1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội theo BLHS Việt Nam năm 1999

54 435 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 224 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy trong BLHS Việt Nam năm 1999 đã có những quy định riêng về trách nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội tại chương X, trong đó cónhững quy định về các biện pháp tư pháp và hình phạt

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta chủtrương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủnghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hơnmười sáu năm thực hiện, chúng ta không thể phủ nhận những thành tựu màkinh tế thị trường mang lại đáng khả quan như tổng sản phẩm quốc nội tăngnhanh, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện, trình độ dân trí nângcao… Tất cả những kết quả đáng mừng ấy đã tạo đà cho đất nước ta bước

đi vững chắc trong những năm tiếp theo Bên cạnh những khả quan đó,chúng ta cũng gặp không ít khó khăn do phải đối phó với những vấn đề

phức tạp mà “mặt trái” của nền kinh tế thị trường mang lại như nạn thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội Chính những ”mặt trái”

đó là mầm mồng cho sự phát sinh, tồn tại và gia tăng của các loại tội phạm,trong đó có tội phạm người chưa thành niên

Trong những năm gần đây, tình trạng phạm tội của người chưa thànhniên gia tăng về số lượng và ngày càng có chiều hướng phức tạp Điều nàyphần nào gây ra sự lo lắng cho bất cứ ai quan tâm đến thế hệ trẻ, quan tâmđến tương lai của đất nước Đã có nhiều bài viết nghiên cứu liên quan tớiviệc phạm tội của người chưa thành niên (NCTN), và cũng đề xuất nhiềugiải pháp trong phòng chống loại tội phạm này Tuy nhiên trên thực tế sốlượng người NCTN phạm tội vẫn chưa giảm Một trong những nguyênnhân của tình trạng gia tăng tội phạm chưa thành niên một phần do sự nắmbắt các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam (BLHS) năm 1999, đặc biệt

là các quy định liên quan tới các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụngđối với NCTN phạm tội Mặt khác bản thân các quy định này cũng bộc lộnhững hạn chế

Trang 2

Việc phân tích, nhân thức đúng các quy định của luật hình sự sẽ là cơ

sở của việc vận dụng đúng đắn các quy định này trong thực tiễn xét xử.Làm được như vậy sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòngngừa và chống tội phạm do người chưa thành niên gây ra

Với tinh thần đó, tôi chọn vấn đề “Các biện pháp tư pháp và hình

phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội theo BLHS Việt Nam năm 1999”

làm đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình, với hi vọng góp tiếngnói của mình làm sáng tỏ những quy định của pháp luật hình liên quan đến

xử lý NCTN phạm tội, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác áp dụng phápluật trong thực tiễn xét xử

Phạm vi đề tài mà chúng tôi nghiên cứu là tìm hiểu một cách hệthống các quy định của BLHS về các biện páp tư pháp và hình phạt ápdụng đối với NCTN phạm tội, phân biệt những quy định này với một sốquy định khác có liên quan Đồng thời đề tài này cũng đề cập tới vấn đềthực tiễn áp dụng để tìm ra những vướng mắc trong xét xử, qua đó đề xuấtnhững giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn xét xử

Để thể hiện được nội dung của đề tài, luận văn mà chúng tôi thựchiện có sử dụng các phương pháp như: tổng hợp, phân tích, chứng minh,thống kê, điều tra xã hội, lịch sử, so sánh và được tiến hành trên nền của líluận Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm làm cho luận văn

có tính lôgic và sức thuyết phục

Về cơ cấu luận văn chúng tôi thực hiện bao gồm: ngoài các phần mởđầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung được chiathành ba chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp tư pháp và

hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội

- Chương 2: Nội dung các biện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội theo quy định của BLHS Việt Nam năm 1999

Trang 3

- Chương 3: Một số vấn đề thực tiễn trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp và hình phạt đối với NCTN phạm tội

Trong phạm vi kiến thức còn hạn hẹp và bước đầu làm quen vớicông việc nghiên cứu khoa học độc lập nên nội dung luận văn không thểtránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả mong được sự tận tình giúp

đỡ và góp ý của các Thầy, Cô và các bạn sinh viên

Trang 4

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP

TƯ PHÁP VÀ HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

Tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực vì vậy Nhà nước đặt ra cácbiện pháp hình sự để đấu tranh đối với hiện tượng tội phạm nhằm hạn chế

và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống cộng đồng Tuy nhiên khi tộiphạm do NCTN thực hiện thì các cơ quan chức năng khi giải quyết tráchnhiệm pháp lý phải luôn đặt trong mối liên hệ với việc giáo dục, quản lýcủa xã hội, của gia đình và nhà trường, thì việc xử lý này mới đạt hiệu quảcao Vì vậy trong BLHS Việt Nam năm 1999 đã có những quy định riêng

về trách nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội (tại chương X), trong đó cónhững quy định về các biện pháp tư pháp và hình phạt riêng áp dụng đốivới lứa tuổi này Để có thể hiểu rõ các quy định của BLHS về nội dung cácbiện pháp tư pháp và hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội qua đó cóthể vận dụng đúng đắn vào thực tiễn xét xử, điều cần thiết là phải hiểuđược các khái niệm về NCTN phạm tội cũng như lí luận chung về các biệnpháp tư pháp và hình phạt trong luật hình sự

1.1 KHÁI QUÁT CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP VÀ HÌNH PHẠT ĐỐIVỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm chung về tâm lý của lứa tuổi chưa thành niên:

Về mặt lý thuyết khái niệm NCTN phạm tội có thể được hiểu mộtcách đúng đắn trên cơ sở khái niệm NCTN Trong BLHS Việt Nam không

có một quy định nào chính thức đề cập tới khái niệm NCTN mà chỉ có quy

Trang 5

định về NCTN phạm tội được quy định tại Điều 68 BLHS năm 1999

“NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình

sự theo những quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung bộ luật không trái với những quy định của chương này” (2)

Khái niệm NCTN được sử dụng trong một số văn bản của các ngànhluật khác và tất cả khái niệm đó đều xác định đối tượng NCTN là ngườidưới 18 tuổi

Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn” (5) Theo công ước này thì NCTN cũng chính là trẻ em

Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam ghi

nhận: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”(7)

Điều 18 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 cũng có quy định riêng:

“Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ 18 tuổi là NCTN” (3)

Như vậy từ những quy định trên có thể hiểu NCTN là người dưới 18tuổi Khái niệm này để phân biệt với người đã thành niên (là người đã đủ

18 tuổi trở lên) Tuy nhiên không phải tất cả NCTN khi có hành vi gây thiệthại cho xã hội đều bị coi là NCTN phạm tội Theo quy định của Điều 68BLHS đã nêu trên NCTN phạm tội được hiểu là những người ở độ tuổi từ

đủ 14 đến dưới 18 tuổi có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy địnhtrong BLHS

Như vậy, chỉ có người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành viphạm tội theo quy định của BLHS mới bị coi là NCTN phạm tội, người

Trang 6

dưới 14 tuổi dù có thực hiện hành vi phạm tội cũng không bị coi là NCTNphạm tội Quy định này xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lí của độ tuổi từ 14tuổi đến dưới 18 tuổi Độ tuổi này các em bắt đầu có tính độc lập và tựhoàn thiện, nên suy nghĩ của các em có phần chín chắn hơn so với các em ở

độ tuổi dưới 14 tuổi Tuy nhiên so với người đã thành niên các em vẫnchưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý, nhân thức vẫn còn non kém Vì vậyngười ở độ tuổi này phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự giảm nhẹ hơn

so với người đã thành niên

Từ các nhận định trên có thể rút ra khái niệm khoa học về NCTN

phạm tội như sau: “NCTN phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm, sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm”.(21)

1.1.2 Khái niệm biện pháp tư pháp:

“Biện pháp tư pháp” là thuật ngữ trong khoa học pháp luật hình sự, được hiểu “là các biện pháp hình sự được BLHS quy định, do các cơ quan

tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt” (13) Như vậy, biện pháp tư pháp khôngphải là hình phạt mà chỉ là các biện pháp hình sự nhằm hỗ trợ hoặc thay thếcho hình phạt trong những trường hợp nhất định Các biện pháp này cũngnhằm áp dụng cho những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hạiđến lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể hoặc của công dân nhưng ítnghiêm khắc hơn so với hình phạt

Biện pháp tư pháp là một chế định độc lập nên cũng có những đặcđiểm riêng:

- Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế hình sự ít nghiêm khắchơn hình phạt mà hậu quá pháp lý của việc áp dụng biện pháp này là ngườiphạm tội không bị án tích

Trang 7

- Biện pháp tư pháp nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt.

- Biện pháp tư pháp không chỉ do tòa án áp dụng mà trong một sốtrường hợp Viện kiểm sát cũng có thể áp dụng

- Biện pháp tư pháp không chỉ áp dụng đối với người thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, mà còn áp dụng với người thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không bị coi là tội phạm

Biện pháp tư pháp được pháp luật hình sự đặt ra nhằm 2 mục đích cơbản là :

- Hỗ trợ cho hình phạt trong trường hợp cần thiết phải xử lí cơ bản,toàn diện người phạm tội về hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ

- Trong trường hợp người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sựhoặc miễn hình phạt, hoặc là NCTN thì biện pháp tư pháp được áp dụngnhằm thay thế cho hình phạt, với mục đích giáo dục, cải tạo và ngăn ngừakhả năng gây thiệt hại đến các lợi ích chung trong tương lai

Ngoài ra, trong trường hợp đặc biệt như trường hợp người phạm tộimắc bệnh tâm thần, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì biệnpháp tư pháp thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước là tạo điều kiện cho họchữa bệnh, điều này nhằm loại bỏ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vinguy hiểm cho xã hội

Các biện pháp tư pháp theo quy định của BLHS Việt Nam năm 1999bao gồm

- Tịch thu tang vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khaixin lỗi

- Bắt buộc chữa bệnh

Trang 8

Đối với NCTN phạm tội bộ luật hình sự Việt Nam có những quyđịnh riêng về việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với họ Theo đó NCTNphạm tội bị áp dụng một trong hai biện pháp tư pháp là đưa vào trườnggiáo dưỡng hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn Biện pháp tư pháp ápdụng đối với NCTN phạm tội không giống với biện pháp tư pháp áp dụngvới người đã thành niên Đối với NCTN phạm tội thì các biện pháp này đặt

ra nhằm thay thế cho hình phạt, mang tính giáo dục, phòng ngừa, tạo điềukiện thực tế để NCTN rèn luyện, cải tạo sớm trở về với cộng đồng để làmlại cuộc đời

lý luận của Luật hình sự có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất, nộidung và mục đích của hình phạt Dựa trên quan niệm coi hình phạt là công

cụ để đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, nhà nước Việt Nam đã xây dựnghình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm mục đíchgiáo dục, cải tạo, ngăn ngừa tội phạm

Trong pháp luật hình sự Việt Nam, trước khi BLHS năm 1999 ra đời,khái niệm về hình phạt mới chỉ dừng lại ở các khái niệm khoa học do cácnhà nghiên cứu đưa ra trong quá trình giảng dạy hay các công trình nghiêncứu của mình BLHS Việt Nam 1999 ra đời lần đầu tiên đã quy định mộtcách chính thức khái niện hình phạt trong một điều luật, là cơ sở phân biệthình phạt với các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước Điều 26 ghi rõ:

“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội.

Trang 9

Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Tòa án quyết định”.

Qua khái niệm này, có thể thấy, nội dung pháp lý của hình phạtnhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội, đó có thể làquyền, lợi ích về thể chất và tinh thần hay tài sản hoặc các quyền và lợi íchkhác của người phạm tội, qua đó thể hiện thái độ của nhà nước là nhằmtrừng trị, lên án người phạm tội, ngoài ra cũng nhằm mục đích giáo dục,răn đe và phòng ngừa chung

Hình phạt có những đặc điểm riêng để phân biệt với những biệnpháp cưỡng chế khác như sau:

- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước.Nhà nước có rất nhiều các biện pháp khác nhau nhằm đấu tranh vớitội phạm, song hình phạt là biện pháp cưỡng chế khiêm khắc nhất Tínhnghiêm khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị áp dụng hình phạt cóthể bị tước bỏ hoặc bị hạn chế những quyền và lợi ích cơ bản nhất nhưquyền tự do (hình phạt tù), quyền về tài sản (hình phạt tiền), quyền vềchính trị, thậm chí cả quyền sống (hình phạt tử hình) Người bị kết án cũng

sẽ phải chịu hậu quả pháp lý là án tích trong một thời gian nhất định theoquy định của pháp luật

- Hình phạt được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng

BLHS Việt Nam là văn bản duy nhất quy định hình phạt đối vớingười phạm tội, chúng được quy định ở cả phần chung và phần các tộiphạm gồm 344 điều Hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội phảiđược quy định trong bộ luật hình sự (BLHS) và phải tuân theo mọi dấuhiệu mà luật quy định Không ai có quyền áp dụng các hình phạt ngoàinhững hình phạt mà BLHS đã quy định Và trong mọi trường hợp không

Trang 10

được áp dụng hình phạt đối với hành vi không được BLHS quy định là tộiphạm.

Cơ quan duy nhất được nhà nước trao quyền, thay mặt cho nhà nước

áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là tòa án Điều này được Hiến

pháp quy định rất cụ thể : “Tòa án nhân dân tối cao, các tòa án nhân dân địa phương, các tòa quân sự và các toàn án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” (6) Ngoài Tòa án không

có cơ quan nào khác được quyền quyết định hình phạt, Điều 72 Hiến pháp

1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa

có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

- Hình phạt chỉ có thể áp dụng với người có hành vi phạm tội

Trong luật hình sự phong kiến Việt Nam và Trung Quốc trước đây,hình phạt có thể không chỉ áp dụng với người phạm tội mà còn áp dụng cảvới những người thân thích của họ, điển hình như các hình phạt: “chu ditam tộc”, “chu di cửu tộc” Ngày nay hình phạt chỉ được áp dụng đối với cánhân người phạm tội, với bản thân người đã gây ra hành vi nguy hiểm cho

xã hội Hình phạt không đặt ra với người thân của người phạm tội Điềunày khẳng định Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc chấp hànhhình phạt thay cho người phạm tội dù điều đó hoàn toàn tự nguyện

Việc đặt ra hình phạt của Nhà nước có những mục đích rất cụ thể

được quy định tại Điều 27 BLHS năm 1999 : “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”

Như vậy hình phạt có hai mục đích chủ yếu là trừng trị và giáo dụcngười phạm tội để cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội Đây đượcgọi là mục đích phòng ngừa riêng đặt ra đối với bản thân người phạm tội

Trang 11

Bên cạnh đó hình phạt cũng có mục đích phòng ngừa chung cho xã hội làgiáo dục những người khác có ý thức tuân thủ pháp luật, giữ vững trật tự antoàn xã hội.

Hình phạt đối với NCTN phạm tội được quy định tại một chươngriêng (chương X trong BLHS Việt Nam năm 1999) So với hình phạt ápdụng với người đã thành niên phạm tội thì hình phạt áp dụng đối vớiNCTN phạm tội có phần nhẹ hơn Hình phạt được quy định cho NCTNphạm tội bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù cóthời hạn

Như vậy trong bảy hình phạt chính mà BLHS Việt Nam năm 1999quy định, không áp dụng hình phạt trục xuất, tù chung thân, tử hình đối vớingười chưa thành niên phạm tội Hình phạt tù chung thân là hình phạt cótính nghiêm khắc cao hơn rất nhiều so với hình phạt tù có thời hạn, nênmục đích áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội không phải là giáodục, cải tạo mà chủ yếu nhằm trừng trị người phạm tội và hướng tới mụcđích phòng ngừa người đó tiếp tục phạm tội, cũng như phòng ngừa chung.Bởi vậy, hình phạt này không đáp ứng nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội làchủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh

và trở thành công dân có ích cho xã hội Chính vì lẽ đó, Nhà nước ta tỏ rõthái độ dứt khoát không áp dụng hình phạt tù chung thân với NCTN phạmtội Cũng với lý lẽ trên, hình phạt tử hình cũng không được áp dụng đối vớiNCTN phạm tội Điều này thể hiện tính nhân đạo cao trong Luật hình sựnước ta, không lấy trừng trị làm mục đích của hình phạt áp dụng đối vớingười phạm tội ở lứa tuổi chưa thành niên

Ngoài ra, NCTN phạm tội cũng không bị áp dụng các hình phạt bổsung

Xuất phát từ chính sách về hình sự của Nhà nước ta chủ yếu là giáodục, giúp đỡ NCTN phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở

Trang 12

thành công dân có ích cho xã hội Trên cơ sở được đối xử theo cách thứcphù hợp lứa tuổi, trên tinh thần được tôn trọng về phẩm cách, phẩm giá, tôntrọng quyền con người, các quyền tự do cơ bản và lợi ích hợp pháp kháccủa công dân Do NCTN phạm tội là người chưa phát triển đầy đủ về phẩmchất lẫn tinh thần, năng lực hành vi, năng lực pháp lý còn hạn chế, nhânthức, lý trí, tư duy, tâm sinh lý chưa ổn định, chưa đủ khả năng để cân nhắchành động bản thân Do còn bồng bột thiếu kinh nghiệm xã hội nên dễ bịảnh hưởng tác động của môi trường xung quanh Vì vậy, việc xử lý NCTNphạm tội cần phải có chính sách riêng, không thể xử lý giống như đối vớingười đã thành niên phạm tội.

1.2 Các nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội:

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, khái niệm nguyên tắc xử lý

NCTN phạm tội được hiểu như sau: “Nguyên tắc xử lý về hình sự đối với NCTN là tổng hợp các quy phạm của pháp luật hình sự thực định thể hiện tính nhân đạo của chính sách hình sự của Nhà nước để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn so với mức độ trách nhiệm hình sự của người thành niên” (21)

Trước khi Nhà nước ta ban hành BLHS, chưa có sự ghi nhận chínhthức nào về các nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội Chỉ đến khiBLHS Việt Nam năm 1985 ra đời, các nguyên tắc này mới chính thức đượcquy định tại Điều 59 và đến nay theo BLHS năm 1999, các nguyên tắc xử

lý NCTN phạm tội cũng đã được quy định tại Điều 69

Từ quy định của Điều 69 BLHS, chúng ta có thể rút ra một số đặcđiểm cơ bản của các nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội như sau:

Trang 13

”1-Việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho

xã hội.

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của NCTN, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm”.

Nguyên tắc trên cho thấy về cơ bản, Nhà nước không nhằm mục đích

xử lý NCTN phạm tội về hình sự mà chủ yếu là nhằm giáo dục, giúp đỡ họtích cực sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân cóích Ngoài ra khi xem xét để quyết định hình phạt các cơ quan có thẩmquyền cần nhìn nhận tổng quát mọi yếu tố tác động đến khả năng nhận thứccủa đối tượng chưa thành niên dẫn đến việc họ gây ra tội phạm Sự hìnhthành và phát triển nhân cách cũng như đặc điểm nhân thân cảu NCTN chịu

sự chi phối và bị quy định bởi sự giáo dục của gia đình, nhà trường và xãhội Đôi khi NCTN phạm tội không chỉ là chủ thể của hành vi phạm tội màcòn là sản phẩm của xã hội Đối với NCTN thì những thiếu sót của việcgiáo dục trong gia đình, nhà trường… nhiều khi lại là nguyên nhân trực tiếpđẩy họ vào con đường phạm tội Do đó nguyên tắc này cũng quy định các

cơ quan tiến hành tố tụng không những phải xác định khả năng nhận thứccủa NCTN về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội domình gây ra, mà còn phải xác định họ có bị người khác xúi giục không,những nguyên nhân, điều kiện nào dẫn họ đến việc thực hiện tội phạm, từ

đó đưa ra hình phạt thích hợp nhằm làm phát huy tác dụng của việc giáodục họ

”2-NCTN phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người

đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có

Trang 14

nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.”

Trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyềntương ứng đều có thể miến trách nhiệm hình sự cho NCTN phạm tội khi họ

có đầy đủ những điều kiện do pháp luật hình sự quy định đó là: phạm tội ítnghiêm trọng hoặc nghiêm trong nhưng gây hại không lớn; có nhiều tìnhtiết giảm nhẹ; được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục

”3-Việc truy cứu trách nhiệm hình sự NCTN phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”

Theo nguyên tắc này thì không phải mọi trường hợp NCTN phạm tộiđều bị truy cứu trách nhiệm hình sự, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và

áp dụng hình phạt đối với họ chỉ được đặt ra trong trường hợp người đóphạm tội ở mức độ nghiêm trọng nhất định, nhân thân xấu và xét thấy cácbiện pháp giáo dục, tác động khác của xã hội không đủ hiệu lực để giáodục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung

”4-Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội, thì toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này”

Tòa án xem xét, căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án, các đặcđiểm nhân thân của người phạm tội, yêu cầu của việc phòng ngừa chungnếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì tòa án có thể áp dụngmột trong các biện pháp tư pháp giành riêng cho NCTN phạm tội Đây là

sự thay thế cho hình phạt

”5-Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với NCTN phạm tội Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho NCTN phạm tội được hưởng

Trang 15

mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với NCTN phạm tội ở độ tuổi từ

đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với NCTN phạm tội.”

Nguyên tắc này mang tính thống nhất với các nguyên tắc nêu trên,hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội chỉ mang tính chất giáo dục vàphòng ngừa mà không nhằm mục đích trừng trị người phạm tội Hình phạt

tù chung thân và tử hình có mục đích trừng trị nghiêm khắc, tước đoạtquyền tự do và quyền sống của người phạm tội Vì lẽ đó, hai hình phạt nàykhông được áp dụng đối với NCTN phạm tội Ngoài ra, khi áp dụng hìnhphạt tù có thời hạn, Tòa án cho NCTN phạm tội được hưởng mức án nhẹhơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng

Hình phạt tiền với người chưa thành niên mới được quy định trongBLHS năm 1999 là hình phạt chính, tuy nhiên hình phạt này chỉ được áp

dụng với NCTN phạm tội ở độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và có thu nhập hoặc tài sản riêng Như vậy Luật không cho phép áp dụng hình

phạt tiền đối với NCTN phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

”6-Án đã tuyên đối với NCTN phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.”

Đối với tội phạm mà NCTN phạm phải khi chưa đủ 16 tuổi sẽ không

để lại án tích cho họ Đây là điều quan trọng trong việc tạo điều kiện cho

họ làm lại cuộc đời mà không chịu những mặc cảm xã hội, giúp họ rấtnhiều để trở thành người có ích Những sai phạm mà người phạm tội thựchiện ở độ tuổi chưa thành niên không bị coi là tái phạm

Trang 16

Tóm lại những nguyên tắc xử lý NCTN quy định tại Điều 69 BLHSViệt Nam năm 1999 là nguyên tắc cơ bản của toàn bộ quá trình xử lýNCTN phạm tội, có tính định hướng cho mọi giai đoạn xử lý.

1.3 VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHẾ ĐỊNH CÁC BIỆNPHÁP TƯ PHÁP VÀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH

NIÊN PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985.

Sau khi cách mạng tháng 8 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985,nước ta trải qua một thời kì lịch sử đầy biến động, xã hội còn nhiều khókhăn nên công tác xây dựng pháp luật nói chung, luật hình sự nói riêng, đặcbiệt là các quy phạm quy định trách nhiệm hình sự của NCTN còn nhiềuhạn chế Qua tìm hiểu riêng về các chế định liện quan đến trách nhiệm hình

sự của NCTN phạm tội đã cho thấy những nét nổi bật của pháp luật thời kìnày như sau:

Pháp luật thời kì này phân biệt NCTN với người đã thành niên ở độ

tuổi, theo đó “Người vị thành niên được hiểu là con trai hay con gái chưa

đủ 18 tuổi” (16) Điều này cho thấy pháp luật thời kì này cũng định nghĩaNCTN là người dưới 18 tuổi Đây là cơ sở để dựa vào đó các cơ quan cóthẩm quyền giải quyết những vấn đề liên quan đến NCTN

Pháp luật thời kì này cũng đã có sự quy định rõ ràng độ tuổi phảichịu trách nhiệm hình sự, nghĩa là không phải mọi trường hợp người phạmtội dưới 18 đều phải chịu trách nhiệm hình sự với mọi tội mà có quy định

rõ ràng độ tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và loại tội phải chịu, cụ thể

là “Nói chung, đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi thì không đưa ra tòa án xét xử; từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết phải đưa ra xét xử thì có châm chước đến tuổi còn non trẻ của chún; riêng đối với loại từ 14 đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử những trường hợp phạm tội nghiêm trọng” (20)

Trang 17

- Theo quy định trên, các nhà làm luật cũng đã có sự tách bạch độtuổi và những trường hợp sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, tuy chưa rõràng nhưng có thể thấy giới hạn là từ 14 đến dưới 18 tuổi phải chịu tráchnhiệm hình sự trong trường hợp cần thiết, nhưng có được xem xét đến tuổicòn non trẻ: còn ở độ tuổi từ 14 đến 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng Tuy vậy, không phải mọitrường hợp người từ đủ 14 tuổi trở lên phạm tội đều bị đưa ra xét xử, Tòa

án nhân dân tối cao đã đưa ra quy định: “Đối với những người từ 14 tuổi trở lên đến 16 tuổi chỉ nên truy tố trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng như giết người, cướp của, hiếp dâm…Riêng về hiếp dâm nói chung vẫn chủ yếu là giáo dục và cũng chỉ nên truy tố, xét xử trong trường hợp nghiêm trọng” (20) Qua quy định trên, các nhà làm luật đã xem xét trách

nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội không chỉ qua hành vi phạm tội họ

đã thực hiện mà còn dựa trên sự đánh giá về mức độ nhận thức của bảnthân NCTN phạm tội về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họthực hiện Trong một số trường hợp cá biệt pháp luật thời kì này cân nhắcxem có đưa ra xét xử người phạm tội dưới 14 tuổi không, nhưng đường lối

xử lý chung vẫn là “đưa vào trường trẻ em hư”

- Đối với những trẻ em hư chưa đến mức độ phải chịu hình phạt, cácnhà làm luật đã đặt ra các biện pháp tư pháp nhằm giáo dục họ Theo quyết

định số 217_TTg ngày 18-12-1967 của Thủ tướng Chính phủ: “Những thiếu niên hư được đưa vào trường phổ thông công nông nghiệp là những thiếu niên hư từ 9 đến 17 tuổi đi lang thang trộm cắp nhiều lần, có lối sống

sa đọa, trụy lạc đã được gia đình, đoàn thể, nhà trường và chính quyền tận tình giúo đỡ nhiều lần nhưng không sửa chữa” (17) Những đối tượng này sẽ

bị đưa vào giáo dục tại trường phổ thông công nông nghiệp trong thời gian

là hai năm Thời gian này sẽ được rút ngắn tùy thuộc vào mức độ tiến bộcủa họ Đây có thể coi là biện pháp nhằm tạo điều kiện cho những NCTNphạm tội sớm được trở về với cuộc sống bình thường

Trang 18

- Theo Hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao số 329-HS2 ngày 11tháng 2 năm 1967, hình phạt đặt ra với NCTN phạm tội ở thời kì này cũng

được xem xét giảm nhẹ hơn so với người thành niên, “chỉ vào khoảng một phần hai mức án đối với người lớn”

Như vậy, tuy còn nhiều hạn chế nhưng có thể thấy pháp luật thời kìnày đã quy định khá cụ thể lứa tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự và hìnhphạt, bên cạnh đó việc xem xét trách nhiệm hình sự của NCTN phạm tộiphải dựa trên nguyên tắc giảm nhẹ và mang tính giáo dục, phòng ngừa làchủ yếu

1.3.2 Giai đoạn từ khi có BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHSnăm 1999:

BLHS năm 1985 được Quốc hội chính thức thông qua tại kì họp thứ

IX Quốc hội khóa 6 là một bước tiến vượt bậc trong công tác lập pháp Lầnđầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự ở nước ta, trách nhiệm hình sự củaNCTN phạm tội được quy định ở một chương riêng, hoàn chỉnh (Chương

VII) với tên gọi: “Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”, đã quy định khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự

của NCTN phạm tội

Theo quy định của BLHS năm 1985 thì “Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, và người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”

Như vậy, các nhà làm luật đã quy định rất cụ thể độ tuổi phải chịutrách nhiệm hình sự cũng như loại tội mà họ phải chịu So với trước đây thìđây là một bước tiến vượt bậc của pháp luật hình sự thời kì này Theo

khoản 2 điều 8 BLHS năm 1985 thì “Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mắc cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 5 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Những tội phạm khác

Trang 19

là tội phạm ít nghiêm trọng”, quy định này cho thấy, NCTN phạm tội ở độ

tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 sẽ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi tội mà

họ thực hiện là tội nghiêm trọng với lỗi cố ý, còn nếu tội đó là tội ít nghiêmtrọng, hoặc nghiêm trọng nhưng lại thực hiện với lỗi vô ý thì sẽ không phảichịu trách nhiệm hình sự

Lần đầu tiên luật hình sự Việt nam quy định cụ thể những nguyên tắc

xử lý đối với NCTN phạm tội, Điều 59 BLHS năm 1985 qui định rõ ràngnăm nguyên tắc cơ bản để chỉ ra đường lối xử lý cụ thể đối với NCTNphạm tội Năm nguyên tắc này cho thấy đường lối xử lý của Nhà nước tađối NCTN phạm tội hết sức nhân đạo, mọi biện pháp đều chủ yếu nhằmgiáo dục, ngăn ngừa, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm, trong trường hợp cầnđưa ra hình phạt thì hình phạt cũng ở mức độ nhẹ hơn so với người thànhniên, và chỉ trong trường hợp thật cần thiết trên cơ sở xem xét tổng hợp cácyêu tố về đặc điểm nhân thân và khả năng nhận thức của họ về tính chấtnguy hiểm cho xã hội đối với hành vi mà họ gây ra

Bên cạnh việc quy định hình phạt đối với NCTN phạm tội, BLHSnăm 1985 còn quy định các biện pháp tư pháp nhằm thay thế cho các hìnhphạt trong những trường hợp NCTN phạm tội chưa đến mức phải chịu hình

phạt Các nhà làm luật đã đưa ra 2 biện pháp là “buộc phải chịu thử thách”

và “đưa vào trường giáo dưỡng” (Điều 60) Biện pháp buộc phải chịu thử

thách sẽ được áp dụng trong trường hợp NCTN phạm tội ít nghiêm trọng,thời gian thử thách là từ 1 đến 2 năm, thời gian này có thể rút ngắnphụthuộc vào sự tiến bộ của họ Còn biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng sẽđược áp dụng với NCTN phạm tội có nhân thân và môi trường đặc biệt,đồng thời do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà xem xét.Thời hạn chấp hành là từ 1 đến 3 năm, thời gian này cũng có thể được rútngắn tùy theo mức độ tiến bộ của họ Hai biện pháp này có tính chất thaythế hình phạt nhằm mục đích cải tạo, giáo dục là chính

Trang 20

Ngoài ra BLHS năm 1985 cũng quy định các hình phạt chính ápdụng với NCTN phạm tội tại Điều 60, khoản 2 bao gồm:

có cơ hội trở lại với cuộc sống Đây được coi là nguyên tắc mang tính chấtnhân đạo sâu sắc, nên trong các lần sửa đổi sau, nguyên tắc này vẫn cònđược ghi nhận (và vẫn được giữ nguyên trong BLHS năm 1999)

Đối với hình phạt tù có thời hạn Điều 64 BLHS năm 1985 quy định:

“1.Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cáo nhất áp dụng đối với người chưa thành niên từ

đủ 16 tuổi trở lên khi phạm tội là hai mươi năm tù và đối với người từ đủ

14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi khi phạm tội là mười lăm năm tù”

“2.Nếu điều luật quy định hình phạt cao nhất là hai mươi năm tù thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là không quá hai mươi năm tù”

Đây là nguyên tắc áp dụng hình phạt tù đối với NCTN phạm tội.Điều luật quy định sự khác biệt về mức cao nhất của khung hình phạt cóthể áp dụng đối với NCTN phạm tội

Trang 21

Điều 67 quy định về việc xóa án tích đối với NCTN phạm tội, theo

đó thì NCTN phạm tội nếu được áp dụng các biện pháp tư pháp thì không

bị coi là có án tích, và thời hạn xóa án cũng chỉ bằng một nửa thời hạn quyđịnh đối với người thành niên

Qua phân tích ở trên, có thể thấy BLHS năm 1985 đã qui định mộtcách có hệ thống và đầy đủ các vấn đề liên quan đến NCTN phạm tội, từ độtuổi để xác định trách nhiệm hình sự đến các nguyên tắc, các biện pháp tưpháp, hình phạt, giảm hình phạt và xóa án tích Tuy còn nhiều hạn chếnhưng các quy định đó đã thể hiện mục đích lấy giáo dục phòng ngừa làchính khi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội

Sau mười lăm năm áp dụng với bốn lần sửa đổi bổ sung, BLHS năm

1985 đã bộc lộ những hạn chế đòi hỏi phải có sự thay thế bằng một bộ luậtmới phù hợp hơn với tình hình mới Với tinh thần đó, ngày 21 tháng 12năm 1999, Quốc hội khóa X, kì họp thứ 6 đã thông qua BLHS mới (gọi tắt

là BLHS năm 1999) để thay thế cho BLHS năm 1985 Theo sự thay đổi đóthì các qui định liên quan đến NCTN phạm tội cũng được sửa đổi cho phùhợp hơn

BLHS năm 1999 vẫn giữ nguyên việc xác định độ tuổi phải chịutrách nhiệm hình sự, tuy nhiên về các biện pháp tư pháp và hình phạt thì cómột số thay đổi.Theo Điều 60 BLHS 1985 các biện pháp tư pháp áp dụngđối với NCTN phạm tội bao gồm:

- Buộc phải chịu thử thách

- Đưa vào trường giáo dưỡng

Điều 70 BLHS năm 1999 quy định các biện pháp tư pháp áp dụng đối vớiNCTN phạm tội là:

- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn

- Đưa vào trường giáo dưỡng

Trang 22

Như vậy, BLHS năm 1999 đã thay thế biện pháp tư pháp “Buộc phải chịu thử thách” bằng biện pháp “Giáo dục tại xã phường thị trấn” Việc

thay đổi này không chỉ về mặt tên gọi mà sau đó là cả một cơ chế thực hiệnchặt chẽ Và các hình phạt cũng có sự thay đổi, Theo BLHS năm 1985 cáchình phạt đối với NCTN phạm tội gồm:

sự đối với NCTN phạm tội vẫn chủ yếu là nhằm giáo dục, phòng ngừa,giúp cho họ làm lại cuộc đời

Để thấy được rõ hơn sự phù hợp của những quy định mới trongBLHS năm 1999, chúng ta cần tìm hiểu rõ hơn về các biện pháp tư pháp vàhình phạt đối với NCTN phạm tội được quy định trong BLHS năm 1999

Trang 23

Chương 2 NỘI DUNG CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP VÀ HÌNH PHẠT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999

2.1 CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP ĐỐI VỚI NCTN PHẠM TỘI THEOBLHS NĂM 1999:

Một trong các nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội là việc truy cứutrách nhiệm hình sự đối với họ là biện pháp cần thiết cuối cùng Trongtrường hợp buộc phải đưa ra xét xử, Tòa án phải dựa trên sự đánh giá tổnghợp các căn cứ: tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội cũngnhư nhân thân của người phạm tội, để lựa chọn biện pháp xử lý thích hợp,

có thể là biện pháp tư pháp hay hình phạt do BLHS quy định áp dụng vớiNCTN phạm tội Theo Điều 70 BLHS, các biện pháp tư pháp bao gồm:

- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn

- Đưa vào trường giáo dưỡng

Đồng thời theo Điều 71 BLHS, hình phạt được áp dụng với NCTN phạmtội là:

Trang 24

2.1.1 Biện pháp Giáo dục tại xã, phường, thị trấn:

Điều 70 khoản 2 BLHS năm 1999 quy định như sau: “Tòa án có thể

áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm đối với NCTN phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng.

Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Tòa

án giao trách nhiệm.”

Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tư pháp do Tòa ánquyết định đối với NCTN phạm tội nhằm tạo điều kiện cho người đó laođộng, học tập ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sátgiúp đỡ của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, tổ chức xã hội và giađình Với quy định trên đây, biện pháp tư pháp này chỉ được áp dụng đốivới NCTN phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng Tội ít nghiêmtrọng là tội gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khunghình phạt đến ba năm tù và tội nghiêm trọng là tội có mức cao nhất củakhung hình phạt đến bảy năm tù (Điều 8 khoản 3 BLHS năm 1999) Đồngthời căn cứ vào những điều kiện khác như các tình tiết giảm nhẹ, nhân thântốt, người phạm tội đã có thái độ ăn năn, hối cải sau khi phạm tội, có nơithường trú ổn định và môi trường sống của họ thuận lợi cho việc giáo dục

và cải tạo, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với họ

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mang tính giáo dục,phòng ngừa và có thể thay thế hình phạt, nhằm tạo cơ hội cho NCTN phạmtội được lao động, học tập trong môi trường xã hội Biện pháp này đượccác nhà làm luật đánh giá là đạt hiệu quả cao trong việc giáo dục NCTNphạm tội nên trước đây trong BLHS năm 1985 đã quy định biện pháp này

với tên gọi “Buộc phải chịu thử thách”, đến BLHS năm 1999, biện pháp này tiếp tục được quy định dưới một tên gọi khác “giáo dục tại xã, phường,

Trang 25

thị trấn” Về cơ bản, hai biện pháp này là giống nhau, việc đổi tên biện

pháp nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Đồng thời so với biện pháp

“Buộc phải chịu thử thách”, biện pháp “giáo dục tại xã, phường, thị trấn”

có phần giảm nhẹ, áp dụng đối với cả trường hợp phạm tội nghiêm trọng.Như vậy, đối tượng áp dụng biện pháp này đã được mở rộng hơn so vớiBLHS năm 1985 Theo chúng tôi, việc thay đổi tên gọi như vậy là hoàntoàn hợp lý, phản ánh được cơ chế thực hiện của biện pháp này trong thựctiễn

Theo Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủquy định chi tiết việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

đối với NCTN phạm tội Điều 1 Nghị định này ghi rõ: “biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do Tòa án quyết định đối với NCTN phạm tội nhằm tạo điều kiện cho người đó lao động, học tập tại cộng đồng và chứng tỏ sự hối cải của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giúp đỡ của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, tổ chức xã hội và gia đình”.(9)

Như vậy, giáo dục tại xã, phường, thị trấn giúp cho NCTN phạm tộikhông phải chịu mặc cảm về tội lỗi của mình, khuyến khích họ nhanhchóng hối cải và tự giác tu dưỡng, rèn luyện để sửa chữa sai lầm Điều này

là phù hợp với các quy định của Quy tắc Riyadh về phòng ngừa NCTN

phạm tội coi “việc phòng ngừa tội phạm ở NCTN là một bộ phận chính yếu của phòng ngừa tội phạm trong xã hội” và “cần tránh kết tội và xử phạt trẻ em về một hành vi không gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho sự phát triển của các em hay làm nguy hại cho người khác”.(18)

Trong thời gian được giáo dục, người phạm tội phải chấp hành cácnghĩa vụ đặt riêng cho biện pháp này về học tập, lao động tuân theo phápluật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổchức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm Các nghĩa vụ này được cụ thể

Trang 26

hoá trong chịu thử thách trong Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày30/10/2000 của Chính phủ như sau:

- Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân và quy ước của thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư nơi mình cư trú.

Nghĩa vụ này nhằm giúp NCTN phạm tội có thói quen biết tôn trọngpháp luật cũng như những quy tắc của đời sống xã hội, rèn luyện đạo đứcbản thân để trở thành người có ích cho xã hội

- Làm bản cam kết với ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc tổ chức xã hội được giao giám sát, giáo dục, trong đó nêu rõ các biện pháp tích cực sửa chữa lỗi lầm của mình.

- Thực hiện nghiêm chỉnh bản cam kết của mình, tích cực sửa chữa lỗi lầm; học tập, làm ăn lương thiện và tham gia các hoạt động chung tại cộng đồng dân cư nơi mình cư trú.

Hai nghĩa vụ này giúp NCTN phạm tội biết đặt ra mục tiêu phân đấu,

từ đó nhận ra lỗi lầm và tích cực sửa chữa để sớm được hòa nhập với cộngđồng

- Làm bản tự kiểm điểm về quá trình rèn luyện, tu dưỡng của mình gửi Chủ tịch ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc người đứng đầu tổ chức được giao giám sát, giáo dục khi đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách.

Nghĩa vụ này giúp cho Ủy ban nhân dân xã, phường hoặc ngườiđứng đầu tổ chức được giao giám sát, giáo dục theo dõi được quá trình rènluyện, tu dưỡng của người phạm tội một cách đầy đủ, từ đó có hướng giáodục người NCTN phạm tội một cách đúng đắn

- Hàng tháng phải báo cáo bằng văn bản với người được giao giám sát, giáo dục về kết quả rèn luyện, tu dưỡng của mình; trong trường hợp đi

Trang 27

khỏi nơi cư trú trên 30 ngày, thì báo cáo và trong thời gian tạm trú phải có nhận xét của cảnh sát khu vực hoặc công an xã nơi NCTN phạm tội đến tạm trú.

Nhìn chung biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn tạo choNCTN phải chịu biện pháp này một nề nếp kỉ luật tốt trong lao động và họctập, có thói quen lao động, tôn trọng những quy tắc chung của xã hội, qua

đó giúp đỡ họ nhận ra lỗi lầm để sửa chữa, phát triển lành mạnh, khôngphạm tội mới

Cần phân biệt biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong BLHS với biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại Điều 23 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Biện pháp

xử lý hành chính này do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn(gọi chung là cấp xã) quyết định áp dụng đối với những đối tượng sau:(Khoản 2 Điều 23 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính)

“a/Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại BLHS.

b/Người từ đủ 12 tuổi trở lên nhiều lần trộm cắp, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng.”

Theo quy định trên, biện pháp xử lý hành chính này được áp dụngđối với NCTN có vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức phải chịu tráchnhiệm hình sự, với thời hạn từ 3 đến 6 tháng Còn với Biện pháp tư pháp

giáo dục tại xã, phường, thị trấn chỉ có Tòa án có thẩm quyền quyết định

đối với người NCTN phạm tội với thời hạn chấp hành từ 1 đến 2 năm.Theo Điều 70 khoản 4 BLHS năm 1999, người được giáo dục tại xã,phường, thị trấn khi đã chấp hành một phần hai thời hạn đã tuyên có nhiềutiến bộ thì có thể được Tòa án xem xét chấm dứt biện pháp giáo dục này

Ngày đăng: 17/02/2016, 19:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w