa và trong các giai đoạn tiến hành tố tụng khác.Quy định về người bào chữa trong tố tụng hình sự đã có từ rất lâu trên thế giới.Tuy nhiên ở nước ta vai trò của người bào chữa chỉ được nâng cao từ sau cải cách tư pháp, tạo cơ sở cho việc nâng cao công tác bảo vệ quyền và lợi lích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo.Mặc dù vậy những quy định về người bào chữa vẫn còn có những điểm chưa hợp lí Vậy, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định ra sao? Liệu đã hoàn thiện và hợp lý chưa?

II – NỘI DUNG

1 Khái quát chung

Người bào chữa có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có nguy cơ bị buộc tội Do vậy, pháp luật cảu hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận việc tham gia tố tụng của người bào chữa Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS Việt Nam năm 2003 thì người bào chữa

có thể là: “luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị

cáo; bào chữa viên nhân dân.” Từ quy định này, có thể thấy ở Việt Nam hiện

nay pháp luật vẫn chưa quy định khái niệm cụ thể thế nào là người bào chữa Tuy nhiên có thể hiểu rằng, người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cá vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị

Trang 3

cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Cụ thể hơn thì:

- Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đó theo quy định của pháp luật

- Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ bị can , bị cáo là cha mẹ hoặc người giám

hộ của người bị tạm giam ,bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần

- Bào chữa viên nhân dân: Bào chữa viên nhân dân có thể là người được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo

Tuy là các chủ thể khác nhau tham gia vào vai trò của người bào chữa nhưng quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trên là giống nhau theo quy định của pháp luật

Ngoài ra luật còn quy định về những người không được bào chữa theo khoản 2 Điều 56 BLTTHS :

“ 2.Những người sau đây không được bào chữa:

a Những người tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân tích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng.

b Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch.”

Việc những người trên tham gia bào chữa có thể gây ảnh hưởng đến khách quan trong việc giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng là người thân thích của họ và họ còn có nghĩa vụ trụng thực không chỉ theo hướng gỡ tội cho bị can,

bị cáo.Vì vậy, họ không thể đồng thời là người bào chữa trong cùng một vụ án

Trang 4

2 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của BLTTHS

a Quyền của người bào chữa

Quyền của người bào chữa được quy định tại khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003.Trong có gồm những quyền sau:

- Người bào chữa có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi

cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và

có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa.

Người bào chữa tham gia vào công tác lấy lời khai giúp người bị tạm giữ

ổn định về mặt tâm lí Đồng thời cũng góp phần ngăn ngừa được vi phạm pháp luật có thể xuất hiện từ phía các cán bộ điều tra như hạn chế các quyền của họ,

có hành vi bức cung, dùng nhục hình Tạo áp lực cho những người tiến hành hoạt động điều tra phải cẩn thận hơn.Mặt khác việc này cũng giúp người bào chữa nắm rõ những chứng cứ, bám sát được vụ án, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tranh tụng tại phiên tòa

- Đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung để

có mặt khi hỏi cung bị can.

Đây là một quy định mới của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm

1968 Quy định này giúp cho người bào chữa chủ động về thời gian để có thể tham dự cuộc hỏi cung, kịp thời tìm hiểu nắm bắt nội dung của vụ án ngay từ đầu Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc bào chữa

- Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng , người giám định ,người phiên

dịch theo những quy định của luật tố tụng hình sự 2003.

Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch khi có đủ căn cứ theo luật định và xét thấy những người này tiến hành hoặc tham gia ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích

Trang 5

của người mà mình bào chữa Việc quy định mở rộng quyền này cho người bào chữa góp phần đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án được vô tư, khách quan, đảm bảo cho những quyết định có liên quan đến lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được công bằng và chính xác

- Có quyền thu thập tài liệu chứng cứ liên quan tới công tác bào chữa cho

bị can, bị cáo Chứng cứ có thể thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, trừ trường hợp các tài liệu đó là bí mật nhà nước.

Người bào chữa là người tham gia tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo Vì vậy, việc người bào chữa thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa không phải là hoạt động tố tụng, không

có giá trị bắt buộc những người, tổ chức, cơ quan được yêu cầu cung cấp tài liệu, đồ vật hay những tình tiết liên quan đến việc bào chữa Các cá nhân, cơ quan, tổ chức cungc ấp tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến bào chữa là hoàn toàn tự nguyện Đây là biện pháp nghiệp vụ cần thiết để người bào chữa có tài liệu, chứng cứ để thực hiện nhiệm vụ bào chữa có hiệu quả

- Có quyền đưa ra tài liệu , đồ vật hoặc yêu cầu

Người bào chữa cũng được quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định… nếu xét thầy điều đó là cần thiêt svà có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Những yêu cầu này một mặt nhằm bảo vệ quyền hợp pháp của người bị tạm giữ, bị cam, bị cáo, đồng thời giúp cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án làm sáng tỏ sự thật của vụ án

- Có quyền gặp người bị tạm giam ,bị can, bị cáo trong trại tạm giam

Qua những buổi tiếp xúc trực tiếp mà người bào chữa có thể nắm bắt được những tình tiết vụ việc Thu thập được những chứng cớ có lợi trong công tác gỡ tội cho người phạm tội Ngoài ra người bào chừa cũng góp phần phố biến pháp luật tới người có hành vi phạm tội giúp họ hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng, để bị cáo thành khẩn khai báo để có thể được giảm trách nhiệm hình sự

Trang 6

- Tham gia thu thập chứng cứ tài liệu, đọc ghi chép hồ sơ vụ án liên quan

tới công tác bào chữa.

Qua việc đọc hồ sơ, người bào chữa sẽ nắm toàn bộ nội dung vụ án, nắm được những chứng cứ buộc tội, cũng như những chứng cứ gỡ tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với người mà họ đảm nhận việc bào chữa Bên cạnh đó, người bào chữa cũng có điều kiện phát hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra, trên cơ sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết với cơ quan có thẩm quyền

- Tham gia xét hỏi, trình bày lời bào chữa tranh luận tại phiên tòa

Trong suốt quá trình tham gia tố tụng của người bào chữa thì có thể nói giai đoạn tranh luận , bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa lá quan trọng nhất Trong giai đoạn này người bào chữa thể hiện rất rõ vai trò của mình trong việc đưa ra những luận điểm nhằm gỡ tội cho bị cào, đưa ra những lí lẽ, lập luận của mình

để bác bỏ những lời buộc tội của bị cáo theo quy định của pháp luật

- Khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng sai trái của những người tiến

hành tố tụng

Pháp luật quy định cho người bào chữa có quyền này nhằm đảm bảo cho hoạt động tố tụng luôn mang tính khách quan và toàn diện, tránh được những oan sai ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội Bên cạnh đó, việc quy định người bào chữa có quyền này nhằm đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong tố tụng hình sự

- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này

Đây là quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo Tất nhiên, kháng cáo đó phải theo hướng có lợi cho bị cáo đúng như nhiệm vụ bào chữa của họ tại phiên tòa

Trang 7

b Nghĩa vụ của người bào chữa

Nghĩa vụ của người bào chữa được quy định trong khoản 3 Điều 58 Bộ luật

tố tụng hình sự 2003 Trong đó bao gồm những nghĩa vụ sau đây :

- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng rõ những tình tiết để nhằm giảm tránh nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo

Trong phạm vi pháp luật cho phép, người bào chữa có nghĩa vụ thực hiện các hành vi tố tụng khác nhau để bào chữa hiệu quả cho người bị buộc tội Người bào chữa không được làm bất cứ việc gì xấu đi tình trạng của người bị buộc tội

- Giúp người bị tạm giam, bị can, bị cáo, về mặt pháp lí nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi và nghĩa vụ của họ.

Không phải bất kỳ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nào cũng có kiến thức về pháp luật Trong những trường hợp này, người bào chữa có vai trò rất quan trọng, không chỉ là người tư vấn, giúp đỡ về mặt pháp lý mà họ còn là nguồn động viên giúp cho những người này có tâm lý ổn định, nhận thức được hành vi của mình Từ đó có thái độ ăn năn, hối hận và tin tưởng và sự khoan hồng của pháp luật

- Không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo mà mình nhận bào chữa nếu không có lí do chính đáng.

Quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Bởi

vì người bào chữa là người có thể tham gia suốt quay trình giải quyết vụ án, họ

là người nắm bắt được các chứng cứ, tình tiết của vụ án, nếu từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ làm quá trình thu thập chứng cứ bị gián đoạn gây ảnh hưởng quyền lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như gây ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án

- Hoạt động bào chữa phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng sự thật, tôn trọng pháp luật, không được mua chuộc, cưỡng ép hay xúi dục người khác khai báo gian dối hay cung cấp chứng cứ sai sự thật.

Trang 8

Người bào chữa là những người có kiến thức và hiểu biết về pháp luật Vì vậy, khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì trước hết họ phải tôn trọng sự thật và pháp luật, sử dụng pháp luật làm phương tiện để thực hiện mục đích bào chữa, không được sử dụng các biện pháp trái pháp luật trong khi bào chữa

- Có mặt theo giấy triệu tập của tòa án.

Mọi sự chuẩn bị của người bào chữa là nhằm bào chữa cho bị cáo trước tòa

Sự giúp đỡ và bảo vệ của người bào chữa tại phiên tòa là không thể thiếu được với bị cáo Tại phiên tòa, trong quá trình xét hỏi, tranh luận, người bào chữa có thể phát hiện hoặc cung cấp thêm những tình tiết mới có lợi cho bị cáo, nếu họ vắng mặt thì đây có thể coi là một bất lợi cho bị cáo mặc dù có thể họ đã gửi trước bản bào chữa cho Tòa án

- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết đượ khi thực hiện việc bào chữa; không sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền , lợi ích hợp pháp cảu cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Nhằm đảm bảo những bí mật thuộc về nội dung vụ án được xác định trong quá trình điều tra nói riêng và quá trình giải quyết vụ án nói chung Quy định nghĩa vụ này cho người bào chữa là cần thiết trong việc bảo vệ bí mật quốc gia

và lợi ích chung toàn xã hội

3 Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện pháp luật

a Về quyền của người bào chữa

Hiện nay Bị cáo phản cung với lý do bị bức cung, ép mớm, nhục hình… là vấn đề rất bức xúc trong các phiên tòa ở Việt Nam , làm giảm uy tín của cơ quan điều tra, truy tố Chủ tọa cắt không cho họ nói thì bị xem là mất dân chủ, không khách quan… Sở dĩ có tình trạng trên một phần là do Bộ luật tố tụng chưa có quy định cơ chế cứng tạo điều kiện cho luật sư tham gia từ giai đoạn điều tra, có

Trang 9

mặt tại các buổi hỏi cung bị can Hầu hết quá trình điều tra luật sư chỉ được tham gia một vài buổi lấy lệ, đa số các buổi hỏi cung khác không có mặt luật sư

Về nguyên tắc, khi luật sư tham gia đã được cấp giấy chứng nhận người bào chữa và có văn bản đề nghị được tham gia tất cả các buổi hỏi cung và các hoạt động điều tra khác thì những hoạt động này bắt buộc phải có luật sư mới có giá trị pháp lý Nhưng thực tế Bộ luật TTHS hiện hành có quy định rất mâu thuẫn và tạo ra những rào cản Ví dụ: Luật sư muốn hỏi bị can phải được điều tra viên đồng ý Phiên tòa xét xử trẻ vị thành niên không có luật sư bào chữa thì phải hoãn, bản án tuyên trong điều kiện đó thì phải hủy, nhưng bản cung buộc tội ghi lời khai của bị can vị thành niên vắng mặt luật sư (mặc dù Điều 305 BLTTHS quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định luật sư) nhưng họ không thực hiện hoặc tìm cách bảo bị can viết đơn từ chối luật sư trong khi họ chưa hề thực hiện Điều luật là chỉ định luật sư thì bản cung lại được chấp nhận là hợp pháp, Bản kết luận điều tra và Bản cáo trạng vẫn có giá trị pháp lý buộc tội Đây là lỗ hổng lớn mà lần sửa đổi BLTTHS tới đây phải đặc biệt quan tâm, giải quyết thấu đáo

Để khắc phục, luật cần chi tiết theo hướng ngoài điểm điều luật đã quy định điều tra viên thông báo cho luật sư thời gian, địa điểm hỏi cung bị can; cách thức trao đổi, liên hệ để thông báo với luật sư, những nguyên tắc và trách nhiệm bảo mật thông tin điều tra Khi tham gia hỏi cung, luật sư được hỏi sau mỗi vấn đề, nội dung điều tra viên hỏi Luật sư có quyền giải thích pháp luật cho bị can về quyền trả lời hoặc không trả lời vấn đề điều tra viên hỏi Luật sư có quyền phản đối câu hỏi mớm cung, bức cung của điều tra viên; xem xét và có ý kiến về nội dung biên bản hỏi cung có đúng nội dung trả lời của bị can hay không; xác định tình trạng sức khỏe và tâm thần của bị can khi hỏi cung Điểm e khoản 2 Điều

58 cần bổ sung theo tinh thần: luật sư có quyền gặp riêng làm việc với người bị tạm giữ,bị can, bị cáo khi cần thiết trong trường hợp đặc biệt, một số tội cụ thể luật sư có quyền làm việc với bị can trong tầm nhìn nhưng không trong tầm nghe của cán bộ tố tụng Không bị hạn chế về số lượng lần gặp và thời gian gặp

Trang 10

chứ không phải quy định chung chung là được gặp để tránh những sự gây khó khăn từ phía cơ quan và người thi hành tố tụng chỉ cho gặp một cách hình thức

và hạn chế thời gian được gặp

Cần bổ sung quy định lời khai của bị can trong quá trình điều tra, truy tố

mà không có sự tham gia của luật sư thì không được công nhận là chứng cứ Sự

bổ sung này hoàn toàn khả thi trong điều kiện hiện nay của nước ta Ở những nước có nền dân chủ tư pháp phát triển, bị can, bị cáo có quyền từ chối cung khai nếu vắng mặt luật sư Sự có mặt của luật sư trong các buổi lấy cung có 2 ý nghĩa: giám sát, không để xảy ra việc mớm cung, bức cung, nhục hình; và không

để xảy ra tình trạng phản cung, bác lời khai tại cơ quan điều tra, viện kiểm sát bởi việc lấy cung đã có người thứ ba chứng kiến

Để quy định về nghĩa vụ của người bào chữa hoàn chỉnh hơn, cần bổ sung vào khoản 4 của Điều 58 cụm từ “nếu tiết lộ bí mật điều tra và” vào sau cụm từ

“người bào chữa” nhằm đảm bảo cho việc giữ bí mật điều tra mà người bào chữa biết được khi tham gia tố tụng Điều này dẫn tới tính khả thi của sự cho phép người bào chữa tham gia sớm hơn trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án đặc biệt nghiêm trọng Nếu vẫn quy định chung chung là không được tiết lộ bí mật điều tra mà không kèm theo quy định khả năng áp dụng chế tài nếu có sự vi phạm thì cơ quan điều tra e ngại và cho việc giữ bí mật điều tra

là cái cớ để không tạo điều kiện luật sư tham gia làm cho quy định đó thiếu tính khả thi Luật không qui định cụ thể cơ quan tố tụng phải chịu chế tài thế nào nếu không tạo điều kiện cho luật sư hành nghề nên nhiều quyền của người bào chữa không được thực hiện và hầu như bị vi phạm Luật cần quy định các chế tài cụ thể đối với các hành vi cản trở của Điều tra viên cũng như cơ quan điều tra đối với sự tham gia của luật sư

Đã có rất nhiều ý kiến cần phải mở rộng quyền của người bào chữa hơn nữa.Tuy nhiên còn có nhiều ý kiến cho rằng, việc mở rộng các quyền của người bào chữa sẽ gây nhiều “khó khăn” cho các cơ quan tiến hành tố tụng? Có lẽ điều

đó chỉ đúng một phần nhỏ khi ở phương diện là người tiến hành tố tụng năng lực

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w