Quan niệm truyền thống Quan điểm về một Khu vực thương mại tự do Free Trade Area lần đầu tiênđược đưa ra tại GATT 1947 trong Điều XXIV-điểm 8b như sau: “Một Khu vựcThương mại tự do được
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn : TS Đỗ Hương Lan
Hà Nội
Trang 2MỤC LỤC
DANH M C CH VI T T T ỤC CHỮ VIẾT TẮT Ữ VIẾT TẮT ẾT TẮT ẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 3
1 Khái niệm hiệp định thương mại tự do FTA 3
1.1 Quan niệm truyền thống 3
1.2 Quan niệm mới về Hiệp định Thương mại tự do (FTA) 4
2 Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại tự do FTA 4
2.1 Tự do hóa thương mại hàng hóa 4
2.2 Tự do hóa thương mại dịch vụ 5
2.3 Tự do hóa đầu tư 5
2.4 Thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước tham gia ký kết hiệp định 6
2.5 Một số cam kết khác 6
3 Phân loại Hiệp định thương mại tự do FTA 6
3.1 Căn cứ theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia 6
3.2 Dựa vào mức độ tự do hóa 8
4 Tác động của Hiệp định thương mại tự do FTA 9
4.1 Tác động đến các quốc gia thành viên 9
4.1.1 Tác động tích cực 9
4.1.2 Tác động tiêu cực 13
4.2 Tác động đến quá trình đa phương hóa 13
4.2.1 Tác động tích cực 14
4.2.2 Tác động tiêu cực 15
II TÌNH HÌNH KÝ KẾT CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) TRÊN THẾ GIỚI 17
1 Khu vực châu Âu 18
1.1 Khu vực Tây Âu 18
Trang 31.2 Khu vực Trung và Đông Âu 18
2 Khu vực châu Mỹ 19
2.1 Khu vực Bắc Mỹ 19
2.2 Khu vực Trung và Nam Mỹ 20
3 Khu vực châu Á 20
3.1 Khu vực Đông Á 21
3.2 Khu vực Nam Á 21
4 Khu vực Trung Đông và châu Phi 21
4.1 Khu vực Trung Đông 21
4.2 Khu vực châu Phi 22
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO TRONG KHU VỰC ASEAN 23
I KHU VỰC ASEAN VÀ SỰ HÌNH THÀNH FTA Ở ASEAN 23
1 Giới thiệu chung về ASEAN 23
2 Một số nhân tố thúc đẩy và cản trở xu hướng hình thành FTA ở ASEAN 25
2.1 Các nhân tố thúc đẩy 25
2.2 Nhân tố cản trở 31
II THỰC TRẠNG FTA Ở ASEAN 32
1 Tình hình chung về các FTA ở ASEAN 32
2 Chính sách FTA của khối ASEAN và của các nước thành viên ASEAN 35
2.1 Toàn cảnh xu hướng hình thành FTA của khối ASEAN 35
2.1.1 Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) 35
2.1.2 Các lộ trình FTA của ASEAN với các đối tác bên ngoài khối 36
2.1.3 Quan điểm tiếp cận và lộ trình chính sách FTA của khối ASEAN 38
2.2 Các nước thành viên ASEAN 39
2.2.1 Nhóm nước chủ động và tích cực tham gia xu hướng FTA 39
Trang 42.2.2 Nhóm ứng phó và tham gia muộn hơn và xu hướng FTA:
Malaysia, Philipin, Indonesia, Bruney và nhóm CLMV 47
III XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA FTA TẠI ASEAN 57
CHƯƠNG III: TRIỂN VỌNG KÝ KẾT FTA CHO VIỆT NAM 63
I TÌNH HÌNH THAM GIA CÁC FTA CỦA VIỆT NAM 63
1 Tổng quan tình hình tham gia các FTA của Việt Nam 63
2 Tình hình tham gia các FTA khu vực của Việt Nam 64
2.1 CEPT/AFTA 64
2.2 FTA ASEAN-Trung Quốc 67
3 Tình hình ký kết FTA song phương của Việt Nam 69
II TÁC ĐỘNG CỦA LÀN SÓNG FTA SONG PHƯƠNG ĐẾN VIỆT NAM 72
1 Tác động về thương mại 73
2 Tác động đến đầu tư và cơ cấu kinh tế 73
3 Tác động đến hội nhập kinh tế quốc tế 74
4 Tác động đến quá trình cải cách thể chế 75
III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC KÝ KẾT FTA CỦA VIỆT NAM 76
1 Sự cần thiết phải có một chính sách FTA cho Việt Nam trước làn sóng FTA thế giới và khu vực 76
2 Nguyên tắc lựa chọn đối tác 79
3 Phương thức tiếp cận và lộ trình chính sách FTA trong thời gian tới - Một số bài học rút ra từ thực tiễn FTA tại các nước ASEAN 80
3.1 Một số bài học rút ra từ thực tiễn FTA tại các nước ASEAN cho chính sách FTA của Việt Nam 80
3.2 Phương thức tiếp cận và lộ trình chính sách FTA trong thời gian tới 82
4 Những lưu ý về nội dung và đàm phán khi ký kết FTA với các nước phát triển 85
4.2 Vấn đề dịch vụ 87
4.3 Vấn đề đầu tư 89
4.4 Những “vấn đề Singapore” khác: mua sắm chính phủ và cạnh tranh 90
Trang 55 Công tác nghiên cứu và tham mưu chính sách 93 KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 6EAECAs Các thỏa thuận hợp tác kinh tế Đông Á
EAI Sáng kiến Doanh nghiệp vì ASEAN
EPA Hiệp định đối tác kinh tế
EAFTA Khu vực Thương mại tự do Đông Á
EEC Cộng đồng kinh tế Châu Âu
EFTA Hiệp hội Thương mại tự do Châu Âu
EU Liên minh Châu Âu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Hiệp định Thương mại tự do (Free Trade Agreement)FTA Khu vực Thương mại tự do (Free Trade Area)
GATT Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan
GATs Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GSP Hệ thống ưu đãi chung
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
JKFTA Hiệp định Thương mại tự do Nhật Bản - Hàn QuốcJSEPA Hiệp định đối tác kinh tế Nhật Bản - Singapore
LAFTA Khu vực Mậu dịch tự do Mỹ Latinh
MERCOSUR Thị trường chung Nam Mỹ
MFN Quy chế Tối huệ quốc
NAFTA Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ
OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
Trang 7PTA Hiệp định Thương mại ưu đãi
R.O.O Quy định xuất xứ hàng hóa
RTA Hiệp định thương mại khu vực
SAARC Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á
SACU Liên minh Thuế quan Nam Châu PhiSAFTA Khu vực thương mại Tự do Nam Á
UEA Tiểu Vương quốc Arập thống nhất
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Hiện trạng các FTA của khối ASEAN với các đối tác 37
Bảng 2: Toàn cảnh các sáng kiến FTA của Singapore 40
Bảng 3: Tình hình tham gia FTA của Thái Lan 43
Bảng 4: Tình hình tham gia FTA của Malaysia 47
Bảng 5: Tình hình tham gia FTA của Philippine 50
Bảng 6: Tình hình tham gia FTA của Indonesia 52
Bảng 7: Tình hình tham gia FTA của các thành viên CLMV 56
Bảng 8: Kim ngạch mậu dịch Việt Nam-Nhật Bản 70
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, khi mà vòng đàm phán đa phương trong khuôn khổGATT/WTO lâm vào tình trạng bế tắc trước những vấn đề mở rộng tự do thươngmại thì các quốc gia đang có xu hướng coi việc ký kết các Hiệp định thương mại tự
do (FTA) là một cứu cánh Người ta không thể không chú ý tới làn sóng ký kết FTAđang dậy lên mạnh mẽ trên khắp thế giới, trở thành một xu thế mới trong quan hệkinh tế quốc tế Theo một thống kê mới nhất của WTO thì hầu hết các nước thànhviên của của tổ chức này đều có tham gia ký kết vào các FTA và giá trị trao đổithương mại giữa thành viên của các FTA đã chiếm tới 40% tổng giá trị thương mạitoàn cầu Con số trên thể hiện vai trò to lớn của các FTA tới thương mại thế giới
Việc tham gia FTA của Việt Nam hiện nay chủ yếu là tham gia các FTA củakhối ASEAN ký với các đối tác ngoại khối, ngoài ra Việt Nam cũng đang xúc tiến
ký FTA song phương đầu tiên với Nhật Bản Trong khi đó, làn sóng FTA songphương đang diễn ra như vũ bão tại các nước thành viên ASEAN khác mà dẫn đầu
là Singapore và Thái Lan Nếu chậm chân trong cuộc đua FTA, Việt Nam có thểphải gánh chịu nhiều thua thiệt và ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển cũng nhưtiến trình hội nhập của nước ta
Nhận thấy được tầm quan trọng của FTA đối với hoạt động thương mại và sựphát triển của nên kinh tế, xu thế gia tăng các FTA trên thế giới, đặc biệt tại khu vựcASEAN cũng như sự cần thiết phải nghiên cứu và rút ra những bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam, người viết đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Thực trạng và xu thế phát triển của Hiệp định thương mại tự do (FTA) trong khu vực ASEAN” cho
khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng ký kết, triển khai, chính sách và xu thế phát triển củacác Hiệp định thương mại tự do (FTA) tại khu vực ASEAN Từ đó rút ra đượcnhững tác động mà làn sóng FTA khu vực có thể ảnh hưởng tới Việt Nam và bài
Trang 10học kinh nghiệm trong việc tận dụng những cơ hội do FTA mang lại cũng như tránhhoặc hạn chế những thua thiệt có thể xảy ra.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu vào thực trạng và xu thế phát triển của Hiệpđịnh thương mại tự do ở các nước ASEAN Trong đó một mặt khóa luận nghiên cứuASEAN như một chủ thể thống nhất với chính sách FTA chung cùng với các FTA củaKhối ký với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác Mặt khác khóa luận cũng đưa ranhững phân tích đối với chính sách FTA của từng quốc gia thành viên riêng biệt thuộcASEAN, từ đó rút ra được cái nhìn tổng quát về xu thế phát triển FTA tại khu vực
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương phápphân tích-tổng hợp, phương pháp diễn giải-quy nạp, phương pháp thống kê, phươngpháp so sánh đối chiếu… để đi từ nghiên cứu những diễn biến thực tế đến khái quát
và đưa ra đánh giá xu hướng chung Bên cạnh đó, khóa luận còn dựa trên các quanđiểm kinh tế, đường lối chính sách của các chủ thể (các nước) liên quan để làm sáng
tỏ vấn đề Khóa luận cũng tham khảo ý kiến của một số chuyên gia kinh tế nhằm đạtđược kết quả nghiên cứu tốt nhất
5 Kết cấu của khóa luận
Khóa luận bao gồm ba chương:
- Chương I: Những vấn đề cơ bản liên quan đến Hiệp định thương mại tự do
- Chương II: Thực trạng và xu thế phát triển của Hiệp định thương mại tự do trong khu vực ASEAN
- Chương III: Triển vọng ký kết Hiệp định thương mại tự do cho Việt Nam
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Tiến sỹ Đỗ Hương Lan đã tậntình gợi ý, giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Em cũngxin cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại thương trong suốt bốnnăm học qua đã truyền đạt và trang bị cho em những tri thức quý giá, không chỉnhững kiến thức kinh tế cơ bản, kiến thức chuyên môn kinh tế đối ngoại mà còn cả
Trang 11những bài học đạo đức và kinh nghiệm sống quý báu…làm hành trang cho em vữngbước vào tương lai.
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA)
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
1 Khái niệm hiệp định thương mại tự do FTA
1.1 Quan niệm truyền thống
Quan điểm về một Khu vực thương mại tự do (Free Trade Area) lần đầu tiênđược đưa ra tại GATT 1947 trong Điều XXIV-điểm 8b như sau: “Một Khu vựcThương mại tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuếquan trong đó thuế và các quy định thương mại khác sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớncác mặt hàng có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa cáclãnh thổ thuế quan đó.”
Ngoài ra tại điều XXIV-khoản 5 của hiệp định này cũng đã nêu rõ: “khu vựcmậu dịch tự do được hình thành thông qua một hiệp định quá độ [interim agreement]”.Như vậy có thể thấy GATT 1947 mới chỉ nêu ra khái niệm về Khu vực Thương mại tự
do tuy nhiên khi phân tích khái niệm này ta có thể thấy được tư tưởng của GATT vềHiệp định Thương mại tự do Trong khái niệm này có những điểm chú ý:
- Thứ nhất, trong một Khu vực Thương mại tự do thì các nước thành viêncam kết giảm thuế và các quy định thương mại khác
- Thứ hai, đối tượng cắt giảm thuế và giảm các quy định thương mại khác làvới các mặt hàng có xuất xứ từ các nước thành viên trong Khu vực Thương mại tự do
- Thứ ba, khái niệm này cho thấy GATT mới chủ yếu quan tâm đến thươngmại hàng hóa Đây cũng là điều dễ hiểu vì theo tiến trình lịch sử, quan hệ thương mạigiữa các nước thời kỳ này chủ yếu tập trung vào trao đổi mua bán hàng hóa hữu hình
Trang 12Qua đó có thể thấy quan niệm truyền thống về FTA mới chỉ dừng lại ở phạm
vi thương mại hàng hóa hữu hình và mức độ cam kết tự do hóa mới chỉ dừng ở cắtgiảm thuế quan và giảm thiểu một số quy định thương mại khác
1.2 Quan niệm mới về Hiệp định Thương mại tự do (FTA)
Từ thập niên 1990 trở lại đây, khái niệm Hiệp định Thương mại tự do (FTA)
đã được mở rộng hơn về phạm vi và sâu hơn về cam kết tự do hóa Các FTA ngàynay không chỉ dừng lại ở phạm vi cam kết cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuếquan, mà hơn thế còn bao gồm nhiều vấn đề rộng hơn cả cam kết trong khuôn khổGATT/WTO cũng như một loạt vấn đề thương mại mới mà WTO chưa có quy định.Phạm vi cam kết của các FTA “thế hệ mới” còn bao gồm những lĩnh vực như thuậnlợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh(còn gọi là “những vấn đề Singapore”), các biện pháp phi thuế quan, thương mạidịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, tiêu chuẩn và hợp chuẩn,lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề như dân chủ, nhân quyềnhay chống khủng bố… Khái niệm FTA được sử dụng rộng rãi ngày nay không cònđược hiểu trong phạm vi hạn hẹp của những thỏa thuận hội nhập khu vực và songphương có cấp độ liên kết kinh tế “nông” của giai đoạn trước, mà đã được dùng đểchỉ các thỏa thuận hội nhập kinh tế “sâu” giữa hai hay một nhóm nước với nhau.Ngoài ra trong một số trường hợp Hiệp định thương mại tự do có thể được gọi dướimột số tên gọi khác nhau như EPA (Hiệp định đối tác kinh tế) nhưng về bản chấtvẫn không thay đổi
2 Nội dung cơ bản của Hiệp định thương mại tự do FTA
2.1 Tự do hóa thương mại hàng hóa
Về thuế và các rào cản thương mại phi thuế: Trong các FTA một nội dung
không thể thiếu đó là cam kết dỡ bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế đối với hànghóa Các bên cam kết dần dần xóa bỏ thuế quan, áp dụng mức thuế suất 0% đối vớihầu hết các mặt hàng và thường quy định cụ thể các danh mục như: Danh mục hànghóa dỡ bỏ thuế ngay, Danh mục hàng hóa cắt giảm thuế dần dần với lộ trình cắtgiảm thuế, Danh mục hàng nhạy cảm, Danh mục loại trừ không đưa vào cắt giảm
Trang 13Hiện nay ngày càng có ít mặt hàng nằm trong danh sách loại trừ hơn, các mặt hàngtrong danh sách loại trừ thường là nhóm hàng nông phẩm, những hàng hóa liênquan đến an ninh, văn hóa, phong tục tập quán của quốc gia Còn lại hầu hết cácmặt hàng thông thường đều nằm trong danh mục cắt giảm thuế.
Bên cạnh đưa ra các danh mục cắt giảm thuế cụ thể, FTA còn đưa ra lộ trình
cụ thể cho việc thực hiện các cam kết trên của các nước thành viên Lộ trình nàyđược đàm phán dựa trên tiềm lực, khả năng tự do hóa của mỗi quốc gia và thậm chí
là tính chất riêng của một số mặt hàng
Trong các FTA ngày nay, các cam kết không chỉ dừng lại ở việc quy định dỡ
bỏ các hàng rào thuế mà còn quy định cả về các biện pháp hạn chế định lượng vàcác rào cản kỹ thuật thương mại khác
Về xuất xứ hàng hóa: Một FTA thường bao gồm quy chế về xuất xứ hàng
hóa Nội dung của quy chế này là quy định một hàm lượng nội địa nhất định Hànghóa nhập khẩu vào nước đối tác phải đáp ứng được tỷ lệ nội địa đó mới được hưởngnhững ưu đãi về thuế hơn so với hàng hóa từ nước thứ ba
Ngoài ra, FTA còn có thể có những quy định về mặt thủ tục hải quan nhằm
đơn giản hóa thủ tục, hài hòa với những tiêu chuẩn quốc tế và từ đó tạo thuận lợi
cho thông thương hàng hóa FTA còn có thể đưa ra điều khoản về Thương mại
không qua giấy tờ với mục đích khuyến khích phát triển thương mại điện tử giữa
các bên
2.2 Tự do hóa thương mại dịch vụ
FTA ngày nay thường bao gồm cả nội dung tự do hóa thương mại dịch vụ,
có nghĩa là các nước tham gia hiệp định cam kết mở cửa thị trường dịch vụ chonhau, tuy nhiên phạm vi và mức độ mở cửa lớn hay nhỏ trong các FTA còn tùythuộc vào quốc gia tham gia ký kết Các nước đang phát triển ký kết với nhau thìmức độ tự do hóa trong thương mại dịch vụ thường không cao bằng trong thươngmại hàng hóa Nhưng nếu FTA có sự tham gia của Mỹ hay một số nước phát triểnkhác thì thường đòi hỏi mức độ tự do hóa dịch vụ rất cao, thậm chí là đòi hỏi mởcửa tuyệt đối
2.3 Tự do hóa đầu tư
Trang 14Các cam kết hướng tới tự do hóa đầu tư ngày càng xuất hiện nhiều trong cácFTA, đặc biệt là các FTA có sự tham gia của các nước phát triển Nội dung của cáccam kết này thường là quy định dỡ bỏ các rào cản đối với nhà đầu tư của nước đốitác, tạo điều kiện thuận lợi cho họ ký kết đầu tư, ví dụ: bảo vệ các nhà đầu tư vàhoạt động đầu tư, áp dụng quy chế đối xử quốc gia đối với các chủ đầu tư và hoạtđộng đầu tư, cấm các biện pháp cản trở đầu tư, đảm bảo bồi thường thỏa đáng trongtrường hợp quốc hữu hóa, đảm bảo tự do lưu chuyển thanh khoản…
2.4 Thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các nước tham gia ký kết hiệp định
Trong một FTA, một nội dung thường thấy nữa đó là các thỏa thuận hợp táctrong nhiều lĩnh vực nhằm thúc đẩy quan hệ và hợp tác kinh tế giữa các nước đốitác Có thể kể ra đây một số lĩnh vực thường được cam kết hợp tác như: phát triểnnguồn nhân lực, du lịch, nghiên cứu khoa học công nghệ, dịch vụ tài chính, côngnghệ thông tin và viễn thông, xúc tiến thương mại và đầu tư, phát triển các doanhnghiệp vừa và nhỏ, phát thanh truyền hình và các lĩnh vực chia sẻ thông tin khác
2.5 Một số cam kết khác
Điều khoản về sở hữu trí tuệ cũng được đưa vào trong nhiều “FTA thế hệ
mới” Các bên thường cam kết tiến hành các biện pháp thích hợp nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho việc sử dụng cơ sở dữ liệu về quyền sở hữu trí tuệ của họ mộtcách rộng rãi đối với công chúng và thuận lợi hóa quy trình cấp bằng sáng chế Một
số lĩnh vực hay được nhắc đến như: vấn đề tiếp cận thị trường dược phẩm, các sảnphẩm sinh học, bí mật, bản quyền về việc tiếp cận thông tin, phát thanh truyềnhình…
Ngoài ra, Mỹ hay một số nước phát triển khác còn đưa vào trong các FTAcủa mình các vấn đề như mua sắm chính phủ, cạnh tranh, môi trường và lao động.Đây là những FTA có phạm vi và mức độ cam kết tự do hóa rất sâu rộng và đòi hỏi
mở cửa rất lớn thị trường nên các nước đang phát triển muốn tham gia các FTA nàythường gặp khá nhiều khó khăn, bất lợi và thường phải chịu thiệt thòi
3 Phân loại Hiệp định thương mại tự do FTA
Tùy vào mục đích nghiên cứu khác nhau các tổ chức, các học giả lại dựa vàocác tiêu chí khác nhau để phân loại các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), tuy
Trang 15nhiên có hai cách phân loại phổ biến nhất, đó là phân loại dựa vào quy mô, số lượngcác thành viên tham gia và phân loại dựa vào mức độ tự do hóa
3.1 Căn cứ theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia
Nếu căn cứ theo quy mô, số lượng các thành viên tham gia thì FTA đượcchia thành FTA song phương (BFTA), FTA khu vực và FTA hỗn hợp
BFTA là loại FTA chỉ có hai nước tham gia ký kết, và hiệp định này cũng
chỉ có giá trị ràng buộc đối với hai quốc gia này mà thôi BFTA do đặc điểm chỉgồm 2 thành viên nên quá trình đàm phán và việc đạt được thỏa thuận cũng trở nên
dễ dàng, nhanh chóng hơn so với các FTA khu vực hay FTA hỗn hợp Trong lànsóng ký kết FTA toàn cầu hiện nay thì BFTA là loại FTA được ký kết nhiều nhất,phát triển mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng cam kết
FTA khu vực là Hiệp định Thương mại tự do có sự tham gia của từ ba nước
thành viên trở lên, thông thường các nước này có vị trí địa lý gần nhau Những nướcnày tham gia FTA khu vực thường với mục đích tận dụng ưu thế về vị trí địa lý đểtăng cường trao đổi thương mại, cũng như thắt chặt mối quan hệ láng giềng cũngnhư nâng cao vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế Một số FTA khu vực điểnhình nhất đó là Liên minh châu Âu (EC), Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ(NAFTA), Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)
FTA hỗn hợp là FTA được ký kết giữa một khu vực tự do thương mại (FTA
khu vực) với một nước, một số nước hoặc một khu vực tự do thương mại khác Bấtchấp sự phức tạp trong việc đàm phán, hiện nay loại FTA này cũng đang phát triển
và tăng lên nhanh chóng về mặt số lượng Một số FTA hỗn hợp điển hình như: FTAASEAN- Trung Quốc (ACFTA), FTA ASEAN- Hàn Quốc, FTA EC - Mexico,FTA EC -Isarel…
Có thể coi FTA hỗn hợp là một dạng FTA song phương đặc biệt vì đây làthỏa thuận tự do thương mại giữa một bên là một quốc gia và một bên là một khuvực mậu dịch tự do (hoặc một liên minh thuế quan) Tuy nhiên, rõ ràng là để đạtđược một FTA hỗn hợp sẽ khó khăn phức tạp hơn nhiều so với một FTA songphương, nhất là về khía cạnh đàm phán và hệ quả
Trang 16Về quá trình đàm phán: Đối với một FTA song phương thông thường, quá
trình đàm phán sẽ diễn ra giữa hai quốc gia tham gia ký kết Nhưng đối với mộtFTA hỗn hợp thì quá trình đàm phán sẽ diễn ra theo một trong hai cách hoặc cả haicách sau:
Cách 1: Tất cả các thành viên của FTA khu vực sẽ cùng nhau đàm phánvới nước đối tác Đây là kiểu đàm phán thường thấy khi EU ký kết FTA với cácquốc gia khác
Cách 2: Nước đối tác sẽ đàm phán riêng với từng thành viên của FTAkhu vực, sau đó FTA hỗn hợp sẽ là sự cộng gộp tất cả các thỏa thuận của các cuộcđàm phán riêng lẻ đó Kiểu đàm phán này thường được khối ASEAN hoặc liênminh thuế quan Nam Phi (SACU) sử dụng khi đàm phán FTA hỗn hợp với các nướcđối tác
Dù sử dụng cách đàm phán nào thì quá trình đám phán FTA hỗn hợp cũngdiễn ra phức tạp hơn nhiều so với đàm phán một FTA song phương thông thường,chính vì lý do này mà nhiều ý kiến cho rằng nên phân biệt rõ loại FTA này với mộtFTA song phương
Xét về hệ quả: FTA hỗn hợp sẽ tạo ra một khu vực thương mại tự do lớn
hơn một cách tương đối so với FTA song phương hay FTA khu vực Đối với nướcđối tác, lợi ích của họ là cơ hội tiếp cận với một thị trường rộng lớn hơn, đa dạng vàphong phú hơn về nhu cầu Còn đối với khu vực thương mại tự do, về lý thuyết mànói, họ sẽ có lợi thế hơn trong đàm phán do vượt trội hơn về quân số, vì vậy sẽ cólợi hơn khi đưa ra các yêu sách và được chấp nhận Kết quả là mỗi bên đều cónhững lợi ích nhất định khi tham gia một FTA hỗn hợp
3.2 Dựa vào mức độ tự do hóa
Đây là cách phân loại được World Bank sử dụng FTA theo tiêu chí nàyđược chia thành FTA kiểu Mỹ, FTA kiểu châu Âu và FTA kiểu các nươc đang pháttriển
FTA kiểu Mỹ là loại FTA có mức độ tự do hóa cao nhất, đòi hỏi các nước
thành viên phải mở cửa tất cả các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực thuộc ngành dịch vụ.Một khi đã tham gia các FTA kiểu này thì chỉ có con đường là mở cửa thị trường
Trang 17hơn nữa hoặc giảm thiểu nhiều rào cản thương mại hơn nữa, chứ việc thay đổi hiệpđịnh hoặc việc đảo ngược lại các điều khoản trong hiệp định là rất khó khăn Tronghiệp định này áp dụng quy chế MFN và NT và tất cả các ngành đều phải mở cửa,trừ khi các bên có quy định khác và phải được ghi rõ trong hiệp định Điều nàykhiến người ta cho rằng FTA kiểu Mỹ có xu hướng làm giảm sự tham gia của chínhphủ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái hoặc các ngành dịch vụ công Ví dụ vềFTA kiểu Mỹ điển hình là Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA).
Xếp thứ hai sau Mỹ là FTA kiểu châu Âu Đây cũng là dạng FTA có mức
độ tự do hóa khá cao, thậm chí gần bằng FTA kiểu Mỹ Điểm khác biệt của 2 loạiFTA này là FTA kiểu châu Âu chỉ quy định mở cửa những lĩnh vực mà các nướccam kết hoặc thống nhất riêng với nhau Ví dụ điển hình của FTA kiểu này là camkết về tự do hóa thương mại của Liên minh châu Âu (EU) Trong cam kết tự do hóathương mại, các nước EU đã không đưa vào lĩnh vực nông nghiệp - lĩnh vực vốn rấtnhạy cảm và được hầu hết các nước thành viên EU bảo hộ Các thành viên EU đều
có những chính sách nông nghiệp riêng phù hợp điều chỉnh với những đặc thù củangành nông nghiệp nước mình Việc đưa nông nghiệp vào FTA sẽ làm ảnh hưởnglớn đến nền an ninh lương thực của các quốc gia cũng như đời sống của nhữngngười làm nông nghiệp mỗi nước
Xét về mức độ tự do hoá thì FTA kiểu các nước đang phát triển kém hơn
hẳn so với hai dạng FTA ở trên FTA kiểu này thường chú trọng nhiều hơn đến tự
do hóa thương mại hàng hóa và ít khi bao gồm các điều khoản quy định mở cửa chonhau trong các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA) và Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) là những ví
dụ điển hình cho kiểu FTA này Có thể nói trong khi FTA kiểu Mỹ được xem là hộinhập một cách sâu rộng nhất thì FTA kiểu các nước đang phát triển được xem làmang lại ít ảnh hưởng nhất
4 Tác động của Hiệp định thương mại tự do FTA
4.1 Tác động đến các quốc gia thành viên
4.1.1 Tác động tích cực
a/ Các tác động về kinh tế
Trang 18 Hiệu ứng tạo thêm thương mại
Nhờ vào việc cam kết dỡ bỏ các rào cản thương mại, doanh nghiệp các nướcthành viên được phép tự do trao đổi mua bán hàng hóa, không bị đánh thuế, không
bị áp hạn ngạch hoặc phải thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu rắc rối khác Kimngạch xuất nhập khẩu từ đó cũng tăng lên kéo theo sự tăng trưởng về thu nhập vàGDP của các nước trong FTA FTA tạo ra một thị trường rộng lớn hơn với những
cơ hội kinh doanh, thúc đẩy gia tăng sản xuất và mua bán trao đổi giữa các nền kinh
tế thành viên
Hiệu ứng thúc đẩy cạnh tranh
Với việc xóa bỏ các rào cản thương mại, một thị trường rộng lớn hơn được
mở ra đồng thời các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn
từ cả trong và ngoài nước Thị trường rộng lớn hơn một mặt thúc đẩy các doanhnghiệp mở rộng quy mô, mặt khác làm tăng số lượng doanh nghiệp tham gia thịtrường Ngoài ra, về nguyên tắc một FTA khi hình thành chính là sự hợp nhất củanhiều thị trường nhỏ hơn do đó làm giảm mức độ độc quyền một khi nhiều doanhnghiệp từ các nước thành viên khác nhau phải cạnh tranh với nhau Sự gia tăng cạnhtranh trong nền kinh tế có thể là mối đe dọa đối với những doanh nghiệp trong nướclàm ăn kém hiệu quả nhưng đối với cả nền kinh tế lại là một hiệu ứng tích cực, đặcbiệt đối với những nước đang hướng tới một nền kinh tế thị trường phát triển
Lợi ích từ sự gia tăng cạnh tranh mang đến cho nền kinh tế có thể là: Thứ
nhất, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp cắt giảm chi phí và tăng doanh số, điều này
giúp giảm các méo mó trên thị trường và có lợi cho người tiêu dùng Thứ hai, quy
mô thị trường lớn hơn cho phép doanh nghiệp khai thác hiệu quả kinh tế từ quy mô
tốt hơn Thứ ba, cạnh tranh khiến các hãng phải đa dạng hóa sản phẩm, nghĩa là người tiêu dùng sẽ có sự lựa chọn phong phú hơn sau khi FTA hình thành Thứ tư,
môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn buộc các hãng phải loại bỏ bớt những hoạtđộng không hiệu quả bên trong hệ thống doanh nghiệp và gia tăng năng suất đồngthời người lao động cũng phải nâng cao hiệu suất công việc để thích nghi với điều
kiện làm việc cạnh tranh hơn, dễ bị mất việc làm hơn Cuối cùng, hiệu ứng cạnh
tranh còn buộc các nước thành viên phải cải cách hệ thống pháp luật liên quan nhằm
Trang 19đạt được một hệ thống pháp luật hoàn thiện và hợp lý hơn phù hợp với tiến trình tự
do hóa
Hiệu ứng thúc đẩy đầu tư
Hiệu ứng thúc đẩy đầu tư do FTA tạo ra thể hiện ở việc tạo ra những tácđộng tích cực đối với môi trường đầu tư và hành vi của nhà đầu tư Một FTA khihình thành có thể thúc đẩy cả dòng đầu tư nội địa và đầu tư nước ngoài, dòng đầu tưgiữa các thành viên FTA cũng như với bên ngoài FTA đó
Thứ nhất, FTA thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư về mặt
chất thông qua việc nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm thiểu các méo
mó của môi trường đầu tư
Thứ hai, đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), FTA mang lại
cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn hơn với sức mua lớn hơn sẽ có tác dụng thu hútdòng FDI mới vào nước thành viên FTA
Thứ ba, dòng FDI lưu chuyển giữa các thành viên FTA còn nhắm vào mục
tiêu tận dụng lợi thế về chi phí các nhân tố đầu vào sản xuất, chẳng hạn như chi phílao động rẻ từ một nước thành viên khác trong FTA
Cuối cùng, dòng FDI từ bên ngoài vào một khu vực thương mại tự do, đặc
biệt là các liên minh thuế quan có một mức thuế quan đối ngoại chung, thường tậndụng điều kiện tiếp cận thị trường mới để vượt qua các hàng rào thuế quan khôngđồng nhất giữa các thành viên FTA đó
Hiệu ứng học hỏi, chuyển giao tri thức, công nghệ và thông tin
FTA còn tạo ra cơ hội cho các nước thành viên chia sẻ và chuyển giao côngnghệ cho nhau thuận lợi hơn, đặc biệt là giữa các thành viên có nền kinh tế pháttriển khác nhau Ngoài ra, thông qua việc trở thành đối tác với nước phát triển hơn,một quốc gia có thể học hỏi từ chính sách, kinh nghiệm quản lý, thông lệ tốt trongquá trình phát triển của người đi trước, từ đó xây dựng và hoàn thiện thể chế chínhsách và phát triển của mình Hơn nữa, thông qua các FTA bản thân mỗi doanhnghiệp cũng học hỏi được từ nhau và từ chính quá trình liên kết kinh tế sâu rộngnày Cụ thể, bằng việc quan sát đối thủ cạnh tranh, hợp tác với các nhà cung ứng và
Trang 20giao tiếp với khách hàng, các hãng có thể vận dụng những bài học thực tiễn trongquan hệ thương mại và đầu tư để nâng cao hiệu quả, năng suất và lợi nhuận.
b/ Các tác động phi kinh tế
Hiệu ứng hòa bình và an ninh
Nhiều ý kiến cho rằng các sáng kiến hình thành FTA ngày nay không đơnthuần xuất phát từ những mục tiêu kinh tế, mà còn từ những động cơ, kỳ vọng vềchính trị và an ninh Khi hai đối tác có quan hệ kinh tế, thương mại gần gũi hơn cóthể làm gia tăng lòng tin giữa các bên từ đó làm giảm những bất trắc trong quan hệđối ngoại, xác suất xung đột sẽ giảm tương ứng đồng thời củng cố quan hệ chính trị.Hơn nữa, việc hình thành FTA còn tạo ra cơ chế hợp tác và phối hợp về chính sáchgiữa các nhà nước, nhờ đó củng cố sự ổn định và an ninh của một nhóm nước haymột khu vực, thậm chí toàn cầu
Hiệu ứng cam kết cải cách
Hiệu ứng này là việc hình thành FTA cho phép các quốc gia thành viên cóthể duy trì sự nhất quán trong chính sách của mình cho dù các thế hệ lãnh đạo haynhiệm kỳ Chính phủ có thể thay đổi theo thời gian Nếu không có các cam kết quốc
tế trong FTA, chính quyền mới của một quốc gia rất có thể đảo ngược chính sáchkinh tế đối ngoại của chính quyền tiền nhiệm, hoặc không đủ cơ sở pháp lý để duytrì quá trình cải cách chính sách trong nước của chính quyền tiền nhiệm Trong khi
đó, những thay đổi chính sách bất ngờ và không tiên liệu được khiến các nhà đầu tư,đặc biệt là những nhà đầu tư nước ngoài, rụt rè hơn trong đầu tư thậm chí không rótvốn trong nhiệm kỳ chính quyền đó
Do vậy, việc hình thành các FTA sẽ cho phép một nước thành viên có các camkết quốc tế lâu dài và nhất quán hơn, do đó làm tăng mức độ tín nhiệm của môi trườngkinh doanh quốc gia trong mắt giới đầu tư Có thể lấy ra đây ví dụ về Mexico, mộttrong những mục đích chính của quốc gia này khi tham gia NAFTA chính là làm tăngniềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với các cải cách trong nước
Hiệu ứng bảo hiểm chủ quyền
Hiệu ứng này cũng là một trong những lí do chính khiến các nước nhỏ vàyếu hơn tìm kiếm tư cách đối tác trong các FTA với các cường quốc hay các nền
Trang 21kinh tế có ảnh hưởng Những nền kinh tế nhỏ dựa vào xuất khẩu phải tìm cách đảmbảo điều kiện tiếp cận thị trường xuất khẩu chiến lược của mình, do đó thường tìmcách có được các cam kết pháp lý cao nhất từ các thị trường lớn như Mỹ, EU, NhậtBản Việc hình thành FTA với các đối tác thương mại lớn chính là xây dựng chomình một cơ chế bảo hiểm trước nguy cơ xảy ra chiến tranh thương mại với các nềnkinh tế lớn ấy Đó là chưa kể việc có được những cam kết pháp lý về tiếp cận thịtrường của các đối tác đó Như vậy hiệu ứng bảo hiểm chủ quyền sẽ lớn đối với cácFTA Bắc-Nam (FTA giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển) và ởmức độ thấp hơn đối với các FTA Nam-Nam (FTA giữa các nước đang phát triểnvới nhau).
Hiệu ứng gia tăng vị thế mặc cả
Các FTA giúp các nước thành viên nâng cao sức mạnh chính trị của mìnhtrên trường quốc tế Hiệu ứng này lớn hơn đối với các nước tham gia FTA đaphương hay các hiệp định thương mại tự do khu vực RTA Các quốc gia riêng lẻ cóthể sẽ không có tiếng nói về chính trị tên trường quốc tế nhưng nhiều quốc gia cùnghợp tác lại thì sẽ tạo nên một tập thể lớn mạnh, có uy thế và ảnh hưởng lớn hơn đốivới quốc tế Nhờ đó, các thành viên nhỏ có thể có được vị thế mặc cả lớn hơn thay
vì các cá thể đơn lẻ, đồng thời các nước thành viên thông qua chia sẻ và hợp tác sẽ
có được chính sách, cơ chế phối hợp hiệu quả, thống nhất hơn trước các đối tác lớn
Ví dụ rất rõ ràng cho hiệu ứng này là trường hợp ASEAN/AFTA
4.1.2 Tác động tiêu cực
Hiệu ứng chệch hướng thương mại
Hiệu ứng này xuất hiện khi nhà cung ứng không phải là thành viên của FTA
có mức giá thấp hơn lại bị nước thành viên FTA thay thế bằng một nhà cung ứngtrong FTA mặc dù có chi phí cao hơn Như vậy nhà cung ứng kém hiệu quả hơn(thành viên FTA) lại thay thế nhà cung ứng hiệu quả hơn (không phải thành viênFTA) vì được hưởng các ưu đãi thuế quan do việc tham gia FTA mang lại Do đó,hiệu ứng này làm chệch dòng thương mại của một thành viên FTA từ nhà cung ứnghiệu quả sang nhà cung ứng kém hiệu quả hơn và thành viên đó phải chịu thêm mộtkhoản chi phí do phải trả giá nhập khẩu cao hơn Hệ quả này còn làm nhà cung ứng
Trang 22ngoài FTA mất thị phần xuất khẩu và có thể buộc họ phải giảm giá xuất khẩu Hiệntượng này đặc biệt hay xuất hiện ở các FTA giữa các nước đang phát triển
Ngoài ra, việc hình thành FTA còn có thể đưa đến một tác động tiêu cựckhác, đó là việc các quốc gia thành viên có thể phải hi sinh hoặc chịu thiệt thòitrong một số lĩnh vực hoặc một số ngành nhất định khi theo đuổi mục đích đạt đượcFTA với đối tác Nhưng nhiều khi những bất đồng liên quan đến những lĩnh vựcnhạy cảm này lại chính là nguyên nhân trực tiếp khiến quá trình đàm phán FTA bịkéo dài hoặc thậm chí bị hủy bỏ
Như vậy bên cạnh những lợi ích to lớn mà FTA mang lại cho các nước thànhviên thì vẫn còn một số những hiệu ứng tiêu cực Tuy nhiên xét một cách toàn diện
và lâu dài thì lợi ích mà FTA đem đến vẫn lớn hơn, FTA đem lại những chuyển
dịch tích cực trong nền kinh tế mà lợi ích dài hạn lớn hơn nhiều so với cái giá củacác hiệu ứng tiêu cực ban đầu kể trên Bởi thế mà FTA có một sức hút rất lớn đốivới nhiều quốc gia ngày nay, FTA đang trở thành một làn sóng trên khắp thế giới, làmột cứu cánh cho các nước khi vòng đàm phán đa phương WTO rơi vào bế tắc
4.2 Tác động đến quá trình đa phương hóa
Tự do hóa thương mại khu vực/ song phương thúc đẩy hay cản trở tự do hóathương mại đa phương? Hay cụ thể, các FTA là “vật cản đường” hay “vật látđường” tới lộ trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ GATT/WTO? Cho tớinay mối quan hệ giữa chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa đa phương vẫn là một trongnhững vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu Trên thế giới hiện tồn tại haitrường phái đối lập rõ rệt, một ủng hộ chủ nghĩa khu vực và một phản đối Sau đâyxin đưa ra và phân tích một số tác động cả tích cực và tiêu cực của các FTA tới quátrình đa phương hóa dựa trên quan điểm của cả 2 trường phái nêu trên
Trang 23FTA có thể khiến các thể chế kinh tế của mình đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của
tự do hóa thương mại phù hợp với nguyên tắc của WTO
Những người ủng hộ FTA lập luận rằng việc thúc đẩy các FTA song phương
và khu vực sẽ tạo ra những “ngoại áp” cần thiết cho quá trình cải cách bên trong,đồng thời có thể tạo ra các hiệu ứng “cam kết cải cách” minh bạch, đoán định được
và giảm thiểu nguy cơ đảo ngược chính sách [25], [34] Có thể coi đây là một cáchthức để các nước chưa phải là thành viên của WTO chuẩn bị năng lực một thànhviên WTO trong tương lai cho mình thông qua việc thực hiện các nguyên tắc tự dohóa thương mại trên nền tảng của hệ thống thương mại đa phương trong FTA
b/ FTA có thể hỗ trợ tiến trình tự do hóa thương mại trong WTO
Những người ủng hộ lập luận này, như Loyd (2002) [27] cho rằng, các FTA
có thể tạo ra các tiền lệ tốt về phương thức đàm phán và thể thức của một khu vựcthương mại tự do nếu được hình thành và đó là những tiền lệ có thể áp dụng đượcvào quá trình đàm phán đa phương Ví dụ, FTA đó có thể mở rộng phạm vi cam kết
tự do hóa còn cao hơn so với cam kết hiện có của WTO hoặc những vấn đề màWTO vốn đang bế tắc Nếu càng có nhiều nước cam kết như vậy trong khuôn khổcác FTA thì sẽ càng thuận lợi trong việc đạt được các cam kết có mục đích tương tựtrong vòng đàm phán đa phương của WTO Có thể nói các tiến trình tự do hóa songphương và khu vực đang góp phần tạo áp lực thúc đẩy tiến trình tự do hóa đaphương đi nhanh hơn
c/ FTA là một kênh thay thế tiến tới tự do hóa thương mại đa phương
Quan điểm ủng hộ tự do hóa thương mại khu vực lập luận rằng các FTA sẽtrở thành những “ viên gạch lát đường” cho quá trình tự do hóa thương mại đaphương Nghiên cứu của Baldwin (1996) [19] đã phân tích “Hiệu ứng Đôminô” củaviệc hình thành các FTA, theo đó khi FTA hình thành thì các nước đứng ngoài sẽ cóđộng lực đua nhau gia nhập FTA đó do lo ngại bị phân biệt đối xử, không đượchưởng những ưu đãi của các nước tham gia FTA dành cho nhau Cùng với quá trìnhkết nạp thành viên mới thi FTA đó sẽ trở nên rộng lớn hơn và dần bao gồm toàn bộnền thương mại thế giới
4.2.2 Tác động tiêu cực
Trang 24a/ FTA có thể làm suy yếu hệ thống thương mại hóa đa phương thông qua việc áp đặt hàng loạt các luật lệ về nguồn gốc xuất xứ khác nhau và phổ biến hóa
sự vi phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử thông qua các hiệp định thương mại
tự do song phương BFTA, thậm chí có thể phá vỡ các nguyên tắc cơ bản này của WTO.
Đây là quan điểm của những người không ủng hộ tự do hóa thương mại khuvực và việc hình thành các FTA, tiêu biểu như Jadish, Bhagwati (1993) [20], AnneO.Krueger (1997,1999) [26 & 27] Năm 1995, Bhagwati đã đưa ra khái niệm “hiệuứng bát mỳ ý” (Spagheti bowl) để mô tả tác động tiêu cực của các thảo thuậnthương mại ưu đãi đối với tiến trình đa phương hóa Ông chỉ ra rằng các FTAthường đưa ra quy định về xuất xứ hàng hóa (R.O.O) nhằm đảm bảo và duy trì lợiích thu được từ các ưu đãi thương mại của FTA cho các thành viên Tuy nhiên cácROO này thì lại khác nhau và được vận dụng khá tùy tiện, dẫn đến một mớ hỗn độnnhững quy định ưu đãi chồng chéo căn cứ theo xuất xứ hàng hóa Nếu một nướctham gia quá nhiều FTA mà các FTA này có những ROO khác nhau, nghĩa là quyđịnh tỷ lệ nội địa hóa khác nhau sẽ gây ra khó khăn trong việc xác định hàm lượngchất nội địa và gây rắc rối trong hoạt động xuất nhập khẩu Các chi phí giao dịchcủa hoạt động thương mại trong một mạng lưới vô số các FTA sẽ tăng lên và trởthành rào cản trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các nguyên tắc xuất
xứ khác nhau mang tính bảo hộ còn làm phá vỡ tính thống nhất và phân tách hệthống thương mại đa phương thành những vùng khác nhau
b/ Việc theo đuổi các FTA khu vực và song phương có nguy cơ làm chệch hướng nguồn lực và các nỗ lực thúc đẩy tự do hóa thương mại đa phương
Việc theo đuổi các FTA đòi hỏi các nguồn lực tài chính, kỹ thuật và nhân lựcrất lớn trong suốt quá trình nghiên cứu, đàm phán, thực thi Do đó với một nước nhỏthì việc tập trung nguồn lực vào các FTA có thể làm giảm nguồn lực dành cho cáchoạt động đàm phán tự do đa phương Ngay cả các nước lớn dù có nguồn lực dồidào để nghiên cứu FTA, sự quan tâm về mặt chính trị của các nhà lãnh đạo sẽ giảmnếu họ quá tập trung vào các FTA
Trang 25Theo đuổi các FTA còn có thể dẫn đến nguy cơ giảm sự ủng hộ đối với tiếntrình tự do hóa đa phương Trước đây, khi các nước chỉ có thể lựa chọn giữa bảo hộhay tự do hóa thương mại đa phương thì các lực lượng ủng hộ tự do hóa thương mại
có thể được tập hợp dưới lá cờ đa phương hóa Tuy nhiên, nếu họ còn có một sự lựachọn khác, đó là tự do hóa thương mại thông qua các FTA thì họ có thể chấp nhậnviệc tự do hóa trong khuôn khổ vùng Bhawati lo ngại sau khi đã đạt được giải pháphội nhập khu vực và song phương, các nhà kinh doanh và các chính trị gia sẽ khôngcòn động lực thúc đẩy tự do hóa đa phương nữa [20]
c/ FTA có thể làm gia tăng các hình thái bảo hộ mới
Một số quan điểm phản đối FTA cho rằng những quy định mang tính ưu đãichỉ dành riêng cho các thành viên FTA sẽ tạo ra những nhóm lợi ích mới và cácnhóm này sẽ cản trở quá trình cải cách bên trong vì họ không muốn mất đi vị thếthuận lợi tại thị trường do FTA tạo ra Thậm chí FTA có thể còn gây ra những xungđột và căng thẳng mới do bản chất của các “ưu đãi” là phân biệt đối xử với bên thứ
ba và bất kỳ để xuất nào nhằm mở rộng những “ưu đãi” riêng có đó cho những đốitác thương mại mới sẽ gây nên các xung đột lợi ích trong lòng xã hội Nghiên cứucủa De Melo và Pangariya (1993) [24] đã dẫn chứng quá trình hội nhập kinh tế ởTây Âu với nhận định rằng việc hình thành Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) đãtrở thành công cụ để nhân rộng những biện pháp bảo hộ nông nghiệp quốc gia ratoàn cấp độ khu vực, nghĩa là các hiệp định thương mại khu vực đã trở thànhphương tiện mở rộng chủ nghĩa bảo hộ sang quốc gia khác
d/ Các FTA có các thành viên quá chênh lệch về sức mạnh có thể dẫn đến áp đặt mô hình tự do hóa của các nước mạnh và gây khó khăn cho việc thống nhất mô hình hội nhập chung trong WTO
Một thực tế là ngày càng xuất hiện nhiều các FTA Bắc-Nam và điều đángnói là các nước mạnh thường gây sức ép và áp đặt những mô hình chính sách củamình, buộc các nước nhỏ phải tuân theo Cho dù sự mất cân bằng sức mạnh cũngtồn tại trong khuôn khổ thương mại tự do đa phương của WTO nhưng sức mạnh củacác nước lớn đã bị hạn chế đi nhiều do 2/3 số thành viên WTO là các nước đangphát triển và họ có quyền phủ quyết các quyết sách của WTO như họ đã làm trong
Trang 26Hội nghị Bộ trưởng Cancun Tuy nhiên, trong khuôn khổ FTA, các nước mạnh sẽ
dễ dàng hơn trong việc dùng quyền lực kinh tế và chính trị của mình để áp đảo đốitác yếu thế hơn Trường hợp Mỹ đã dùng sức mạnh nước lớn buộc Mexico phải kýhiệp định phụ về lao động và môi trường là một ví dụ điển hình
Không những vậy, các nước lớn đều muốn mô hình tự do hóa của mình là
mô hình được áp dụng chung cho WTO Những nước như Hoa Kỳ luôn luôn coi môhình tự do hóa của mình là mô hình mà các nước chỉ cần áp dụng và học tập ngay
cả trong WTO Trong khi các nước lớn vẫn dùng sức mạnh để áp đặt mô hình tự dohóa của mình và bản thân WTO vẫn chưa thống nhất được mô hình chính sáchchung (đặc biệt đối với những vấn đề nhạy cảm như lao động, môi trường, mua sắmchính phủ) thì việc áp dụng các mô hình khác nhau thông qua các FTA càng tăngthêm khó khăn cho việc đạt được sự đồng thuận cho một mô hình tự do thương mạithống nhất trong khuôn khổ đa phương
II TÌNH HÌNH KÝ KẾT CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO (FTA) TRÊN THẾ GIỚI
Xu hướng hình thành các FTA khu vực và song phương trong nền kinh tế thếgiới bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1980 và bùng nổ sau năm 1995 khi Tổchức thương mại thế giới (WTO) được thành lập
Theo thống kê của WTO, tính đến tháng 4/2008 đã có 169 Hiệp định Thươngmại tự do (FTA) được các nước thành viên thông báo tới GATT/WTO Có thể thấycác FTA đang gia tăng nhanh chóng về số lượng, đặc biệt là từ những năm 2000 trởlại đây.Tính trung bình mỗi năm trong hệ thống WTO có 11 FTA hình thành so vớicon số trung bình dưới 3 FTA trong hơn bốn thập kỷ hiệu lực của GATT (1947-1994) Hiện nay, giá trị trao đổi thương mại giữa thành viên của các thành viênHiệp định thương mại tự do/khu vực kể trên đã chiếm tới 40% tổng giá trị thươngmại toàn cầu
1 Khu vực châu Âu
1.1 Khu vực Tây Âu
Châu Âu được coi là khu vực tập trung nhiều nhất các thỏa thuận thương mạikhu vực [23] Liên minh châu Âu (EU) là nhóm nước tích cực triển khai các FTA
Trang 27song phương và khu vực nhất Trước khi được mở rộng thành EU-25, EU-15 đã kýkết tổng cộng 111 hiệp định song phương và khu vực với các nước Cụ thể, tới nay
EU đã ký kết và thực thi các FTA với Tuynizi (1995), Irsarel (1995), Ma rốc(1996), Giooc-đani (1997), chính quyền Palestine (1997), Algeria (2001), Hy Lạp(2001) và Li-băng (2002) Các sáng kiến FTA với nhóm nước đáng chú ý là Hiệpđịnh với nhóm nước Địa Trung Hải (EU-Mediterran FTA), với nhóm nước ACP(EU-ACP FTA) thay thế cho Hiệp ước Lôme, FTA với Hội đồng hợp tác VùngVịnh (GCC) và FTA với khối Mercosur
Sau khi EU -15 mở rộng thêm 10 thành viên mới thành EU-25 vào ngày1/5/2004, số lượng các FTA trong EU đã giảm mạnh do việc kết nạp 10 thành viênmới đã tự động “làm vô hiệu” 65 FTA giữa 10 thành viên mới với các thành viênEU-15 và giữa 10 thành viên mới với bên thứ ba trước khi kết nạp Song không gianthị trường chung châu Âu giờ đây đã gồm 28 nước (EU-25 cộng với 3 thành viêncủa EFTA) với 450 triệu dân và chiếm 18% nền thương mại thế giới Nhìn chung,các hiệp định thương mại tự do trong khuôn khổ EU là một bộ phận của quá trìnhtăng cường nhất thể hóa châu Âu về mặt kinh tế và chính trị Do vậy, các hiệp địnhthương mại tự do của EU sẽ có xu hướng tích hợp thành các hiệp định rộng lớn hơn
1.2 Khu vực Trung và Đông Âu
Sự phân rã của Liên bang Xô-viết và giải tán Hội đồng tương trợ kinh tế
(COMECON) đã tạo ra 3 chiều hướng liên kết khu vực tại Trung và Đông Âu Thứ
nhất, một số nước kinh tế chuyển đổi Trung và Đông Âu đã gia nhập các FTA của
EU và EFTA Thứ hai, Liên bang Nga cùng các nước thành viên cũ của Liên bang
Xô-viết đã nhanh chóng thành lập không gian Cộng đồng các quốc gia độc lập
(CIS) với 11 thành viên và không gian kinh tế thống nhất với 5 thành viên Thứ ba,
mặc dù thuộc nhóm các nền kinh tế chuyển đổi, vào đầu thập niên 1990, một sốnước Trung và Đông Âu cũng sớm cùng nhau thành lập nên hai khu vực thươngmại tự do để thúc đẩy tự do hóa thương mại khu vực là (1) Khu vực thương mại tự
do Trung Âu (CEFTA) ký năm 1992, gồm Balan, Hungari, CH Séc, Slovakia sau đó
mở rộng ra Rumani, Bungari và Slovenia; và (2) Khu vực thương mại tự do Ban-tic(BFTA) gồm Estonia, Latvia và Lít-va
Trang 282 Khu vực châu Mỹ
2.1 Khu vực Bắc Mỹ
Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) ra đời năm 1994 đánh dấu bướcngoặt trong nhận thức cũng như hành động về liên kết kinh tế khu vực của Mỹ nóiriêng và tạo ra “hiệu ứng Đôminô” với một loạt các quốc gia khác trên thế giới Sovới EU thì Bắc Mỹ đi sau nhiều trong liên kết kinh tế và thương mại khu vực
Làn sóng ký kết FTA diễn ra rất mạnh mẽ trong khu vực, ngay cả nhữngquốc gia vốn rất “chung thủy” với vòng đàm phán đa phương như Mỹ nay cũngchuyển hướng mạnh mẽ sang xu thế hội nhập mới này Trước khi có NAFTA, Mỹcũng đâ ký FTA với Isarel vào năm 1985 nhưng lúc đó chủ yếu mang động cơ chínhtrị, an ninh hơn là kinh tế Các tiếp cận FTA khu vực và song phương của Mỹ đượcđẩy mạnh dưới thời chính quyền Bush (2001-2004) với quan điểm “cạnh tranhtrong tự do hóa thương mại” Chỉ trong năm 2004, Mỹ đã tiến hành ký kết 9 FTAsong phương với các nước và khối nước trên thế giới, cao hơn tổng số FTA Mỹ đã
ký trước đó
Các đối tác FTA khu vực và song phương đáng chú ý của Mỹ là Gióc-đan(2003), Chile (2003), Singapore (2003), Australia (2004), Maroc (2004), 5 nướcthuộc Thị trường chung Trung Mỹ (CACM) (DR-CAFTA 2004) và Baranh (2004).Hiện nay chính phủ Mỹ đang tiến hành đàm phán ký kết FTA song phương, tiểukhu vực và khu vực với 10 nền kinh tế khác nữa (như Colombia, Ecuado, Peru,Panama, SACU và Thái Lan) Mỹ cũng đang nghiên cứu khả thi về FTA với mộtloạt nước như Bolivia, Hy Lạp, New Zealand, Pakistan, Philippine, Đài Loan (TQ)
và Urugoay [31] Mới đây nhất, Mỹ và Hàn Quốc đã ký FTA song phương(KORUSFTA) và đang trong quá trình chờ Quốc hội hai nước phê chuẩn
2.2 Khu vực Trung và Nam Mỹ
Ngay từ thập kỷ 1960, các nước Mỹ La-tinh đã thành lập Khu vực mậu dịch
tự do Mỹ La-tinh (LAFTA) Trong xu hướng hình thành FTA hiện nay, khu vựcTrung và Nam Mỹ này cũng hết sức tích cực với các thỏa thuận thương mại songphương và nội khối với mục tiêu cao nhất là hình thành một liên minh thuế quanđầy đủ Khối Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Cộng đồng Andean
Trang 29(Adean Community), Khối Thị trường chung Trung Mỹ (CACM) và Cộng đồngCaribe (CARICOM) là những ví dụ sinh động.
Xét ở bình diện toàn châu lục, xu hướng hình thành FTA ở châu Mỹ đangđược triển khai theo hướng lập nên Khu vực Thương mại tự do toàn châu Mỹ(FTAA) với 34 thành viên, một sự kêt nối NAFTA với MERCOSUR, Cộng đồngAdean, CACM và Caricom Kế hoạch này được khơi xướng tại Hội nghị Thượngđỉnh các nước châu Mỹ tại Miami (Mỹ) năm 1994, sau đó được nguyên thủ 34 nướcthành viên chính thức phê chuẩn (kế hoạch trù bị với 9 nhóm đàm phán và 3 ủy banđặc biệt) tại Hội nghị thượng đỉnh các nước châu Mỹ tại Santiago (Chile) năm 1998
Xét riêng từng quốc gia, có lẽ Mexico và Chile là những thành viên tích cựccuộc chơi song phương nhất Sau khi tham gia NAFTA, Mexico chuyển hướng kýkết FTA với một loạt nước Trung và Nam Mỹ và châu Âu như với Costa Rica(1995), Bolivia (1995), Nicaragoa (1998), EU (2000), EFTA (2001) và gần đây làNhật Bản (2004) Chile cũng tiến hành chiến lược FTA rộng khắp của mình vớiviệc hình thành FTA với khối MERCOSUR (1996), Canada (1997), Peru (1998),Mexico (1999), các nước Trung Mỹ (2002), Mỹ (2003), EU (2003) và Hàn Quốc(2004)
3 Khu vực châu Á
Tại khu vực châu Á, cùng với những kế hoạch hành động của Diễn đànAPEC, một loạt sáng kiến thỏa thuận Khu vực mậu dịch tự do đã được triển khai từnhững năm 1990 và phát triển mạnh mẽ thời gian gần đây như các thỏa thuận vàsáng kiến FTA sau: Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận quan hệkinh tế gần gũi hơn Australia-New Zealand (CER), Khu vực Thương mại tự doASEAN-Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Ấn Độ(AIFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế ASEAN-Nhật Bản (AJEPA), Hiệp định Thươngmại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA), Khu vực Thương mại tự do Nam Á(SAFTA), Hiệp định Thương mại tự do Đông Á (EAFTA)…
3.1 Khu vực Đông Á
Cho đến năm 2002 khi Nhật Bản và Singapore ký FTA song phương(JSEPA) thì AFTA (1992) vẫn là sự thử nghiệm FTA đầu tiên và duy nhất với mục
Trang 30tiêu thúc đẩy thương mại nội khối ASEAN Song kể từ năm 1999, tại Đông Á đãbùng nổ các nỗ lực FTA song phương (BFTA), mở đầu là Singapore, sau đó là NhậtBản, Hàn Quốc tuyên bố diễn đàn đa phương WTO không còn là sự lựa chọn duynhất [3] Trung Quốc và Thái Lan cũng nhanh chóng đưa ra các sáng kiến FTAsong phương của mình ASEAN với tư cách là một khối thống nhất cũng tăngcường thiết lập các cam kết FTA với một loạt các nước đối thoại chính nhưAustralia và New Zealand (thuộc CER), Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và ẤnĐộ.
3.2 Khu vực Nam Á
Bảy quốc gia trong khu vực đã thành lập Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á(SAARC) từ năm 1985 và sau một thập kỷ SAARC đã đạt được thỏa thuận về Hiệpđịnh Thương mại ưu đãi khu vực Nam Á (SAPTA) năm 1995 Bước tiếp theo,SAARC đã tuyên bố thời hạn chót cuối năm 2002 cho việc hình thành Hiệp hộithương mại tự do Nam Á (SAFTA) Những bước hội nhập kinh tế Nam Á kể trêncho thấy khu vực này cũng không nằm ngoài xu hướng hình thành FTA trên thếgiới Nền kinh tế lớn nhất Nam Á là Ấn Độ gần đây cũng đã có nhiều cải cách kinh
tế theo hướng mở cửa và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế với một loạt các đề xuấtliên kết kinh tế khu vực và song phương như tham gia SAPTA, thành lập FTA vớiNepan (INFTA) và Butan (IBFTA), đàm phán ký với ASEAN thỏa thuận lậpAIFTA (2003) và một số FTA song phương khác
4 Khu vực Trung Đông và châu Phi
4.1 Khu vực Trung Đông
Tại khu vực này, ngoài các hiệp định giữa Tổ chức hợp tác Vùng Vịnh(GCC) với EU và Mỹ, hiệp định giữa nhóm các nước Địa Trung Hải với EU, thìGióoc-đan và Ma-rốc là hai quốc gia tích cực nhất trong việc theo đuổi FTA songphương với bên ngoài Hiện cả hai quốc gia này đều đã có FTA song phương với
Mỹ và EU Bên cạnh đó còn phải kể đến sự xuất hiện mới đây của Khu vực Thươngmại tự do Ả-rập (GAFTA) bao gồm toàn bộ các quốc gia Ả-rập, tuy rằng GAFTAvẫn chưa thông báo với WTO
4.2 Khu vực châu Phi
Trang 31Các nước châu Phi từ lâu cũng tiến hành ký kết nhiều thỏa thuận và hiệp ướctăng cường liên kết kinh tế châu lục Lâu đời nhất phải kể đến Liên minh thuế quanNam châu Phi (SACU), bên cạnh đó là Liên minh Tài chính và Tiền tệ Trung Phi(CEMAC), Cộng đồng kinh tế Tây Phi (ECOWAS), Hiệp định Thị trường chungĐông và Nam Phi (COMESA), Cộng đồng Đông Phi (EAC), Hiệp định Aghadirvùng Bắc Phi, Nghị định thư Hợp tác thương mại của Cộng đồng phát triển vùngNam Phi (SADC TCP)…
Ngày nay, các nước châu Phi cũng đang phát tiến hành xây dựng các Hiệpđịnh đối tác kinh tế (EPA) với bên ngoài như với EU Tuy nhiên, cấp độ hợp tác vàhội nhập của châu Phi vẫn ở mức thấp so với các khu vực khác trên thế giới
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO TRONG KHU VỰC ASEAN
Trang 32I KHU VỰC ASEAN VÀ SỰ HÌNH THÀNH FTA Ở ASEAN
1 Giới thiệu chung về ASEAN
ASEAN được thành lập ngày 8/8/1967 sau khi Bộ trưởng Bộ ngoại giao cácnước Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore và Thái Lan ký bản tuyên bốASEAN (còn gọi là Tuyên bố Bangkok) Hiện nay tổ chức này có 10 hội viên baogồm 5 nước hội viên nguyên thủy và 5 hội viên gia nhập sau này là BruneiDarussalam (8/1/1984), Việt Nam (28/7/1995), Lào và Myanma (23/7/1997),Campuchia (30/4/1999) Trong thập kỷ 1990, ASEAN nổi lên như là một tổ chứctiểu khu vực hoạt động năng nổ và hữu hiệu, tuy nhiên cuộc khủng hoảng kinh tế-tàichính giữa năm 1997 đang đặt ra một số thách thức lớn đối với ASEAN
Cho tới nay, sau 40 năm thành lập và phát triển, ASEAN được xem là khuvực có tốc độ phát triển kinh tế cao và được coi là một tổ chức khu vực thành côngnhất trong những nước đang phát triển Hiện nay ASEAN trở thành thị trường quantrọng và hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, với dân số hơn 500 triệu người,diện tích rộng 4.5 triệu km2, GDP đạt 757 tỷ USD và tổng kim ngạch xuất khẩuhàng năm đạt khoảng 340 tỷ USD
ASEAN đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc tự do hóa thươngmại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư Thương mại nội khối hiện nay đã đạt hơn 320 tỷUSD mỗi năm Nỗ lực của ASEAN trong tự do hóa thương mại có thể được tính từkhi thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 Từ đó đến nay,thuế quan trong khu vực đã được cắt giảm một cách đáng kể ASEAN cũng đã từngbước giảm thiểu hàng rào phi thuế quan đối với thương mại Bên cạnh đó, ASEANcũng đã có những tiến triển tích cực trong tự do hóa thương mại dịch vụ, mở cửathu hút đầu tư, hợp lý hóa thủ tục hải quan, hài hòa các tiêu chuẩn và giảm khoảngcách phát triển Để thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, 12 ngành ưu tiên được xácđịnh là nông sản, thủy sản, đồ gỗ, dệt may, cao su, ô tô, điện tử, du lịch, hàngkhông, chăm sóc sức khỏe, e-ASEAN và logistics 9 trong số 12 ngành trên chiếmtới trên 50% tổng thương mại hàng hóa
ASEAN có tiềm năng lớn về nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên.Không chỉ hợp tác trong nội bộ khối, ASEAN còn mở rộng quan hệ đối thoại với
Trang 33các đối tác bên ngoài và giữ vai trò hạt nhân trong nhiều khuôn khổ hợp tác quốc tếnhư ARF (the ASEAN Regional Forum), ASEM (the Asia-Europe Meeting), APEC(Asia-Pacific Economic Cooperation), WEF (World Economic Forum)… Qua đó,ASEAN đã tranh thủ được sự ủng hộ hợp tác về kinh tế từ bên ngoài, mang lạinhiều lợi ích thiết thực cho sự phát triển của tổ chức mình.
Trong suốt chặng đường của mình, ASEAN đã đạt được những thành tựuquan trọng, song cũng phải thừa nhận rằng sự liên kết hợp tác giữa các nướcASEAN vẫn chưa thực sự sâu rộng, đặc biệt là sự chênh lệch về trình độ phát triểngiữa các nước thành viên
Để khắc phục điều này, năm 2000 các nhà lãnh đạo của các nước ASEAN đãthông qua “sáng kiến liên kết ASEAN” với mục tiêu giúp các nước thành viên mớinhanh chóng hội nhập cùng với khu vực; đồng thời, để làm cho ASEAN ngày càngtrở nên gắn kết chặt chẽ hơn, có vai trò và vị thế quốc tế cao hơn, ASEAN đã quyếtđịnh hình thành “Cộng đồng ASEAN” vào năm 2015 Hiện nay, các nước thànhviên ASEAN đang cố gắng hoàn tất để thông qua “Hiến chương ASEAN”, đây sẽ làmột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của tổ chức ASEAN, góp phần đưaASEAN trở thành một Cộng đồng gắn bó, hoạt động hiệu quả hơn, năng động hơn,thích ứng với các thách thức mới Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN làxây dựng ASEAN từ một Hiệp hội trở thành một tổ chức hợp tác liên chính phủ,liên kết chặt chẽ và gắn bó hơn nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia vàhoạt động sẽ không khép kín, luôn có xu hướng mở rộng hợp tác với bên ngoài
ASEAN đã thu được rất nhiều thành tựu trong quan hệ kinh tế đối ngoạitrong khu vực châu Á cũng như trên thế giới, nhờ có sức mạnh tập thể mà nhóm cácquốc gia đang phát triển này ngày càng nâng cao vị thế và tiếng nói trên trườngquốc tế.Trước làn sóng hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu, ASEAN đang dần đóngvai trò trung tâm trong các liên kết kinh tế khu vực, đặc biệt là khu vực Đông Á, trởthành tâm trục của một loạt các liên kết khu vực và song phương thông qua các sángkiến ASEAN+1, ASEAN+3 hay ASEAN+6…
Tóm lại, dù còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng tronghơn 40 năm qua, ASEAN có thể tự hào nhìn lại những thành tựu về sự phát triển
Trang 34của mình Và một thực tế không thể phủ nhận là ASEAN đang dần trở thành mộtthực thể chính trị- kinh tế gắn kết hơn, có vị thế quốc tế lớn hơn và là một đối táckhông thể thiếu đối với các quốc gia lớn trong khu vực và trên thế giới
2 Một số nhân tố thúc đẩy và cản trở xu hướng hình thành FTA ở ASEAN
2.1 Các nhân tố thúc đẩy
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao các quốc gia ASEAN lại chuyển hướngmạnh mẽ sang chính sách thương mại hướng vào hội nhập khu vực và tự do hóathương mại song phương thay vì chỉ tập trung vào kênh tự do hóa thương mại đaphương như trước, đâu là nhân tố thúc đẩy xu hướng đàm phán và ký kết hàng loạt
lộ trình FTA song phương và khu vực tại ASEAN
Nhìn lại bối cảnh những năm 1980 cho thấy sự khác biệt lớn về hệ thốngkinh tế-chính trị, trình độ phát triển kinh tế khiến cho chi phí hình thành các mốiliên kết kinh tế chính thức là cao và phương cách tốn ít chi phí hơn chính là sự hộinhập không chính thức của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong khu vực với nhau
Có thể nói môi trường quan hệ quốc tế trong khu vực trong thập kỷ này trở về trước
đã không thuận lợi để chính phủ các quốc gia ASEAN có thể đi đến các cam kết hộinhập chính thức ở cấp vĩ mô
Bước sang thập kỷ 1990 và đặc biệt sau khi WTO ra đời, xu hướng hìnhthành các FTA đã trở thành một biểu hiện mới của quan hệ kinh tế quốc tế trongthời đại toàn cầu hóa ngày nay, nó được thúc đẩy và định hình từ những nền tảngcủa cuộc cách mạng khoa học-công nghệ và cuộc cách mạng trong tư duy chínhsách Sau đây là những nhân tố nổi bật trong việc thúc đẩy và định hình xu hướnghội nhập kinh tế khu vực một cách chính thức ở cấp vĩ mô, liên chính phủ thông quaviệc ký kết nhiều lộ trình FTA trong khu vực ASEAN những năm gần đây
Thứ nhất, xu thế toàn cầu hóa kinh tế và công nghệ diễn ra rộng khắp từ sau các “cú sốc dầu mỏ” hồi thập kỷ 1970 và Chiến tranh lạnh kết thúc hồi cuối thập kỷ 1980 tạo môi trường thuận lợi cho các sáng kiến hội nhập giữa các quốc gia và khu vực.
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng nổi trội trong quan hệ kinh tế quốc tếhiện đại và là nhân tố không thể bỏ qua khi phân tích nguồn gốc của xu hướng hình
Trang 35thành các FTA giữa các quốc gia ngày nay Toàn cầu hóa kinh tế ngày nay đặctrưng bởi môi trường lưu hoạt cao của các nhân tố sản xuất như vốn, lao động vàcác sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, môi trường công nghệ kỹ thuật số với nhiều tácnhân mới như các tập đoàn xuyên quốc gia, các định chế quốc tế, các thể chế siêunhà nước và xã hội dân sự toàn cầu [8] Chính những đặc trưng này khiến cho cácquốc gia ngày càng tương thuộc lẫn nhau và đều phải hoạch định đối sách thích hợptrước làn sóng toàn cầu hóa kinh tế Về mặt kinh tế, bên cạnh các khung khổ đaphương toàn cầu như WB, IMF và GATT/WTO, hội nhập và liên kết khu vực cũng
là một kênh điều chỉnh chính sách quan trọng trước sức ép cạnh tranh mạnh mẽ củalàn sóng toàn cầu hóa kinh tế
Môi trường công nghệ mới và sức ép cạnh tranh kinh tế toàn cầu buộc cácchính phủ phải tiên phong mở cửa thị trường ở cả cấp độ khu vực và song phương,tạo điều kiện cho doanh nghiệp nước mình “vượt trước” các đối thủ cạnh tranh nướcngoài Liên kết kinh tế khu vực không chỉ tạo ra một môi kinh tế-chính trị ổn định,đảm bảo các điều kiện tiếp cận thị trường, đạt được hiệu quả kinh tế từ quy mô thịtrường lớn hơn, mà còn giúp tăng vị thế mặc cả của một tập hợp các nền kinh tế cóquy mô nhỏ và trung bình
Như phân tích ở phần trên, liên kết kinh tế đã và đang diễn ra ở hầu khắp cácchâu lục, song sự bùng nổ thực sự chỉ diễn ra từ cuối thập kỷ 1980, thời điểm Chiếntranh lạnh kết thúc Chiến tranh lạnh kết thúc đã phá vỡ rào cản về ý thức hệ, mởrộng không gian thị trường cho các sáng kiến liên kết kinh tế khu vực và songphương Chiến tranh lạnh kết thúc cho phép chính phủ các quốc gia chuyển hướngnguồn lực sang phát triển kinh tế trong một môi trường quốc tế mà hòa bình, hợptác và phát triển là chủ đạo
Thứ hai, thực tiễn thành công trong hội nhập kinh tế khu vực của EU trong suốt nửa sau thế kỷ XX
Cộng đồng châu Âu (EC) mà sau này là Liên minh châu Âu (EU)- một ví dụthực tiễn thuyết phục về hội nhập kinh tế khu vực trong nền kinh tế thế giới - đã
Trang 36thành công trong liên kết kinh tế khu vực thông qua hình thành các Hiệp địnhthương mại tự do khu vực và phát triển thành Liên minh thuế quan, rồi Liên minhkinh tế và chính trị.
Những nỗ lực liên kết khu vực đầu tiên ở châu Âu được triển khai ngay saukhi kết thúc Thế chiến II với sự ra đời của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu (OEEC)năm 1948, sau đó là Hội đồng châu Âu (CE) năm 1949 Bước ngoặt quan trọng làviệc ký kết Hiệp ước Pari 1952, tạo cơ sở cho sự ra đời của Cộng đồng Than vàThép châu Âu (ECSC) cũng trong năm đó Các hiệp ước và thỏa ước hội nhập khuvực quan trọng trong suốt nửa cuối thế kỷ XX đã đưa đến sự ra đời của Cộng đồngkinh tế châu Âu (EEC), rồi Cộng đồng châu Âu (EC) và Liên minh châu Âu (EU)
Có thể nói sự thành công trong liên kết kinh tế khu vực của châu Âu cùngvới làn sóng hội nhập kinh tế toàn cầu từ sau chiến tranh lạnh đã tác động mạnh mẽtới xu hướng tăng cường liên kết kinh tế khu vực và song phương của Cộng đồngcác quốc gia Đông Nam (ASEAN)- tổ chức vốn được hình thành để phục vụ chonhững mục tiêu an ninh-chính trị
Thứ ba, chuyển hướng chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ từ giữa thập
kỷ 1980 sang chủ nghĩa khu vực và song phương khiến các quốc gia khác phải điều chỉnh chính sách tương ứng.
Mỹ chuyển hướng mạnh sang liên kết khu vực và song phương từ giữa thập
kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990 qua việc ký NAFTA, các FTA với Isarel, Canada, đa-ni… và hơn 300 hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phươngtrong suốt hai nhiệm kỳ của tổng thống B.Clinton (1993-2000) Các nỗ lực hìnhthành FTA song phương đặc biệt mạnh mẽ dưới thời tổng thống Bush (2001-2004)với chiến lược “cạnh tranh trong tự do hóa” (competitive liberalization) tạo ra cạnhtranh, đua tranh trong các sáng kiến tự do hóa thông qua một loạt các thỏa thuậnsong phương
Gióc-Chính quyền Bush trong nhiệm kỳ đầu (2001-2004) đã chủ trương chú trọnghơn tới các sáng kiến tự do hóa thương mại khu vực và song phương Chiến lượcthúc đẩy các thành viên hệ thống thương mại thế giới cạnh tranh với nhau trong xuhướng tự do hóa thương mại được thực hiện ở cả ba cấp độ song phương, khu vực
Trang 37và đa phương Theo đó, Mỹ sẵn sàng đàm phán tự do hóa thương mại với các quốcgia muốn hình thành các FTA song phương hay khu vực với Mỹ, nhờ đó tạo sức épcạnh tranh lên các đối tác thuộc kênh đa phương.
Sự chuyển hướng chiến lược của Mỹ, thị trường quan trọng nhất của nhiềunền kinh tế cũng như hệ thống thương mại thế giới, sang tự do hóa thương mại khuvực và song phương đã kéo theo “phản ứng dây chuyền” của hàng loạt các quốc giavốn phụ thuộc vào thị trường Mỹ, trong đó có nhóm nước ASEAN, theo đó hướngtới hình thành các FTA song phương và khu vực với Mỹ
Thứ tư, vai trò ngày càng ảnh hưởng của mạng lưới sản xuất và dịch vụ
do các công ty xuyên quốc gia (TNC) chi phối
Các tập đoàn xuyên quốc gia cùng với mạng lưới sản xuất và dịch vụ toàncầu của mình đang ngày càng chi phối nền sản xuất và thương mại thế giới Với vaitrò “nhạc trưởng” của các mạng lưới sản xuất quốc tế, các tập đoàn xuyên quốc gia
có tiếng nói quyết định đối với các dòng vốn đầu tư và thương mại quốc tế, do đólàm thay đổi mức độ chuyên môn hóa và cơ cấu phân bổ nguồn lực sản xuất toàncầu Các quốc gia có nền thương mại mở cửa và tích cực thu hút dòng vốn đầu tưnước ngoài (FDI), đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, sẽ có khả năng thíchứng với những thay đổi trên, bằng không sẽ bị gạt ra khỏi các mạng lưới phân cônglao động quốc tế của các TNC
Bài toán chính sách đặt ra chính là chính phủ các nước phải làm gì khi cáccông ty của họ không đủ mạnh về tài chính và năng lực công nghệ để có thể gianhập các mạng lưới phân công lao động quốc tế vốn đang nắm vai trò chủ đạo trongnền kinh tế thế giới? Từ trước tới nay, điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hóa,tăng cường ưu đãi để thu hút FDI vẫn là những giải pháp chính sách được lựa chọn.Song trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu khốc liệt hiện nay, rõ ràng các giải phápchính sách đó là không đủ Việc hình thành các FTA chính là phản ứng chính sáchmới của các chính phủ cấp quốc gia trước đòi hỏi của hội nhập và phát triển Bêncạnh nhiều lợi ích kinh tế thường thấy, các FTA được ký kết chính là các cam kếtchính trị và chính sách dài hạn của chính phủ một quốc gia trước cộng đồng doanh
Trang 38nghiệp, nhờ đó có thể giúp nền sản xuất của quốc gia đó tiếp cận và tham gia vàomạng lưới phân công lao động của các tập đoàn xuyên quốc gia.
Nhìn từ góc độ của các TNC, việc thúc đẩy chuyên môn hóa chuỗi sản xuất
và cung ứng theo khu vực, vùng địa lý cho phép đạt hiệu quả kinh tế quy mô trongsản xuất các đầu vào bán thành phẩm, giúp doanh nghiệp tận dụng các mức chi phíđầu vào khác nhau giữa các khu vực, nền kinh tế, từ đó giúp tăng năng suất CácFTA được ký kết giữa các chính phủ cho phép các TNC dự liệu được những thayđổi chính sách hay dự tính được lợi ích tiềm năng của các nguồn lực thị trường
Tóm lại, vai trò ngày càng ảnh hưởng của các TNC trong nền sản xuất vàthương mại thế giới đã khiến cho các chính phủ cấp quốc gia phải tăng cường cáccam kết của mình thông qua việc hình thành các thỏa thuận thương mại có tính ràngbuộc cao
Thứ năm, khiếm khuyết của hệ thống thương mại đa phương thể hiện qua sự hạn chế của khuôn khổ pháp lý GATT/WTO và sự bế tắc của Vòng đàm phán Đô-ha (DDA) trước những vấn đề mới trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Khuôn khổ pháp lý của GATT/WTO hiện nay cũng chưa đủ để điều tiết mộtloạt vấn đề mới trong quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay như hoạt động đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI), thương mại dịch vụ, dịch chuyển lao động hay các vấn đềthương mại mới
Vòng đàm phán đa phương Đô-ha vì Phát triển (DDA) hiện đang bế tắc vìnội dung đàm phán đã được mở rộng sang những lĩnh vực phi thuế quan và ngoàiphạm vi thương mại thuần túy nêu trên Các nước phát triển và đang phát triểnkhông nhất trí được với nhau vấn đề trợ cấp nông sản, tiêu chuẩn lao động và môitrường Trong nhóm các nền kinh tế phát triển, mà tiêu biểu là Mỹ và EU, cũng bấtđồng về chương trình nghị sự của Vòng đàm phán Đô-ha vì Phát triển, đặc biệttrong “các vấn đề Singapore” gồm minh bạch trong mua sắm chính phủ, thuận lợihóa thương mại, chính sách đầu tư và chính sách cạnh tranh
Nguyên tắc của GATT/WTO là không phân biệt đối xử, theo đó các quốc giathành viên dành cho nhau tối huệ quốc và đối xử quốc gia Tuy nhiên khuôn khổ
Trang 39GATT/WTO cũng không ngăn cấm việc hai hay một số nước thảo thuận với nhau vềmức độ tự do hóa sâu hơn và rộng hơn những gì đã cam kết trong GATT/WTO Do đó,hơn một nửa số hiệp định thương mại khu vực (RTA) ra đời sau khi thành lập WTO.
Thứ sáu, hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997-1998
và sức ép cải cách bên trong mỗi quốc gia ASEAN
Khủng hoảng kinh tế khu vực năm 1997-1998 buộc các quốc gia phụ thuộcquá nhiều vào xuất khẩu như các nền kinh tế ASEAN phải tìm kiếm động lực cảicách và tăng trưởng mới, chuyển hướng liên kết kinh tế đối ngoại sang liên kết khuvực và song phương Đối với các quốc gia ASEAN, thị trường nước ngoài, đặc biệt
là thị trường các nước phát triển như khu vực Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản trởthành điều kiện tiên quyết duy trì đà tăng trưởng của các nền kinh tế này
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế này, các chính phủ quốc gia phải đứng ra đảmnhận vai trò lớn hơn trong việc mở cửa thị trường và tạo thuận lợi cho dòng thươngmại và đầu tư của doanh nghiệp Sức ép cải cách trong nước buộc các chính phủphải sử dụng FTA như là các công cụ chính sách mới để đạt được các mục tiêuthương mại và phát triển Bên cạnh các cải cách cơ cấu để lành mạnh hóa nền kinh
tế, chính phủ các quốc gia cũng nhận ra rằng nếu chậm chân trong việc ký kết cácFTA song phương và khu vực, thị trường và các ưu đãi sẽ rơi và tay doanh nghiệpcác quốc gia khác Nhân tố này khiến các quốc gia ASEAN phải tích cực tìm kiếmcác FTA của riêng mình trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước xuất khẩu khác
Thứ bảy, làn sóng đàm phán và ký kết FTA đang dâng lên mạnh mẽ trên thế giới và đặc biệt là khu vực các quốc gia Đông Á khiến các nước ASEAN không thể đứng ngoài xu hướng thời đại
Ngoài ra trước sức ép cạnh tranh từ sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nền kinh tế lớntrong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản…ASEAN buộc phải tăng cườngliên kết nội khối cũng như các liên kết khu vực nhằm đảm bảo giữ vững thị trường-mộttrong những mục tiêu sống còn của những nền kinh tế đang phát triển phụ thuộc nhiềuvào xuất khẩu này Ngoài ra, việc bản thân khối ASEAN đã có truyền thống và cơ chếhợp tác định hình cũng là một thuận lợi trong việc xúc tiến các lộ trình FTA chung cho
Trang 40cả khối với những đối tác chiến lược tầm cỡ, những thị trường phát triển đảm bảomang lại nhiều lợi ích kinh tế cho các quốc gia thành viên
2.2 Nhân tố cản trở
Nhân tố cản trở chính đối với việc hình thành các sáng kiến FTA ở khu vựcASEAN đó là việc vẫn tồn tại nhiều sự khác biệt giữa các thành viên ASEAN vềquan điểm an ninh, chính trị, đối ngoại, đặc biệt là sự chênh lệch về trình độ pháttriển kinh tế
Trong khu vực ASEAN tồn tại nhiều cấp độ phát triển kinh tế khác nhau tạonên khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, đặc biệt là giữa nhóm cácthành viên sáng lập ASEAN và nhóm CLMV-hay còn gọi là ASEAN 4(Campuchia, Lào, Mianma, Việt Nam)
Chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế dẫn đến việc xác định khác nhau giữacác lợi ích và vấn đề được ưu tiên trong hợp tác, kéo theo sự bất đồng trong việc hoạchđịnh các mục tiêu, chính sách và biện pháp thực hiện Khoảng cách chênh lệch trêncũng tạo bất lợi đối với các nước kém phát triển trong phân công lao động quốc tế docác nước lớn có lợi thế hơn về vốn, công nghệ và khả năng cạnh tranh
Mặt khác, các nền kinh tế nhỏ với trình độ phát triển thấp có lợi ích giới hạntrong quy mô khu vực thường e ngại trước những thách thức toàn cầu hóa và khôngmuốn bị ràng buộc quá nhiều vào những đối tác lớn Trong khi đó các nền kinh tếlớn với những lợi ích xuyên khu vực không chia sẻ quan điểm tương tự vì họ muốntận dụng những lợi thế của toàn cầu hóa cũng như tranh thủ nâng cao địa vị quốc tếcủa mình ASEAN gặp phải vấn đề này không chỉ giữa các thành viên mới và cũ màngay cả giữa các thành viên cũ
Mặc dù gặp phải một số khó khăn, cản trở xu hướng tăng cường hội nhậpkinh tế khu vực ASEAN nói chung và hình thành các FTA trong khu vực nói riêng,
các nhân tố thúc đẩy vẫn là chủ đạo vì các quan hệ kinh tế thị trường đã và đang
diễn ra mạnh mẽ, trở thành động lực giải quyết những rào cản về chính trị, lịch sử
và văn hóa-xã hội