1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm pháp lý của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hoặc vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng

17 962 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 30,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được điều này, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Trách nhiệm pháp lý của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hoặc vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ ch

Trang 1

I LỜI MỞ ĐẦU

Hôn nhân và gia đình – đó là những hiện tượng xã hội mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học… nghiên cứu Hôn nhân là cơ sở

để của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội

Sự kết hôn đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng Nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và các nghĩa vụ và quyền về tài sản, trong đó nghĩa vụ và quyền về nhân thân là nội dung chủ yếu trong quan hệ vợ chồng Các nghĩa vụ và quyền này được pháp luật bảo hộ

Quyền và nghĩa vụ nhân thân là nội dung chủ yếu của quan hệ vợ chồng nhưng quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng cũng đóng vai trò quan trọng không kém trong đời sống gia đình, mang những nét đặc trưng gắn liền với nhân thân của vợ chồng

Nhận thức được điều này, em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Trách nhiệm pháp

lý của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hoặc vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng” Do kiến thức còn hạn chế nên bài

làm không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự góp ý từ các Quý thầy cô cùng các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

II NỘI DUNG CHÍNH

Trách nhiệm pháp lý của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hoặc vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là một vấn đề đang tồn tại nhiều bất cập trong thực tế Để tìm hiểu rõ hơn, em xin trình bày một số khái niệm

1 Cơ sở lý luận

a Trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật khi họ vi phạm pháp luật hoặc khi có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định

Trách nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm do pháp luật quy định Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa trách nhiệm pháp lý với các loại trách nhiệm xã hội khác như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tôn giáo, trách nhiệm chính trị…Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm pháp lý với các biện pháp cưỡng chế khác của nhà nước như bắt buộc chữa bệnh, giải phóng mặt bằng…

Trách nhiệm pháp lý luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu thể hiện qua việc chủ thể phải chịu những sự thiệt hại nhất định về tài sản, về nhân thân, về tự do… mà phần chế tài của các quy phạm pháp luật đã quy định Trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luật hoặc có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định

Trang 3

b Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Giao dịch một bên ở đây là một loại giao dịch dân sự, nó do một bên (vợ hoặc chồng) thực hiện

c Tài sản chung của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung của vợ chồng Theo đó, việc xác định tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh của tài sản Cụ thể tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản sau:

 Tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;

 Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là: tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng

có được hoặc tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 như: từ Điều 239 đến Điều 244 BLDS

 Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng thu nhập nói trên;

 Tài sản mà vợ chồng được tặng, cho chung hoặc thừa kế chung;

 Tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kêt hôn hoặc những tài sản mà

vợ chồng được thừa kế riêng hay được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo pháp luật đã quy định là tài sản chung

Trang 4

Như vậy, tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng do vợ, chồng tạo ra bằng công sức của mỗi người từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt và những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Cơ sở pháp lý để xác định những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu là tài sản chung của vợ chồng là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có ghi tên của

cả vợ và chồng

2 Nội dung chính

a Những vấn đề cơ bản về tài sản của vợ chồng

Được xem là tế bào của xã hội, gia đình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, gia đình có tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Một gia đình được xây dựng trên cơ sở của các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng trong

đó quan hệ hôn nhân là nền tảng, có ý nghĩa quyết định các mối quan hệ khác Mỗi gia đình nói chung và các cặp vợ chồng nói riêng ngoài nghĩa vụ yêu

thương, quý trọng chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, các thành viên còn phải thực hiện nghĩa vụ duy trì đời sống chung; mà đời sống đó chỉ có thể được đảm bảo một cách vững chắc nếu nó được xây dựng từ một nền tảng vật chất nhất định Hay nói cách khác một trong những chức năng cơ bản của gia đình trong đó có mỗi cặp vợ chồng đó là chức năng kinh tế và nội dung của nó là sự tham gia của các thành viên vào quá trình hoạt động sản xuất xã hội, góp phần tạo dựng và phát triển cơ sở vật chất, tinh thần nhất định cho gia đình và xã hội Chính vì vậy các quy định điều chỉnh vấn đề tài sản vợ chồng luôn được các nhà làm luật quan tâm xây dựng như là một trong những chế định quan trọng nhất của pháp luật hôn nhân gia đình

Trang 5

Dưới góc độ pháp lý tài sản vợ chồng có thể hiểu là tổng hợp các quy định của pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản vợ chồng bao gồm các quy định căn

cứ xác lập tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng

b Trách nhiệm pháp lý của vợ, chồng đối với những giao dịch do một bên chồng hoặc vợ thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ chồng

Quyền bình đẳng của vợ và chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung

có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung

để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận (Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình) Như vậy, mọi giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì vợ chồng cần bàn bạc , thỏa thuận với nhau thì những giao dịch đó mới có giá trị pháp lý

Đối với những giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị không lớn hoặc để phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình thì chỉ cần một bên vợ hoặc chồng thực hiện thì đương nhiên coi là có sự đồng ý của bên kia

Trong trường hợp vì lý do nào đó mà chỉ có một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nhằm để phục

vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình thì bên kia phải chịu trách nhiệm liên đới (Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Đối với trường hợp vợ chồng tiến hành sản xuất kinh doanh

Thứ nhất, chỉ có môt bên vợ hoặc chồng tiến hành hoạt độn sản xuất kinh doanh Có những cặp vợ chồng mà xuất phát từ điều kiện thực tế của gia đình,

họ quyết định chỉ cẩn một bên tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, một bên

Trang 6

tham gia các quan hệ lao động hoặc ở nhà chăm sóc con cái, chăm lo công việc hàng ngày của gia đình Cũng có thể họ thuộc đối tượng không được phép thành lập doanh nghiệp

Có thể xảy ra một số trường hợp khi chỉ có một bên vợ chồng tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh riêng Có thể đó là việc hai bên thỏa thuận để cho một bên vợ chồng tiến hành hoạt động kinh doanh nhưng cũng có thể họ sẽ chia tài sản chung để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, cũng có thể là hoạt động kinh doanh do một bên thực hiện diễn ra trước khi hai bên xác lập quan hệ hôn nhân Việc phân biệt này rất có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm về tài sản từ hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu họ đã chia tài sản chung để một bên tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh riêng hoặc hoạt động kinh doanh này diễn ra trước khi hai bên xác lập quan hệ vợ chồng thì về mặt nguyên tắc, những rủi ro, trách nhiệm về tài sản phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh riêng đó được coi là nghĩa vụ riêng về tài sản và sẽ được bảo đảm thực hiện bằng tài sản riêng của bên đó Nếu

họ bàn bạc thỏa thuận dùng tài sản chung để cho một bên tiến hành hoạt động kinh doanh thì nên coi đây là hoạt động kinh doanh chung của cả hai vợ chồng

Do vậy lúc này trách nhiệm về tài sản phát sinh phải được xác định là nghĩa vụ chung của cả hai vợ chồng và phải được bảo đảm thực hiện bằng nguồn tài sản chung theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Thứ hai, trường hợp vợ, chồng cùng tham gia thành lập và quản lý hai doanh nghiệp khác nhau Có thể hai vợ chồng cùng thỏa thuận chia tài sản chung để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật HNGD và nghĩa

vụ phát sinh trong trường hợp này sẽ được bảo đảm bằng nguồn tài sản riêng của mỗi bên Tuy nhiên cũng có thể vợ chồng thỏa thuận dùng tài sản chung để thành lập hai doanh nghiệp khác nhau và mỗi người sẽ quản lý một cơ sở tùy thuộc vào

Trang 7

ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh cũng như tùy thuộc vào trình độ chuyên môn của mỗi bên Lúc này nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh sẽ được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản riêng thì vẫn còn có những quan điểm khác nhau

Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện

“Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”.

Theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật dân sự: “Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa

vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và người có quyền có thể yêu cầu bất cứ

ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”.

Lần đầu tiên Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đặt ra vấn đề: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” Điều này có nghĩa khi vợ chồng thực hiện giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì đương nhiên được coi là đã có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng và vợ chồng cùng liên đới chịu trách nhiệm Trong cuộc sống và sinh hoạt gia đình, để đáp ứng nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần của các thành viên, việc vợ hoặc chồng phải tham gia giao kết nhiều loại hợp đồng dân sự với các chủ thể khác là phổ biến, pháp luật không thể kiểm soát mỗi khi giao kết hợp đồng phải có sự thỏa thuận, thậm chí bằng văn bản của hai bên Vì vậy, mặc dù giao dịch đó chỉ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện với người thứ ba nhưng vẫn được thừa nhận là phù hợp với pháp luật, vợ hoặc chồng không thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng này bị vô hiệu với lý do chưa có sự đồng ý của mình Việc thực hiện hợp đồng phải được bảo đảm bằng tài sản

Trang 8

chung của vợ chồng, tức vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đảm bảo nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình Có như vậy quyền lợi của người thứ ba tham gia xác lập hợp đồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mới được đảm bảo trước pháp luật

Đây là một quy định rất quan trọng và cần thiết, nhằm ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng đối với nhau và đối với cuộc sống gia đình Điều này khắc phục một tình trạng vẫn xảy ra trên thực tế: đó là sự thờ ơ vô trách nhiệm của vợ chồng đối với công việc gia đình Đôi khi vợ hoặc chồng tự mình thực hiện những giao dịch dân sự vì nhu cầu sinh hoạt chung thiết yếu của gia đình nhưng khi trách nhiệm phát sinh người chồng hoặc vợ không chịu chia sẻ trách nhiệm, không có sự hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhau trong cuộc sống gia đình Có thể nói rằng, quy định tại Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là một bước

cụ thể hóa về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng

Tuy nhiên trên thực tế cũng có một số trường hợp hai bên đã lợi dụng quy định để trốn tránh trách nhiệm hoặc gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến quyền lợi

về tài sản giữa vợ hoặc chồng Vì vậy, hướng dẫn khái niệm: “nhu cầu sinh hoạt

thiết yếu của gia đình” là rất cần thiết.

Thực tế…

1 Tại Điều 25 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: Trách nhiệm liên đới

của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện: “Vợ hoặc chồng phải

chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” Và

khoản 3 Điều 28 của Luật này còn quy định: Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy

Trang 9

nhất của gia đình việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định của pháp luật

Theo Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, thì việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ, chồng được quy định như sau:

“1 Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch liên quan đến định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định thì sự thỏa thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản

có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực…)

2 Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng

chung và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.

3 Tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng nói tại khoản 1, khoản 2 Điều này được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trông khối tài sản chung của vợ chồng.

4 Trong trường hợp vợ chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà

Trang 10

không có sự đồng ý của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật Dân sự và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật Dân sự.”

2 Theo các quy định nêu trên của pháp luật thì khi tham gia vào giao dịch dân sự nói chung cũng như hợp đồng dân sự nói riêng đối với tài sản chung của

vợ và chồng đều phải có sự thỏa thuận và đồng ý của cả vợ và chồng Nếu một bên vợ hoặc chồng không có sự đồng ý, thì giao dịch dân sự hay hợp đồng dân

sự đó là bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu Đối với các hợp đồng dân sự do một bên

vợ hoặc chồng thực hiện thì vợ hoặc chồng chỉ phải chịu trách nhiệm liên đới khi:

- Giao dịch đó phải hợp pháp;

- Nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình

Song trên thực tế giải quyết các vụ án về vấn đề này lại rất phức tạp, rất nhiều hợp đồng dân sự do một bên vợ hoặc chồng thực hiện không có sự bàn bạc, thỏa thuận với bên kia Khi một bên vợ hoặc chồng phát hiện ra, có yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng, các Tòa án đều xác định hợp đồng dân sự đó vị vô hiệu, nhưng việc xác định trách nhiệm liên đới của bên không tham gia của các Tòa án lại rất khác nhau Nhận thấy cần phải nhận thức đúng về vấn đề này và có đường lối giải quyết cho thống nhất, xin nêu một số ví dụ cụ thể như sau:

Ví dụ thứ nhất: Theo hợp đồng mua bán căn nhà số 24 A Lê Minh Ngương, phường Mỹ Long thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ngày 3-01-2001 lập tại Phòng Công chứng Nhà nước thì vợ chồng ông Vương Tấn Dũng, bà Phạm Thị Nga thỏa thuận bán nhà cho vợ chồng ông Lâm Đức Trung, bà Văng Thị Bạch Tuyết với giá 300.000.000 đồng Ngày 28-02-2001 ông Lâm Đức Trung được UBND tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với căn nhà nêu trên Trong khi bán nhà cho ông Trung, thì ông Dũng vẫn đang cho bà

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w