Như vậy, quan hệ pháp luật về an sinh xã hội là những quan hệ xã hội được hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức thực hiện các hình thức bảo vê, trợ giúp cho các thành viên xã hội tr
Trang 1Mục Lục
Đề bài 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
Lý thuyết : Đặc Điểm Của Quan Hệ Pháp Luật An Sinh Xã Hội 2
1.Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội 2
2.Đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội 4
Tình Huống 7
1.Tai nạn trên có phải là tai nạn lao động không? H có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình 7
b, Cơ quan, tổ chức mà anh H có thể gửi đơn yêu cầu bảo vệ quyền lợi 9
2.Nếu là tai nạn lao động thì H sẽ được hưởng quyền lợi BHXH như thế nào?.11 KẾT LUẬN 15
Tài Liệu Tham Khảo 16
Trang 2Đề bài
1 Phân tích đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội
2 H là kĩ sư xây dựng của công ty X Ngày 18/6/ 2007 mặc dù hết giờ làm việc nhưng anh và một số đồng nghiệp vẫn tiếp tục làm một số công việc chuẩn bị cho ngày mai đổ bê tông công trình Không may giàn giáo bị sập khiến
H và T (công nhân của công ty) bị thương phải vào viện điều trị Sau 3 tháng điều trị H được xác định suy giảm 64% khả năng lao đông T bị thương nhẹ nên được ra viện sau 15 ngày điều trị; không giám định thương tật Bảo hiểm xã hội quận Y đã không giải quyết chế độ tai nạn lao động cho H vì cho rằng đây là tai nạn rủi ro ngoài giờ làm việc
Hỏi:
1 Tại nạn trên có phải là tai nạn lao động không? H có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình ?
2 Nếu là tai nạn lao động thì H sẽ được hưởng quyền lợi BHXH như thế nào?
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
An sinh xã hội ( ASXH ) là sự bảo vệ của xã hội đối với thành viên của mình trước hết và chủ yếu nhằm đảm bảo thu nhập, sức khỏe và các điều kiện sống thiết yếu thông qua các biện pháp như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội Cuộc sống luôn đầy biến động, tiềm ẩn những rủi ro, khó khăn không lường trước được, hơn bao giờ hết, vấn đề an sinh xã hội càng thể hiện rõ vai trò của nó Để hiểu rõ hơn về an sinh xã hội, bài viết sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể quan hệ pháp luật an sinh xã hội và giải quyết tình huống có thể phát sinh trong quan hệ này:
NỘI DUNG
I Lý thuyết : Đặc Điểm Của Quan Hệ Pháp Luật An Sinh Xã Hội
Mỗi quan hệ pháp luật phát sinh trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có những đặc điểm khác nhau đòi hỏi những quy phạm pháp luật khác nhau điều chỉnh Với tính chất là một quan hệ mang tính chất tương trợ cộng đồng, quan hệ pháp luật an sinh xã hội mang những đặc trưng riêng phân biệt với các quan hệ pháp luật khác:
1.Khái niệm quan hệ pháp luật an sinh xã hội.
Trong đời sống xã hội các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng
và phức tạp Khi xã hội càng phát triển thì mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng, điều này cho thấy việc thoả mãn nhu cầu của cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập, trái lại có nhiều lúc gặp phải rủi
ro do thiên tai hay những biến động khó thể lường trước trong đời sống kinh tế,
xã hội gây ra như bão lụt, hỏa hoạn, bệnh tật, tai nạn Tập hợp các rủi ro, bất lợi của các cá nhân nêu trên chính là rủi ro có tính xã hội, thậm chí lại có tính toàn cầu đòi hỏi cả nhân loại phải giải quyết Bên cạnh những cơ chế truyền thống để chia sẻ rủi ro trong phạm vi gia đình, họ hàng, cộng đồng làng xã , những cơ chế mới chia sẻ rủi ro mang tính thị trường như kí kết các hợp đồng
Trang 4bảo hiểm thì trong cần một cơ chế an toàn hơn, đó là sự quản lý và chia sẻ rủi ro
có bảo đảm chắc chắn từ phía Nhà nước Điều này giúp các thành viên đều được bảo vệ và những rủi ro của họ được chia sẻ rộng rãi, không chỉ ngăn ngừa hậu quả ở mức độ nhất định mà còn giúp họ tái hòa nhập, ổn định cuộc sống Theo
đó, hình thành nên những quan hệ xã hội mới mà ở đó Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng, người dân cùng chia sẽ trách nhiệm xã hội đối với mọi thành viên trong xã hội khi họ gặp rủi ro trong cuộc sống và bảo vệ an toàn cho họ Từ nhu cầu hình thành, mục đích tồn tại, phạm vi lan tỏa và tác dụng đặc biệt với xã hội
mà có thể gọi các quan hệ này là quan hệ an sinh xã hội Trong điều kiện xã hội phát triển vấn đề an sinh càng có tầm quan trọng đòi hỏi sự quản lý điều chỉnh của phá luật Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong chi phối và quyết định sự phát triển của cả hệ thống An sinh xã hội Nhà nước tạo môi trường hành chính
và pháp luật, đồng thời cùng các tổ chức chính trị – xã hội và các doanh nghiệp tham gia thực hiện các chương trình các chính sách, các chương trình An sinh xã hội đặc biệt trợ giúp xã hội và người nghèo Những quan hệ an sinh xã hội trong khuôn khổ các quy định pháp luật được gọi là quan hệ pháp luật an sinh xã hội
Như vậy, quan hệ pháp luật về an sinh xã hội là những quan hệ xã hội
được hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức thực hiện các hình thức bảo
vê, trợ giúp cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiệt nhằm đảm bảo an toàn trong đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật ASXH điều chỉnh.
Ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, phạm vi an sinh xã hội thường được hiểu rất hẹp, khi được pháp luật điều chỉnh các quan hệ đó trở thành quan hệ pháp luật an sinh xã hội tương ứng Pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam gồm có nhiều bộ phận cấu thành khác nhau với 4 trụ cột chính là: quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội, quan hệ pháp luật về bảo hiểm y tế, quan hệ pháp luật về cứu trợ xã hội, quan hệ pháp luật về ưu đãi xã hội
2.Đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội.
Những quan hệ pháp luật an sinh xã hội cụ thể có đối tượng chủ thể khác nhau, mang những tính chất khác nhau nhằm thực hiện những nhiệm vụ đa dạng của vấn đề ASXH nhưng vẫn có những nét chung nhất định Có thể thấy quan hệ
Trang 5pháp luật ASXH mang những đặc điểm chung dễ dàng phân biệt với các quan hệ bảo đảm xã hội, quan hệ chia sẻ rủi ro khác như sau:
Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật an sinh xã hội, thông thường có một bên tham gia là Nhà nước
Quan hệ ASXH hình thành trong quá trình tổ chức, thực hiện các hình thức bảo vệ, giúp đỡ cộng đồng chủ yếu thông qua đại điện chính thức là Nhà nước với đại diện là các cơ quan do Nhà nước thành lập hoặc các tổ chức được Nhà nước thừa nhận và trao trách nhiệm Các chủ thể tham đại diện cho Nhà nước thường tham gia quan hệ pháp luật ASXH với tư cách là người thực hiện các chế độ ASXH bằng nguồn lực của mình, ngân sách Nhà nước hoặc là người đứng ra tổ chức, huy động các nguồn lực xã hội để Nhà nước bổ sung cho các chế độ ASXH trong trường hợp cần thiết như huy động cán bộ công nhân viên chức ủng hộ ngày lương, xây dựng phong trào đền ơn đáp nghĩa Có thể hiểu không chỉ đảm bảo các như cầu ASXH tối thiểu trong xã hội mà Nhà nước còn tạo phong trào thực hiện các hoạt động tương trợ cộng đồng để các thành viên trong xã hội thông qua Nhà nước cùng chia sẻ rủi ro, để mục đích ASXH đạt được ở mức cao hơn
Thứ hai, tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội có thể là tất cả các thành viên trong xã hội, không phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào.
Nếu như các quan hệ tương trợ cộng đồng khác có sự tham gia dựa trên
cơ sở phân biệt theo thành phần kinh tế, tôn giáo, giới tính, chủng tộc, đảng phái thì quan hệ ASXH được hình thành trong phạm vi rộng lớn của quốc gia
Do Nhà nước, chủ thể đại diện của toàn xã hội tham gia với tư cách là một bên của quan hệ này nên quan hệ pháp luật ASXH đem đến sự bảo vệ cho tất cả cộng đồng dân chúng Để được hưởng chế độ cụ thể nào đó hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế đã được pháp luật quy định chứ không hề
có một giới hạn hay phân biệt nào khác Đặc biệt, nhiều trường hợp hưởng quyền ASXH không chỉ bó hẹp với công dân một nước mà còn mở rộng, không
có sự phân biệt quốc tịch như phần lớn quan hệ xã hội khác Chẳng hạn, khi xảy
ra thiên tai, hoạn nạn, mọi cá nhân trong phạm vi ảnh hưởng đều được hưởng trợ giúp, không có sự phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài để xác định quyền hay mức độ bảo đảm quyển trợ giúp tương trợ của xã hội với mỗi cá nhân
Trang 6đó Tuy nhiên, quan hệ pháp luật ASXH cũng thiết lập “ lưới an toàn” theo nhiều tầng, nấc để tạo thành một hệ thống các quan hệ hỗ trợ, bổ sung nhau để bảo đảm “ lưới an toàn” ở mức cần thiết hợp lý cho tất cả các thành viên xã hội theo từng nhóm Những nhóm quan hệ trong hệ thống các quan hệ ASXH như quan hệ bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ư đãi xã hội, quan hệ y tế đều quy định nhưng điều kiện nhất định điều kiện được thụ hưởng Điều này không phải là sự giới hạn phạm vi tham gia quan hệ pháp luật ASXH mà chỉ là sự đảm bảo công bằng trên cơ sở nhu cầu của đối tượng trong hoàn cảnh thực tế của họ hay sự cân đối giữa đóng góp và hưởng thụ, hưởng thụ theo cống hiến, phù hợp với trình độ quản lý rủi ro của Nhà nước Phù hợp với điều kiện thực tế của cá nhân đã được pháp luật xác định mà họ có thể tham gia một hoặc một số quan hệ cụ thể trong
hệ thống quan hệ pháp luật ASXH Người lao động tham gia BHXH được đảm bảo thu nhập nếu ốm đau, tai nạn , người có công với nước được hưởng chế độ
ưu đãi xã hội, người dân được chăm sóc y tế, thụ hưởng dịch vụ công Ngay cả những người chưa được hưởng chế độ nào cũng không có nghĩa là họ không được chính sách ASXH bảo vệ
Thứ ba, chủ thể hưởng an sinh xã hội có quyền tham gia quan hệ này ngay từ khi sinh ra.
ASXH là quyền của con người trong xã hội đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế cũng như Hiến pháp, Bộ luật quốc gia Thực hiện an sinh xã hội là thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước với cộng đồng dân cư Chính vì vậy mà Nhà nước thường cho phép cá nhân sinh sống trong phạm vi lãnh thổ mình quản lý được tham gia quan hệ pháp luật ASXH từ rất sớm, không phụ thuộc vào khả năng nhận thức hay sự đóng góp của họ: trẻ em mới sinh ra hoàn toàn có quyền được hưởng các chế độ chăm sóc y tế, dịch vụ công Nói cách khác, khác với một số quan hệ pháp luật khác, năng lực pháp luật hưởng quyền an sinh xã hội của cá nhân thường xuất hiện từ khi họ mới sinh ra không phụ thuộc vào năng lực hành vi của họ
Thứ tư, quan hệ pháp luật an sinh xã hội chủ yếu được thiết lập trên cơ
sở nhu cầu quản lý rủi ro, tương trợ cộng đồng trong xã hội.
Trang 7Trong bất kì một xã hội nào, rủi ro biến cố là những điều con người không tránh khỏi, nhu cầu thiết lập các quan hệ chia sẻ rủi ro của con người luôn được đặt ra Trong đó, có những quan hệ được hình thành trên cơ sở tình cảm, đạo đức hay lòng hảo tâm của cộng đồng xã hội, có những quan hệ mang tính chất thương mại dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người Như đã phân tích, riêng quan hệ pháp luật ASXH được hình thành trên nhu cầu chung của xã hội nhằm quản lý và chia sẻ rủi ro cho cả cộng đồng không phụ thuộc vào các quan hệ khác hay bất cứ mục đích khác Trên cơ sở này Nhà nước xác định những quan
hệ an sinh xã hội đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật
Thứ năm, quyền và nghĩa vụ chủ yếu của chủ thể là trợ giúp và được trợ giúp vật chất, do Nhà nước đảm bảo thực hiện.
Mục đích của ASXH là đảm bảo an toàn về đời sống dân sinh ( theo nghĩa hẹp) cho con người nên nội dung chính của quan hệ này là trợ giúp vật chất cho các thành viên trong xã hội khi cần thiết Điều đó không đồng nghĩa với việc phủ nhận những lĩnh vực trợ giúp khác mà nó chỉ ra đặc thù làm nên thuộc tính của quan hệ ASXH Những bảo đảm về tinh thần, giáo dục đào tạo, đảm bảo điều kiện sống hòa bình của người dân… cũng là những vấn đề quan trọng nhưng thuộc lĩnh vực bảo đảm xã hội nói chung Cuộc sống con người luôn chịu gánh nặng “ cơm, áo, gạo, tiền”, những khó khăn trong cuộc sống như “ sinh, lão, bệnh, tử”, mất nguồn sống, mất phương tiện sinh sống do thiên tai…thì sự trợ giúp của xã hội đặc biệt là sự trợ giúp vật chất là thiết thực nhất Không xem nhẹ những sự trợ giúp khác, “ có thực mới vực được đạo” là một thực tế chung trong đời sống của con người, chỉ khi ổn định, đảm bảo nguồn vật chất để đáp ứng nhu cầu tối thiểu của cá nhân, con người ta mới có thể tiếp tục tồn tại, phát triển tốt hơn Vì vây, một điều dễ hiểu, quyền và nghĩa vụ chủ yếu nhất của các bên trong quan hệ phát luật ASXH được Nhà nước bảo đảm thực hiện là trợ giúp vật chất cho người cần trợ giúp Chế độ trợ cấp vật chất cho người có đủ điều kiện luật định là nội dung xuyên suốt các chế độ ASXH ở nước ta nói riêng, ở tất các các nước có điều chỉnh quan hệ pháp luật ASXH nói chung
Trang 8II, Tình Huống
1.Tai nạn trên có phải là tai nạn lao động không? H có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình.
a, Tai nạn của anh H là tai nạn lao động
Tai nạn lao động cũng như các tai nạn khác xảy ra trong sinh hoạt hàng ngày đều do sự tác động từ bên ngoài tới cơ thể con người để lại những di chứng như gây chấn thương, suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động, gây tử vong Xét về mặt pháp lý, không phải mọi tai nạn xảy ra với người lao động đều được coi là tai nạn lao động Tùy vào chính sách của Nhà nước ở từng thời kì
mà cách hiểu tai nạn lao động cũng khác nhau Ở thời kì bao cấp, tai nạn lao động được hiểu rất rộng, ngoài những trường hợp bị tai nạn lao động khi đang thực hiện nhiệm vụ lao động còn có những người tham gia vào việc cứu tài sản Nhà nước mà bị cũng thay đổi phù hợp với sự phát triển của xã hội
Theo Điều 105 Luật lao động: Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động
Theo quy định tại điều 39 luật BHXH và Điều 19 Nghị định số 152/ 2006/ NĐ- Cp hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm xã hội bắt buộc, Thông tư 03/2007/ TT- BLĐTBXH thì các trường hợp được coi là tan nạn lao động gồm :
- Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả thời gia nghỉ giải lao, ăn giữa ca, thời gian chuẩn bị và kết thúc công việc
- Bị tai nạn ngoài giờ làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động
- Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý
Thông tư 14/2005/TTLT/BLĐTBXH-BYT-TLĐLĐVN giải thích cụ thể: Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do tác động bởi các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể
Trang 9Người lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động kể cả trong thời gian khác theo quy định của
Bộ luật Lao động như: nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh, thời gian chuẩn bị, kết thúc công việc tại nơi làm việc ( Mục 2.1 Phần I , Quy định chung)
Khi xem xét tai nạn xảy có phải là tai nạn lao động hay không ta không đặt ra vấn đề nguyên nhân dẫn đến tai nạn xảy ra do lỗi của người lao động hay lỗi của người sử dụng lao động mà chủ yếu xem xét tai nạn đó có thỏa mãn các đặc điểm về người lao động, hậu quả lao do tai nạn lao động gây ra, địa điểm xảy ra tai nạn là tai nạn lao động, thời gian xảy ra tai nạn Qua một số quy định nêu trên, để xác định trong tình huống này, ta có thể xác định tai nạn xảy ra đối với anh H là tai nạn lao động
Anh H là kĩ sư xây dựng của công ty X thỏa mãn điều kiện người bị TNLĐ là người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân
Hậu quả do TNLĐ gây ra là làm cho bộ phận, chức năng của cơ thể con người bị tổn thương Trong tình huống, anh H đã bị suy giảm 64% khả năng lao động
Địa điểm xảy ra TNLĐ là tại một trong ba nơi: tại nơi làm việc theo quy định và thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc ngoài nơi làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại Trong tình huống, anh H bị tai nạn ngay tại công trình khi tiếp tục làm một số công việc chuẩn bị cho đổ bê tông công trình
Thời gian xảy ra TNLĐ gắn liền với địa điểm xảy ra TBLĐ, đó là trong giờ làm việc Ngoài ta thời gian xảy ra tai nạn cũng được tính là thời điểm xảy
ra TNLĐ là thời gian ngoài giờ làm việc khi người lao động đang làm công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động và thời điểm người lao động bị tai nạn khi đang trên đường đi làm hoặc đang trên đường về trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý Yếu tố thời gian cũng là lý do chính mà BHXH quận Y căn
cứ cho rằng tai nạn xảy với anh H là tai nạn rủi ro Đối với tai nạn rủi ro, pháp luật không hạn chế về thời gian xảy ra tai nạn có thể là ngày hay đêm, trong giờ
Trang 10làm việc hoặc ngoài giờ Tuy nhiên, không thể vì tai nạn xảy ra với anh H xảy
ra ngoài giờ làm việc mà có thể khẳng định đây không phải tai nạn lao động Bởi
lẽ, dù tai nạn đó xảy ra ngoài giờ làm việc nhưng lại gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động Trong tình huống này, anh H và một số đồng nghiệp vẫn tiếp tục làm một số công việc chuẩn bị cho ngày mai đổ bê tông
công trình, hoàn toàn phù hợp yếu tố “thời gian chuẩn bị, kết thúc công việc tại
nơi làm việc”.
b , Cơ quan, tổ chức mà anh H có thể gửi đơn yêu cầu bảo vệ quyền lợi
Với những đặc điểm trên ta có thể có được cái nhìn đầy đủ về TNLĐ Theo đó, trong tình huống này tai nạn xảy ra với anh H là tai nạn lao động Tuy nhiên, cơ quan BHXH quận Y đã không giải quyết chế độ bảo hiểm cho anh H
vì cho rằng đây là tai nạn rủi ro ngoài giờ làm việc Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, anh H có thể gửi đơn đến cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết Do đây là tranh chấp giữa người lao động và cơ quan BHXH, theo quy định tại Điều 130 Luật BHXH :
Điều 130. Khiếu nại về bảo hiểm xã hội
1 Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và những người khác có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình
2 Người sử dụng lao động có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Anh H hoàn toàn có thể khiếu nại về quyết định, hành vi của cơ quan BHXH quận Y Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về BHXH tuân thủ theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo nói chung, quy định của Luật BHXH nói riêng