1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án

20 375 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xét xử sơ thẩm, không những giúp ta thấy được quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế định này

Trang 1

Lời mở đầu

Thẩm quyền của Tòa án theo nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem xét

và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Khi xét xử, Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bản án của Tòa án cụ thể hóa đường lối, chính sách, quan điểm của Nhà nước đối với việc xử lý người phạm tội

Do đó thẩm quyền của tòa án là một trong chế định quan trọng trong tố tụng hình

sự Thẩm quyền càng phân định rõ ràng và khoa học thì có tính chất khả thi và kết quả xét xử của Tòa án càng khả quan và chính xác

Muốn xây dựng thẩm quyền của Tòa án trước hết phải xây dựng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở để xây dựng thẩm quyền của tòa án các cấp Cho nên, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xét xử sơ thẩm, không những giúp ta thấy được quá trình hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế định này theo tiến trình phát triển của ngành luật tố tụng hình sự mà còn có ý nghĩa quan trọng để tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án

Trang 2

I Khái quát chung về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án.

1 Khái niệm Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án.

Quá trình tiến hành giải quyết một vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó có thể nói việc xét xử vụ án hình sự đóng vai trò quan trọng

Xét xử sơ thẩm là giai đoạn đầu tiên của xét xử Theo từ điển Luật học: “Xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật”.

Quy định thẩm quyền xét xử của các Tòa án trong lĩnh vực hình sự ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: hệ thống pháp luật, cách thức tổ chức của các cơ quan tư pháp, trình độ năng lực thẩm phán, điều kiện xét xử mà quy định về thẩm quyền cũng khác nhau

Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự, Đại học Luật Hà Nội, thẩm quyền xét

xử sơ thẩm của Tòa án bao gồm thẩm quyền về mặt hình thức và thẩm quyền về mặt nội dung Trong giới hạn của bài viết em xin đi sâu vào thẩm quyền về mặt

hình thức Theo đó: “Thẩm quyền xét xử vụ án sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật”

2 Căn cứ xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Toàn án

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một nội dung quan trọng trọng giai đoạn xét xử sơ thẩm, là giai đoạn mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật Với tầm quan trọng và ý nghĩa của việc xét xử sơ thẩm như vậy nên việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án phải dựa vào những căn cứ nhất định:

Thứ nhất, căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng Vấn đề quy định về

việc xác định thẩm quyền xét xử vụ án hình sự đã được ghi nhận trong một số văn bản pháp luật Nhưng chỉ đến BLTTHS 1988 thì vấn đề này mới được quy định một cách khá cụ thể Tuy nhiên, sau một thời gian được áp dụng, quy định này đã bộc lộ những hạn chế, gây ra những hậu quả nhất định Bởi vậy, Đảng ta đã có những chủ trương, chính sách cụ thể định hướng vấn đề này Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương (BCHTW) Đảng khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, lần thứ 7 BCHTW Đảng khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9,… đã định hướng một cách cơ bản đối với vấn đề xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án Đó là việc phân định thẩm quyền xét xử cho TAND cấp huyện, quận theo hướng xét xử sơ thẩm là chủ

Trang 3

yếu, Tòa án cấp tỉnh chủ yêu xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm, Tổng kết kinh nghiệm xét xử

Thứ hai, căn cứ vào nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Đó là những

phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận Với vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong tố tụng hình sự, các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự tạo điều kiện cho Thẩm phán và Hội thẩm làm việc đúng với quyền hạn, trách nhiệm của mình, tạo môi trường pháp lý ổn định và công bằng giúp việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng đắn, tránh được những oan sai không đáng có

Thứ ba, căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm Tính

chất nghiệm trọng của tội phạm được xem xét ở khả năng điều tra, truy tố, xét xử tội phạm Tính chất phức tạp biểu hiện ở vấn đề chủ thể của tội phạm do người nước ngoài hoặc người giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền nhà nước hoặc các vụ án liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia… Theo đó tùy từng tính chất khác nhau của tội phạm mà việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án là khác nhau Một vụ án mà chủ thể thực hiện tội phạm là người giữ chức vụ chủ chốt trọng bộ máy chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hành vi mà người này thực hiện có những dấu hiệu mang tính chất nghiêm trọng thì không thể giao cho Tòa án cấp huyện thụ lý vụ án đó được

Thứ tư, căn cứ vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người tiến hành

tố tụng Theo quy định của pháp luật hiện hành thì với mỗi cấp xét xử khác nhau

thì đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng khác nhau

Do có sự khác nhau về vấn đề này ở từng cấp xét xử khác nhau nên việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cũng kháu nhau Căn cứ này còn có sự liên quan chặt chẽ với căn cứ tính chất nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm Một vụ án

có mức độ nghiệm trọng, phức tạp lớn thì đương nhiên đòi hỏi trình độ chuyện môn, nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng cũng phải tương xứng

Ngoài ra, việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án còn phải dựa vào một số căn cứ khác Chẳng hạn như: Số lượng cán bộ và cơ sở vật chất của các cơ quan tiến hành tố tụng, tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm

3 Phân loại thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Việc phân loại thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Mỗi cách phân loại đó sẽ xem xét ở một khía cạnh cụ thể về vấn đề này Trong đó, có thể khái quát những khía cạnh, nội dung khác nhau của thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau:

- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc.

Trang 4

- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo đối tượng.

- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ (1)

II Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án theo quy định của pháp luật

1 Thẩm quyền xét xử theo vụ việc

Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa

án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất của tội phạm Cụ thể hơn, vấn đề này được xem xét giữa Tòa án các cấp ở hai nội dung sau:

1.1 Thẩm quyền của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực

Nếu thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực được quy định hợp lý, chặt chẽ thì phần lớn tội phạm được giải quyết ở đây sẽ được xử lý kịp thời, phát huy được tác dụng giáo dục, răn đe và góp phần bảo vệ trật tự xã hội Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự ở nước ta cho thấy, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực ngày càng được mở rộng một cách hợp lý Có thể chứng minh điều này qua sự so sánh giữa các quy định pháp luật ở các thời kỳ khác nhau, trong đó đặc biệt là sự khác biệt giữa BLTTHS năm 1988 và BLTTHS 2003

♦ Quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong BLTTHS năm 1988

Để khắc phục những điểm bất hợp lý trong các văn bản pháp luật trước đó, BLTTHS năm 1988 qua 3 lần sửa đổi, bổ sung đã quy định chặt chẽ và hợp lý hơn

về vấn đề này Theo quy định tại khoản 1 Điều 145 BLTTHS 1988 thì TAND cấp

huyện và TA quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm và BLHS quy định hình phạt từ bảy năm tù trở xuống, trừ những tội sau:

a/ Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b/ Các tội quy định ở các điều 95, 96, khoản 1 Điều 172 và các điều 222, 223,

263, 293, 294, 295, 296 của BLHS.

Mức hình phạt 7 năm tù trở xuống là mức hình phạt do Luật định, mức này có thể quy định ở khung 1 hoặc khung 2 Do đó, nếu BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt trên 7 năm tù thì Tòa án cấp huyện không có thẩm quyền xét

xử dù hình phạt thực tế sẽ tuyên có thể từ 7 năm tù trở xuống Quy định này xác định thẩm quyền của TA cấp huyện một cách cụ thể, rõ ràng, phù hợp với quy định của BLHS

Qua gần 10 năm thực hiện quy định tại Điều 145 BLTTHS 1988 về thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện đã mang lại những kết quả nhất định song vẫn còn một số vấn đề tồn tại trên thực tế Với quy định này, các TAND cấp tỉnh vấn

(1) Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Nhâm Thị Minh Thúy, HS31C.

Trang 5

phải xét xử sơ thẩm khá nhiều loại tội phạm Theo đó, TANDTC vẫn phải xét xử phúc thẩm một khối lượng khá lớn các vụ án mà Tòa án cấp tỉnh đã sở thẩm dẫn đến tình trạng án phúc thẩm bị dồn đọng khá nhiều ở Tòa phúc thẩm TANDTC, làm ảnh hưởng đến công tác tổng kết thực tiễn, hướng dẫn việc xét xử của TANDTC và công tác giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật

Do vậy, BLTTHS năm 2003 được ban hành một lần nữa lại mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện vì những lý do sau:

Thứ nhất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán ở hầu hết Tòa án

cấp huyện ngày càng được nâng cao và có khả năng xét xử được những vụ án mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là 15 năm tù trở xuống

Thứ hai, số lượng biên chế của Tòa án cấp huyện và cơ sở vật chất đã tương

đối ổn định

Thứ ba, việc tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện sẽ tránh được

việc tồn đọng án ở cấp tỉnh, dành thời gian cho Tòa án cấp tỉnh tập trung xét xử phúc thẩm

Thứ tư, việc mở rộng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện tiết kiệm

được thời gian và tránh được việc hoãn phiên tòa vì lý do vắng mặt những người tham gia tố tụng

Thứ năm, việc xét xử ở Tòa án cấp huyện sẽ phát huy được tác dụng giáo

dục

Thứ sáu, việc xét xử ở Tòa án cấp huyện có hiệu quả kinh tế hơn vì người

làm chứng nơi xảy ra vụ việc sẽ không phải đi xa, Tòa án không phải thanh toán tiền phương tiện đi lại, tiền lưu trú, tiền ở trong trường hợp vụ án phải được xét xử nhiều ngày

♦ Quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong BLTTHS năm 2003

Khoản 1 Điều 170 BLTTHS 2003 quy định: “Tòa án nhân dân cấp huyện

và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm

ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222,

223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của BLHS.”

Theo quy định trên, TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt từ 15 tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS 2003 Tuy nhiên,

Trang 6

do trình độ, năng lực chuyên môn, điều kiện cơ sở vật chất, biên chế của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án ở một số huyện chưa đảm bảo được yêu cầu, cần tiếp tục bổ sung, kiện toàn mới có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra để có thể thực hiện được quy định của BLTTHS về việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp

huyện Nghị quyết tại số 24/2003/QH11 về việc thi hành BLTTHS năm 2003 đã

ghi rõ tại mục 3: “Kể từ ngày BLTTHS có hiệu lực, những tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự có đủ điều kiện thực hiện thì giao thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS Những tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực chưa đủ điều kiện thì thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội quy định điểm a, b và c khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2003 nhưng chậm nhất đến ngày 01/7/2009, tất cả các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền mới quy định tại khoản

1 Điều 170 BLTTHS”.

1.2 Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu

So với những quy định trước đây, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TA quân sự cấp quân khu được quy định trong BLTTHS không có gì khác nhau TAND cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hai loại việc sau:

- Những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực;

- Những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới lấy lên để xét xử;

BLTTHS không quy định cụ thể những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Tòa

án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh lấy lên để xét xử Do đó, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát và Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh cần căn cứ vào khả năng thực tế của các Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên ở cấp huyện

mà xác định những loại vụ án nào cần lấy lên để điều tra, truy tố và xét xử ở cấp tỉnh Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp tỉnh cần lấy lên để điều tra, truy tố và xét xử các vụ án sau:

- Vụ án phức tạp (có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành);

- Vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, sĩ quan Công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người

2 Thẩm quyền xét xử theo đối tượng.

Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội

Trang 7

BLTTHS 2003 không có điều luật nào quy định cụ thể đối tượng nào thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, đối tượng nào thuộc Tòa án quân sự Tuy

nhiên Điều 3 Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự năm 2002, có quy định về thẩm

quyền xét xử của Tòa án quân sự như sau:

1 Quân nhân tại ngũ, công nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý.

2 Những người không thuộc những quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội liên quan đến bí mật quân sự chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nếu phạm tội một trong các trường hợp sau:

- Tội phạm mà họ thực hiện có liên quan đến bí mật quân sự

- Tội phạm mà họ thực hiện gây thiệt hại cho quân đội.

Gây thiệt hại cho quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người được quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh

tổ chức Tòa án quân sự hoặc tài sản của những người này được quân đội cấp phát

để thực hiện nhiệm vụ quân sự, gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội Tài sản của quân đội là tài sản do quân đội quản lý, sử dụng kể cả trong trường hợp quân đội giao tài sản cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý,

sử dụng để chiến đấu hoặc phục vụ quân đội Bí mật quân sự là bí mật của quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Trường hợp trong cùng một vụ án, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, trong trường hợp này, Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án

Thông tư liên tịch 01/TTLT ngày 18/04/2005 của Tòa án tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng, Bộ công an hướng dẫn về thẩm

quyền xét xử của tòa án quân sự như sau :

- Quân nhân tại ngũ gồm hạ sĩ quan, hạ sĩ quân và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự, luật sĩ quan quân đội nhân dân VN

- Công chức quốc phòng bao gồm những công dân đang được tuyển dụng vào phục vụ trong quân đội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và Luật quân đội nhân dân Việt Nam;

- Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc đang

kiểm tra tình trạng sẵn sang động viên, tình trạng sẵn sang chiến đấu theeo quy định của pháp luật về lực lượng dự bị động viên

Trang 8

- Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc quân đọi chiến đấu theo quy định

của pháp luật về dân quân tự vệ;

- Những người được tập trưng làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội

quản lý bao gồm những công dân do nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do nhiệm vụ quân sự khác được các đơn vị quân đội trưng tập hoặc do nhiệm vụ nhiệm vụ quân sự khác được các đơn vị trưng tập và trực tiếp quản lý họ để đáp ứng các nhu cầu khác

Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 quy định: quân nhân tại ngũ

phạm tội trong quân đội và ngoài xã hội đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Trong trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền của Tòa

án nhân dân thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án Nếu có thể tách riêng ra để xét xử thì Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo thuộc thẩm quyền của mình (2) Bên cạnh đó, những người không còn phục vụ trong quân đội

mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ quân đội; hoặc những người bị phát hiện là phạmtội khi nhập ngũ thì thuộc thẩm quyền xét

xử của Tòa án quân sự về những tội phạm liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội Những tội phạm khác do Tòa án nhân dân xét xử (3)

Thẩm quyền xét xử đối với thường dân phạm tội có liên quan tới bí mật quân

sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội được xác định tùy từng trường hợp cụ thể Nếu

vụ án có tình tiết cần điều tra liên quan đến bí mật quốc phòng như địa điểm, thiết

bị, kế hoạch quân sự… thì Tòa án quân sự xét xử Những việc phạm tội khác, Tòa

án quân sự có thể chuyển vụ án cho Tòa án nhân dân Nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét và quyết định

Qua những quy định nêu trên có thể thấy thẩm quyền xét xử rộng hơn so với Tòa án quân sự, cụ thể là xét xử hầu hết các đối tượng phạm tội, trừ trường hợp đối tượng thuộc thầm quyền xét xử của tòa án quân sự được quy định trong Pháp lệnh

tổ chức Tòa án quân sự năm 2002

3 Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ

Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử căn cứ vào nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra

Điều 146 BLTTHS năm 1988 quy định về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ:

“1- Toà án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Toà án nơi tội phạm được thực hiện Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Toà

án có thẩm quyền xét xử là Toà án nơi kết thúc việc điều tra.

(2) Điều 5 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002.

(3) Điều 4 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002.

Trang 9

2- Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tuỳ trường hợp, Chánh

án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Toà án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân

sự thì do Toà án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử, theo quyết định của Chánh

án Toà án quân sự cấp cao.”

Theo đó việc giải quyết tranh cấp về thẩm quyền xét xử được giải quyết theo hướng trong trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án thì Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định Vậy, trong trường hợp có sự tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các TAND cấp huyện, thành phổ trực thuộc trung ương khác nhau thì sẽ không rõ là Tòa án cấp trên (Tòa án nhân dân cấp tỉnh) nào

sẽ là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Khắc phục hạn chế này, tại khoản 1 Điều 171 BLTTHS 2003 quy định:

“Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là

Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.” Vấn đề này được cụ thể tại Thông tư số

01/2005/TTLT- TANDTC-VKSNDTC- BQP- BCA ngày 18/4/2005 của Tòa án

nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng, Bộ công an

hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự như sau: Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự cấp nào thì do Tòa án quân sự cấp đó xét xử Việc phân định địa bàn trong Quân đội để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân

sự do Bộ quốc phòng quy định cụ thể Trong hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc trường hợp có nhiều tòa án quân sự khác nhau có thẩm quyền xét xử do vụ án có nhiều người phạm tội thuộc nhiều đơn vị khác nhau hoặc do người thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nếu viện kiểm sát quân sự truy tố trước Tòa

án quân sự nào thì Tòa án đó có quyền xét xử.

Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài thì thẩm quyền xét xử của Tòa án

nhân dân được xác định theo khoản 2 Điều 171 BLTTHS 2003: “Bị cáo phạm tội

ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân

sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh

án Tòa án quân sự trung ương.”

Trang 10

Đối với những vụ án xảy ra trên tài bay hoặc tàu biển của nước CHXHCN

Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thì Điều 172

BLTTHS 2003 quy định: “Những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.”

4 Thẩm quyền chuyển vụ án

Tòa án có quyền chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử, nếu nhận

thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình theo quy định tại Điều 174

BLTTHS 2003 Việc chuyển vụ án cho Tòa án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa

án quân sự cấp quân khu quyết định

Tòa án chỉ được quyền chuyển vụ án cho Tòa án khác khi vụ án chưa được xét xử Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Tòa án quyết định Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự hoặc Tòa án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định

Thời hạn chuyển vụ án phải tuân thủ theo quy định tại Điều 174: “Trong thời

hạn hai ngày, kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Tòa án phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, báo cho bị cáo và những người có liên quan trong vụ án”.

III Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án.

1 Thực tế áp dụng các quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án.

Kể từ khi Bộ luật tố tụng hình sự 2003 được ban hành và có hiệu lực pháp luật trên thực tế thì việc áp dụng bộ luật nói chung và những quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định

Thứ nhất, về số lượng vụ án và số bị cáo giải quyết được chiếm tỷ lệ khá lớn so với số vụ án được thụ lý Theo số liệu thống kê thì từ 01/10/2007 đến

30/9/2008, TAND cấp tỉnh thụ lý mới 8411 vụ với 17.593 bị cáo, xét xử được 7555

vụ với 15.205 bị cáo, giải quyết được 96,9% số vụ án với 96,1% bị cáo Tóa án cấp huyện thụ lý mới 54.090 vụ án với 90.814 bị cáo, xét xử được 50.396 vụ với 82.788 bị cáo, giải quyết được 98,1% số vụ án với 97,5% bị cáo (4)

Thứ hai, tốc độ giải quyết tại cấp xét xử sơ thẩm nhanh hơn, lượng án tồn đọng ngày càng hạn chế, chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao so với

nghiệp, Nhâm Thị Minh Thúy, HS31C.

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w