1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và giải pháp hoàn thiện

18 503 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 102 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.. Tài sản thu

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ

Môn: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Bài tập: Pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và giải pháp hoàn thiện.

Họ và tên

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ………3

NỘI DUNG ……….3 A/ Pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng ……… 3

I/ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất …3

II/ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng ………10 B/ Hạn chế của một số quy định về tài sản giữa vợ chồng của pháp luật … 12

C/ Giải pháp hoàn thiện ……… 14 KẾT LUẬN ………17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Trang 3

C.Mác và Ph Ăngghen đã nhận định rằng: “Gia đình là tế bào của xã hội” Đúng như nhận định, gia đình là gốc rễ nhỏ nhất để hình thành nên 1 xã hội rộng lớn, gia đình

có được ấm no, hạnh phúc thì xã hội mới có thể phát triển phồn vinh, thịnh vượng Tuy nhiên lại có rất nhiều yếu tố bên ngoài tác động có thể phá vỡ và ảnh hưởng đến hạnh phúc trong cuộc sống của gia đình, trong đó yếu tố tác động lớn nhất chính là tài sản và các vấn đề liên quan đến phân chia tài sản Chính vì lí do đó nên pháp luật đã quan tâm, nghiên cứu về vấn đề này, đưa vấn đề quy định về quan hệ tài sản giữa vợ chồng vào pháp luật để dễ dàng giải quyết khi xảy ra tranh chấp về tài sản, hay trong trường hợp các bên muốn phân chia tài sản ngay trong thời kì hôn nhân

NỘI DUNG

A/ Pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng.

I/ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất

1 Quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng được pháp luật quy định

Quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng bao gồm: quyền sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế Về tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân

gia đình năm 2000 quy định tại: “ Điều 27 Tài sản chung của vợ chồng

1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ

là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

Trang 4

2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả

vợ chồng.

3 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh

chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.”

Và theo điều 219 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Sở hữu chung của vợ chồng:

1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3 Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4 Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án.

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia Tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng chung công sức trong việc tạo nên khối tài sản chung nhằm xây dựng gia đình, bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó như: Phát triển kinh tế gia đình vững mạnh, tạo điều kiện tốt cho việc nuôi dạy con, do vậy, bình thường chúng ta trong khối tài sản chung hợp nhất, chỉ khi nào có sự phân chia tài sản chung thì vợ chồng mới xác định được tài sản của từng người trong khối tài sản chung đó Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, do

vợ, chồng tạo ra bằng công sức của mỗi người từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt và những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Cơ

sở pháp lý để xác định những tài sản phải đăng kí quyền sở hữu là tài sản chung của vợ chồng chính là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có ghi tên của cả vợ và chồng Một

Trang 5

số tài sản mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu như nhà ở, quyền sử dụng đất

và các tài sản có giá trị lớn khác…

2 Quyền và nghĩa vụ của của vợ chồng đối với tài sản chung

a Vợ chồng bình đẳng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

Đối với tài sản chung của vợ, chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tại khoản 2 Điều 219 Bộ luật dân sự năm

2005: “ 2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của

mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” và tại khoản 1 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “1 Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” Về nguyên tắc, vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc

xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản, đồng thời họ cũng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất

Mọi giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì vợ chồng cần phải bàn bạc, thỏa thuận với nhau thì giao dịch đó mới có giá trị pháp lí

Đối với những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị không lớn hoặc để phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình thì chỉ cần một bên vợ và chồng thực hiện hoặc đương nhiên coi là có sự đồng ý của bên kia Điều 25 Luật HNGĐ năm 2000

có quy định về trách nhiệm liên đới trong trường hợp chỉ có một bên vợ hoặc chồng thực

hiện giao dịch dân sự có liên quan đên tài sản chung: “Trách nhiệm liên đới của vợ,

chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.” Vợ, chồng sử dụng tài sản chung của vợ chồng

đương nhiên được coi là có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng

Trang 6

Trường hợp vợ chồng sống các xa nhau vì lý do chính đáng không ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ của họ đối với tài sản chung hợp nhất

Như vậy, kể từ sau khi kết hôn, những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp của vợ chồng, tài sản mà vợ chồng mua sắm được từ những thu nhập hợp pháp đều thuộc

sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của vợ, chồng nhiều hay ít, có lao động trực tiếp hay không Pháp luật còn quy định các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với khối tài sản chung và mục đích của việc sử dụng tài sản chung là nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, đảm bảo cho vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra vì lợi ích chung của gia đình

b Đăng kí quyền sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng

Đăng kí quyền sở hữu của vợ chồng liên quan đến các loại tài sản có giá trị lớn là rất cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ chồng đối với các tài sản đó Thông qua việc đăng kí, Nhà nước bằng pháp luật công nhận và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của

vợ chồng đối với các tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng, mặt khác, điều chỉnh được các hành vi xử sự của vợ chồng, của những người khác khi kí kết các hợp đồng liên quan trực tiếp đến tài sản chung của vợ chồng và còn là căn cứ pháp lý để giải quyết các vấn đề tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể khác khi quyền lợi của họ được đảm bảo trực tiếp từ tài sản chung của vợ chồng Việc đăng kí được quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền

sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.”

3 Chia tài sản chung của vợ chồng

Xuất phát từ tình hình thực tế trong quan hệ hôn nhân, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của vợ chồng về vấn đề tài sản thì pháp luật đã có những quy định riêng về các trường hợp chia tài sản để từ đó có những hướng giải quyết vấn đề đúng đắn

Trang 7

a Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.

Đây là trường hợp mới quy định của luật HNGĐ Trong thực tế có nhiều trường hợp vợ chồng không muốn ly hôn mà chỉ yêu cầu chia tài sản chung để ra ở riêng hoặc vì một lí

do nào đó mà vợ chồng vẫn muốn chia tài sản trong quá trình đang chung sống với nhau

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có quy định tại khoản 1 Điều 29: “1 Khi hôn nhân

tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.” Nhằm giúp cho các tòa án có cơ sở pháp lý để xét xử khi có

yêu cầu của vợ chồng, pháp luật cũng chỉ rõ một số trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân vẫn tồn tại:

Trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng Trường hợp này xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, pháp luật tạo điều kiện, ngoài ra còn nhằm bảo vệ lợi ích và bảo đảm cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của kinh doanh

Trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng Trong trường hợp này tài sản được phân chia nhằm giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình khi họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ

Trường hợp có lý do chính đáng khác phải xuất phát từ lợi ích gia đình, lợi ích vợ chồng hoặc của người thứ ba

Luật hôn nhân gia đình cũng tôn trọng quyền định đoạt tài sản của vợ chồng bằng việc không quy định cụ thể phương thức chia tài sản mà chỉ quy định vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung, nếu thỏa thuận thành công thì được lập thành văn bản và việc phân chia tài sản được pháp luật công nhận; nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết Ngoài ra luật cũng dự liệu trường hợp vợ chồng lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ (khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân và gia

Trang 8

đình năm 2000) Chia tài sản trong thời kì hôn nhân là trường hợp đặc biệt Vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia toàn bộ hoặc chia một phần tài sản chung Nếu chia toàn bộ tài sản chung thì phần tài sản của mỗi người sau khi chia hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người Nếu chia một phần tài sản trong khối tài sản chung thì chỉ có một phần tài sản được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh

từ số tài sản được chia mới là tài sản riêng của mỗi người; phần tài sản chung còn lại không chia vẫn thuộc khối tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn đang tồn tại không phải là gián tiếp quy định chế định ly thân Pháp luật chỉ cho phép chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại trong trường hợp thật sự cần thiết vì lợi ích của gia đình, của các đương sự hoặc của người thứ ba Nếu áp dụng việc chia tài sản khi hôn nhân đang tồn một cách rộng rãi dễ phá vỡ thể chế gia đình, ảnh hưởng không tốt tới tình cộng đồng trong quan hệ hôn nhân

b Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là trường hợp thường gặp, sau khi tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng sẽ được cho phép tự thỏa thuận với nhau Trường hợp không thảo thuận được thì Tòa án sẽ điều tra về quan hệ tài sản của vợ chồng, xác định đâu là tài sản riêng của mỗi bên, những tài sản nào thuộc khối tài sản chung, xác định nguồn gốc, giá trị, số lượng… sau đó, Toà áp dụng các quy tắc tại điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để chia, kết hợp với từng trường hợp

cụ thể được quy định tại các Điều 96, 97, 98, 99 của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của mỗi bên vợ, chồng cũng như các thành viên khác liên quan

c Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là chết

Trang 9

Nếu kết hôn là sự kiện bình thường xác lập quan hệ hôn nhân thì trường hợp vợ, chồng chết là thời điểm cuối cùng và tất yếu chấm dứt hôn nhân Nhà nước ta quy định hai hình thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo di chúc được thực hiện theo ý chí của người để lại di sản cho người được chỉ định trong di chúc (Điều 646 Bộ luật Dân sự năm 2005) Nếu vợ, chồng chết trước có để lại di chúc định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung cho người chồng, vợ còn sống được hưởng thì di sản đó thuộc quyền sở hữu của người chồng,

vợ Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, phần tài sản của người vợ, chồng chết sẽ được chia đôi theo di chúc của người chết

Khi hôn nhân chấm dứt, đối với tài sản chung của vợ chồng được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế ( Điều 674 Bộ luật Dân sự năm 2005) Trong trường hợp vợ, chồng không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp ( Điều 675 Bộ luật Dân sự năm 2005) Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa

kế, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người chồng, vợ còn sống khi vợ, chồng chết trước, cũng như quyền lợi của các con Trong trường hợp không có yêu cầu của những người thừa kế chia di sản của người vợ, chồng đã chết thì bên còn sống có quyền quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lí

di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lí di sản Trường hợp cần phải chia di sản của người vợ, chồng đã chết theo yêu cầu của những người thừa kế

di sản chung của vợ, chồng sẽ được chia đôi; phần tài sản của người vợ, chồng đã chết được chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế

II/ Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng

1 Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng

Quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng được pháp luật quy định tại Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “

1 Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Trang 10

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2 Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung.”

Vợ chồng có quyền có tài sản riêng và xác định rõ nguồn gốc phát sinh tài sản riêng Chỉ những tài sản mà vợ hoặc chồng có từ trước khi kêt hôn, tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế, tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được chia từ khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân và nhưng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó đồ dùng,tư trang cá nhân mới được coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng Quy định vợ chồng có tài sản riêng là phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân đã được hiến pháp thừa nhận; phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt

về tài sản của công dân, đồng thời quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng còn nhằm bảo đảm cho vợ, chồng có thể thực hiện các nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bên kia

2 Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng

Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ quy định: “1 Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử

dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này”.

Quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của họ nên trong những trường hợp cần chia tài sản vợ chồng theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó Với tư cách là chủ sở hữu tài sản của mình, vợ, chồng có toàn quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) đối với tài sản riêng, không phụ thuộc vào ý chí của bên người chồng, người

vợ kia Đối với tài sản riêng mỗi bên sẽ tự quản lí, trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên người vợ, chồng kia có quyền quản lí tài sản riêng đó, bên cạnh đó có nghĩa vụ

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w