1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Các quy định của luật tố tụng hình sự về tạm giữ trong tố tụng hình sự

14 791 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 34,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Các quy định của luật tố tụng hình sự về tạm giữ trong tố tụng hình sự.Tạm giữ là việc cơ quan có thẩm quyền quyết định tước tự do với thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường h

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

1.Các quy định của luật tố tụng hình sự về tạm giữ trong tố tụng hình sự.

Tạm giữ là việc cơ quan có thẩm quyền quyết định tước tự do với thời hạn ngắn đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tội quả tang nhằm thu nhập thêm chứng cứ để đi tới quyết định khởi tố hay không khởi tố

bị can Mục đích chính của chế định này là ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc cản trở họa động xác minh của người bị tạm giữ điều kiện cho cơ quan điều tra có đủ thời gian làm rõ nhân thân và xác định mức độ tính chất hành vi của họ nhằm đưa

ra các quyết định tố tụng cần thiết như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh tạm giam, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả tự di cho người bị tạm giữ

1.1 Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ

Khoản 1 Điều 86 BLTTHS quy định đối tượng áp dụng biện pháp tạm giữ chỉ là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoăc trường hợp phạm tội quả tang nên tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trường gắn liền với việc bắt người trong các trường hợp nói trên Tuy nhiên, không phải bất kỳ người nào bị bắt trong hai trường hợp nêu trên đều bị tạm giữ mà chỉ việc tạm giữ người chỉ áp dụng trong những trường hợp cần thiết

Đối với những người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang mà tính chất

ít nghiêm trọng, sự việc phạm tội đơn giản, rõ ràng, người bị bắt có nơi cư trú rõ ràng và họ không có hành động gì càn trở việc điều tra, xử lý vụ án thấy không cần thiết phải ta lệnh tạm giữ Đối với người chưa thành niên thì chỉ được tạm giữ khi

họ bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang nếu họ đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tội phạm do họ thực hiện thuộc trương hợp phạm tội nghiêm trọng

( Điều 273 BLTTHS)

Trang 3

BLTTHS không quy định cụ thể các căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ nhưng do tính chất là biện pháp ngăn chặn gắn liền với việc bắt người trong các trường hợp khẩn cấp hoặc bắt quả tang khoong có đủ căn cứ thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt; nết việc bắt khẩn cấp hoặc bắt quả tang được coi là có đủ căn cứ

và hợp pháp thì cũng có đủ căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ Cũng do tính chất nói trên nên tạm giữ có thể được áp dụng trước khi khởi tố vụ án, nói cách khác việc khởi tố vụ án không phải là điều kiện của tạm giữ hay căn cứ của việc áp dụng biện pháp tạm giữ Trên thực tế hầu hết các trường hợp bắt khẩn cấp kể cả những người chưa thành niên đều cần thiết phải ra lệnh tạm giữ, bởi vì các trường hợp bắt khẩn câp quy định tại Điều 63 BLTTHS đều là những trường hợp tội mà yêu cầu ngăn chặn đặt ta rất cấp bách nên không thể không ra quyết định tạm giữ người bị bắt

Người bị tạm giữ là người đã có quyết định tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố

và là một trong những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 38 BLTTHS

Họ có quyền được biết lý do bị tạm giữ/ được giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình; được trình bày lời khai, đưa ra những yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ và những quyét định khác có liên quan; tự bào chữa cho mình đồng thời có nghiệp vụ thực hiện các quy định về tạm giữ

1.2 Thẩm quyền ta lệnh tạm giữ

Khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định : “Những người có quyền ta lệnh bắt khẩn cấp…có quyền ra lệnh tạm giữ” Cụ thể là :

a/ Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện; thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân

Trang 4

b/ Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;

c/Người chỉ huy máy bay, tàu biển, khi máy bay tàu biển ra khỏi sân bay, bến cảng

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì cơ quan điều tra từ cấp huyện trở lên mới có quyền ra lệnh tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự Thực hiện quy định này, khi nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, Ủy ban nhân dân xã, phường hoặc thị trấn phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, bản bắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị bắt đến

cơ quan có thẩm quyền

1.3 Thủ tục tạm giữ

Khi nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, cơ quan tiếp nhận người bị bắt phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra

có thẩm quyền mà không được tùy tiện tạm giữ Cơ quan điều tra nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tội quả tang phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người

bị bắt Việc tạm giữ người phải có lệnh viết của người có thẩm quyền Lệnh tạm giữ phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ và giao cho người tạm giữ một bản Cũng trong thời han 24 giờ lệnh tạm giữ phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp Nếu xét thấy việc tạm giữ không cần thiết, viện kiểm sát có quyền quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ trong trường hợp sau đây :

-Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong các trường hợp phạm tội quả tang

Trang 5

-Hành vi của người tạm giữ không phải là hành vi phạm tội mà chỉ là hành

vi vi phạm về mặt hành chính hoặc dân sự;

-Người bị tạm giữ bị bắt trong các trường hợp khẩn cấp hoặc trường hợp phạm tội quả tang nhưng đã có đủ tài kiệu chứng cứ chứng minh họ không phạm tội;

-Người bị tạm giữ do phạm tội quả tang, tính chất ít nghiêm trọng, phạm tội đơn giản, có nhân thân và địa chỉ rõ ràng và không có hành động cản trở việc điều tra, xử lý vụ án;

- Người bị tạm giữ là người chưa thành niên, tội phạm do họ thực hiện thuộc trường hơp ít nghiêm trọng

Theo quy định tại Điều 69 BLTTHS thì thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày đêm kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt không kể việc ra lệnh tạm giữ được tiến hành ngay lúc đó hay sau đó Pháp luật quy định phải tính thời hạn tạm giữ chặt chẽ như vậy vì biện pháp bắt người kết thúc từ thời điểm cơ quan điều tra nhận người bị bắt Từ thời điểm này trở đi, người bị bắt vẫn tiếp tục bị hạn chế quyền tự do thân thể nên nếu không tính vào thời hạn tạm giữ thì khoảng thời gian

từ lúc họ bị dẫn giải, giao cho cơ quan điều tra cơ quan điều tra đến khi có lệnh tạm giữ sẽ có thể bị kéo dài vì sự chậm trễ trong việc ra lệnh tạm giữ gây thiệt hại đến quyền tự do thân thể của họ

Tuy nhiên không phải trường hợp tạm giữ nào cơ quan điều tra cũng có thể trong thời hạn ba ngày đêm làm rõ được nhân thân và bước đầu xác định tính chất hành vi của người bị tạm giữ để nhanh chóng ra các quyết định tố tụng cần thiết Nhằm tạo điều kiện cho cơ quan điều tra có đủ thời gian tiến hành các thủ tục xác minh cần thiết theo quy định của pháp luật, khoản 2 điều 69 BLTTHS : “Trong trường hợp cần thiết cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không

Trang 6

quá ba ngày Trong trường hợp đặc biệt cơ quan ra lệnh tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai và cũng không được quá ba ngày Mọi trương hợp gia hạn tạm giữ đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.”

Như vậy thời hạn tạm giữ tối đa là chính ngày đêm Các trường hợp cần thiết

để gia hạn tạm giữ thực tiễn thường là :

-Cần có thêm thời gian để xác minh căn cước của người bị tạm giữ;

-Sự việc xảy ra có những tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để làm rõ hành vi của người bị tạm giữ

Thế nhưng do mục đích của việc tạm giữ là để có thời gian xác minh những tình tiết những sự việc liên quan đến người bị tạm giữ cho nên khi đã đạt được mục đích này thì dù chưa hết thời hạn tạm giữ nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ mà không cần chờ đến khi hết thời hạn

Khi hết thời hạn tạm giữ, nếu có đủ căn cứ để khởi tố thì ra quyết định khởi

tố bị can, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn thích hợp như tạm giam hoặc cấm đi khỏi nơi cư trù hoặc bảo lãnh…Tóm lại khi hết thởi hạn tạm giữ Cơ quan điều tra phải ra một trong những quyết định sau đây :

-Khởi tố bị can và xét thấy cần thiết thì ra lệnh tạm giam;

-Khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như cấm đi khỏi nơi

cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo;

-Trả tự do cho người bị tạm giữ nếu không đủ căn cứ đẻ khởi tố bị can với người đó

Vì tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do thân thể công dân nên thời hạn tạm giữ, dù rất ngắn nhưng cũng cần được tính vào thời hạn tạm

Trang 7

giam để bảo vệ để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người bị tạm giữ Theo quy định này, thời hạn tạm giam được tính vào ngày đầu tiên của việc tạm giữ chứ không phải từ ngày đầu tiên sau khi việc tạm giữ chấm dứt hay từ ngày ra quyết định tạm giam

2 Đề xuất hoàn thiện các quy định của luật tố tụng về tạm giữ

Những giải pháp về phương diện xây dựng pháp luật

Các quy định của pháp luật tố tụng chưa đầy đủ, chưa phù hợp với tình hình thực tế, thậm chí cong có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất, làm hạn chế hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn đối với công tác đẩu tranh phòng chống và phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay Để khắc phục những nguyên nhân trên cần phải rà soát sửa đổi , bổ sung không những các quy định trong BLTTHS

nà còn cả những văn bản hướng dẫn áp dụng thi hành pháp luật, khắc phục tình trạng văn bản dưới luật nhưng lại trái luật như một số văn bản hiện nay

Các quy định về tạm giữ :

2.1 Về đối tượng bị tạm giữ:

Theo quy định tại Điều 86 BLTTHS thì biện pháp tạm giữ chỉ được áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang Quy định này chưa đầy

đủ bởi lẽ trong thực tế những trường hợp bắt người bị truy nã, cơ quan điều tra tiếp nhận người bị bắt phải lấy lời khai thong báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã và giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất (khoản 2 Điều 65 BLTTHS) nhưng khoảng thời gian từ lúc cơ quan điều tra tiếp nhận người bị bắt thường kéo dài có khi đến vài ngày do nhiều nguyên nhân như đường xa, phương tiện dẫn giải không

Trang 8

có Nhiều trường hợp trại tạm giam lại không tiếp nhận người bị bắt vì lý do người

đó không có lệnh tạm giam…nên cơ quan điều tra đành phải tạm giữ người bị bắt, chờ cơ quan ra lệnh truy nã đến nhận Vậy trong thời gian chờ đợi này người bị bắt

sẽ bị tạm giữ theo lệnh nào trong khi luật không quy định cho cơ quan chơ cơ quan điều tra tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp bị truy nã có quyền ra lệnh tạm giữ? Nếu không ra lệnh tạm giữ thì việc tạm giữ đó trái trái pháp luật vì không có lệnh; mà ra lệnh tạm giữ thì cũng không đúng cì chỉ những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp…có quyền tạm giữ Ngoài ra việc tạm giữ người bị bắt có khi phải kéo dài quá 9 ngày đêm mà cơ quan ra lệnh truy nã vẫn chưa đến nhận người bị bắt thì phải giải quyết như thế nào, cứ giữ thì phạm luật còn tha thì để lọt người phạm tội

Khắc phục tình trạng này, Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 7/1/1995 hướng dẫn thực hiện một số quy định truy nã bị can, bị cáo trong giai đoạng xét

xử Theo thực tiễn hiện nay thì đối tượng bị tạm giữ còn có thể là người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã.Tuy nhiên thông tư này còn khà nhiều điểm hạn chế và khó thực hiện

Để giải quyết tồn tại, vướng mắc nói trên, nên sửa đổi,bổ xung các điều 65,70 BLTTHS theo hướng sau :

-Giao cho cơ quan điều tra tiếp nhận người bị bắt quyền được ra lệnh tạm giam; -Quy định cụ thể thời gian đã ra lệnh truy nã phải đến nhận người bị bắt;

-Quy định thêm đối tượng bị tạm giam là “người bị bắt trong trường hợp bị truy nã” vào khoản 1 Điều 70BLTTHS

Trang 9

2.2 Về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ

Diện những người có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ quy định tại khoản 2 Điều

86, đây là điều khoản đã được sửa đổi bổ xung ngay 30/6/1990 song vẫn có nhiều điểm chưa phù hợp dễ bị “vận dụng” một cách rộng rãi không phù hợp với mục đích thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn

Điều 86 BLTTHS quy định hai nhóm người có quyền ra lệnh tạm giữ đó là nhóm những người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo, biên giới và nhóm những người chỉ huy máy bay, tàu biển, khi máy bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng Hai nhóm người này không phải đại diện cho cơ quan điều tra nhưng do yêu cầu của công tác thực tế hoặc do điều kiện địa lý nên được giao thực hiện một số hành

vi tố tụng, trong đó có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ

Tuy vậy, trong khoản 2 Điều 87 lại chỉ quy định thời hạn tạm giữ của cơ quan điều tra chứ chưa có quy định thời hạn tạm giữ cho hai nhóm người này Nên sau khi bắt khẩn cấp hoặc bắt quả tang người phạm tội thì phải khẩn trương giao ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền Theo tôi quy định này chưa đầy đủ và chưa phù hợp vì khu vực biên giới nước ta có địa hình khá phức tạp, các hải đảo lại quá xa các trung tâm, đi lại khó khăn nên việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thời hạn tiến hành thủ tục tố tụng như xin phê chuẩn lệnh bắt lệnh tạm giữ rất khó thực hiện nhất là phải giao ngay người bị bắt cho cơ quan điều tra

có thẩm quyền trong 24 giờ là không thể lúc nào cũng thực hiện được gây khó khăn cho người áp dụng, dẫn đến tình trạng “buộc phải” phạm pháp luật về thời hạn tạm giữ Để khắc phục tình trạng này cần sửa đổi khoản 2 Điều 87 về thời hạn tạm giữ, thay cụn từ cơ quan điều tra bằng cụm từ cơ quan có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ

Một vấn đề nữa nảy sinh từ thực tiễn đẩu tranh chống và phòng ngừa tội phạm là việc tham gia của lực lượng hải quan và kiểm lâm vào hoạt động tố tụng

Trang 10

Theo quy định của luật tố tụng hình sự thì hải quan và kiểm lâm được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như quyền khởi tố vụ án tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu song lại chưa quy định rõ những họa động điều tra ban đầu đó là gồm hành vi tố tụng nào Trong pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự

4/4/1989 quy đinh cơ quan hải quan có một số nhiệm vụ quyền hạn : trong lĩnh vực mình quản lý nếu phát hiện hành vi buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hang hóa, tiền tệ qua biên giới đến mức phải truy cứu TNHS thì theo quy định tại Điều 97 BLHS thì :

Đối với hành vi phạm tội quả tang, chứng cứ rõ rang, ít nghiêm trọng thì ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai…xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành

vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay…

Đối với hành vi thuộc tội nghiêm trọng, phức tạp thì ra quyết đinh khởi tố vụ

án, lấy lời khai…xét cần ngăn chặn ngay việc người có hành vi phạm tội chạy trốn thì tạm giữ ngay…;

Hiện nay khi mà tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép hành hóa, ma túy ngày càng gia tăng thì hải quan là một lực lượng quan trọng trong công tác đấu tranh nhưng lại không được giao quyền ra lệnh tạm giữ người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang làm hạn chế hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm

Cũng như lực lượng hải quan, lực lượng kiểm lâm cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác chống các hành vi khai thác gỗ trái phép

2.3 Thủ tục tạm giữ

Về thời hạn tạm giữ :

Theo quy định tại khoản 1,2 Điều 87 của BLTTHS thì thời hạn tạm giữ tối

đa là 9 ngày đêm, kể cả việc đã sử dụng hết 2 lần ra hạn tạm giữ Thực tiễn áp

Trang 11

dụng cho thấy quy định này chỉ có thể áp dụng được đối với các vụ án xảy ra ở các thành phố, các tỉnh đồng bằng nơi có những yếu tố thuận lợi về điều kiện địa lý và sẵn các phương tiện giao thong, thông tin liên lạc…Còn những nơi không có

những điều kiện này thì chấp hành hết sứ c khó khăn Cũng chính vì vậy mà tỷ lệ tạm giữ quá hạn ở các tỉnh miền núi thường cao hơn các thành phố , các tỉnh đồng bằng

Thời hạn tạm giữ được pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm tạo các điều kiện để cho cơ quan điều tra có thời gian làm rõ được nhân thân và bước đầu xác định tính chất hành vi của người bị tạm giữ để nhanh chóng ra các quyết định cần thiết Song thực tiễn áp dụng đã nảy sinh nhiều vấn đề mà các nhà làm luật chưa

dự kiến hết được

Trước hết đó là khoảng thời gian từ lúc người thực hiện một hành vi pham tội bị bắt tới lúc họ được giải đến giao cho cơ quan điều tra có thẩm quyền Có quan điểm cho rằng “ bắt người là một biện pháp ngăn chặn riêng biệt, cho nên thời hạn tạm giữ không thể tính từ thời điểm bắt và dẫn giải người bị bắt mà được tính từ thời điểm cơ quan điều tra nhận người bị bắt”

Theo tôi, quy định tại khoản 1 Điều 87 BLTTHS về thời điểm bắt đầu của thời hạn tạm giữ ( thời điểm cơ quan điều tra nhận người bị bắt cũng như quan điểm nói trên là không dự tính hết những phức tạp nảy sinh từ thực tiễn Không phải trường hợp nào cũng có thể giải người vị bắt đến ngay cơ quan điều tra, ví dụ như với người bị bắt ở biên giới, hải đảo hay trên tàu biển, máy bay…)Với khoảng thời gian tương đối dài này người đó bị tước quyền tự do vì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nào? Coi đó là “bắt” cũng không ổn vì bắt là biện pháp ngăn chặn riêng biệt nên không thể coi đó là biện pháp kéo dài đến khi giao người bị bắt cho cơ quan điều tra.Theo tôi, biện pháp bắt người cần phải coi là kết thúc sau khi người

Ngày đăng: 17/02/2016, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w