1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn một số giải pháp nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ khoa học ở trung tâm hành chính quốc gia hồ chí minh

238 591 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về cán bộ khoa học; Công nghệ Thông tin; kỹ năng sử dụng CNTT vào công tác giảng dạy, nghiên cứu; mối quan hệ giữa kỹ

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 Cơ sở lý luận về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ khoa học 8

1.1 Khái niệm cán bộ khoa học 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học 10

1.1.3 Kết luận mục 1.1 12

1.2 Khái niệm công nghệ thông tin 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Các giá trị xã hội gián tiếp của CNTT được ứng dụng trong đời sống 16

1.2.3 Kết luận mục 1.2 19

1.3 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sử dụng CNTT 19

1.3.1 Khái niệm kỹ năng 19

1.3.2 Kỹ năng sử dụng CNTT 21

1.3.3 Đặc điểm và vai trò của kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin đối với công tác của cán bộ khoa học 23

Chương 2 Thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT trong đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh 25

2.1 Các tiêu chí đánh giá 25

2.2 Thực trạng trong đội ngũ cán bộ giảng dạy nghiên cứu 26

2.2.1 Về nhận thức, thái độ 26

2.2.2 Về kiến thức đã được đào tạo, nhu cầu nâng cao kiến thức 27

2.2.3 Mức độ hoàn thiện các nhóm kỹ năng 29

2.2.4 Việc ứng dụng các kỹ năng vào nghiên cứu 32

2.3 Đánh giá chung 36

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 4

Chương 1 Cơ sở lý luận về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ khoa học 8

1.1 Khái niệm cán bộ khoa học 8

1.1.1 Khái niệm 8

1.1.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học 10

1.1.3 Kết luận mục 1.1 12

1.2 Khái niệm công nghệ thông tin 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Các giá trị xã hội gián tiếp của CNTT được ứng dụng trong đời sống 16

1.2.3 Kết luận mục 1.2 19

1.3 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sử dụng CNTT 19

1.3.1 Khái niệm kỹ năng 19

1.3.2 Kỹ năng sử dụng CNTT 21

1.3.3 Đặc điểm và vai trò của kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin đối với công tác của cán bộ khoa học 23

Chương 2 Thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT trong đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh 25

2.1 Các tiêu chí đánh giá 25

2.2 Thực trạng trong đội ngũ cán bộ giảng dạy nghiên cứu 26

2.2.1 Về nhận thức, thái độ 26

2.2.2 Về kiến thức đã được đào tạo, nhu cầu nâng cao kiến thức 27

2.2.3 Mức độ hoàn thiện các nhóm kỹ năng 29

2.2.4 Việc ứng dụng các kỹ năng vào nghiên cứu 32

2.3 Đánh giá chung 36

Trang 2

Chương 3 Các giải pháp nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT cho đội ngũ cán bộ khoa học ở trung tâm Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh hiện nay 43

3.1 Một số yêu cầu về kỹ năng sử dụng CNTT đối với cán bộ khoa học của Học viện hiện nay 43

3.2 Các giải pháp 44

3.2.1 Các giải pháp mang tính định hướng 44

3.2.2 Các giải pháp cụ thể 48

PHỤ LỤC 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

Trang 3

MỤC LỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Trang

Bảng thống kê chi tiết số lượng thiết bị CNTT các loại theo các đơn vị

tại Trung tâm Học viện đang sử dụng 38

Biểu đồ tần suất sử dụng máy tính 27

Biểu đồ nhận thức về hiệu quả của CNTT đối với công việc 30

Sơ đồ mạng trục cáp quang tại trung tâm Học viện 41

Sơ đồ mạng tại trung tâm Học viện 41

Trang 4

MỞ ĐẦU

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng xác định mục tiêu từ nay đến năm 2010: "CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội " Mục tiêu này được thể chế hoá trong Quyết định 331/QĐ-TTg ngày 06/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2010 và Quyết định 246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Ứng dụng Công nghệ Thông tin (CNTT) đã thực sự là đòi hỏi cấp bách và cũng trở thành một bộ phận quan trọng của quá trình phát triển kinh tế-xã hội nước ta Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh là một trung tâm quốc gia về đào tạo và nghiên cứu khoa học không thể nằm ngoài quá trình này Yêu cầu của tình hình mới đối với Học viện đã được Bộ Chính trị nêu rõ trong Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 30/7/2005 là phải "từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất-kỹ thuật để tương xứng với một trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn của quốc gia và khu vực" Để thực hiện được yêu cầu đó, Bộ Chính trị chỉ đạo:

"trong những năm tới, ưu tiên đầu tư theo quy hoạch, chú trọng đầu tư về CNTT"

Trước áp lực đổi mới và sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, Học viện đã thực hiện một số bước đi tham gia vào quá trình phát triển của đất nước Tuy nhiên từ năm 1995 đến nay, Học viện vẫn đang tiến những bước chậm chạp trong nghiên cứu ứng dụng CNTT Năm 1995 Giám đốc Học viện thành lập Ban Chỉ đạo CNTT thì năm đó Đề tài "Định hướng ứng dụng và phát triển CNTT của Học viện giai đoạn 1996-2000" được nghiệm thu Đến năm 1999, Đề tài "Ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý tại khu vực trung tâm Học viện" được nghiệm thu Năm 2003 mới có một đề tài nghiên cứu cấp Bộ về ứng dụng CNTT trong hệ thống Học viện

Trang 5

được hoàn thành Các đề tài nêu trên đều nghiên cứu CNTT và việc tổ chức ứng dụng nó trên bình diện chung Mục tiêu chủ yếu của các đề tài này là nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc tổ chức xây dựng hạ tầng CNTT tại Học viện, đặc biệt là khu vực trung tâm Học viện Chính vì vậy từ kết quả của các đề tài trên, Học viện đã tiến hành xây dựng và có một hạ tầng kỹ thuật CNTT được coi là tốt nhất trong khu vực trường học hiện nay (theo đánh giá của đồng chí Trưởng phòng Quản lý CNTT (Văn phòng Học viện) tại Hội nghị chuyển giao phần mềm văn phòng bản quyền của Microsoft ngày 30/10/2008 vừa qua) Mặc dù vậy công nghệ WEB, lĩnh vực công nghệ năng động nhất hiện nay lại chưa được chú ý phát triển Do đó, thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị, năm 2006 Học viện có Đề tài "Ứng dụng CNTT trong công tác lãnh đạo, quản lý ở Học viện" Nghiên cứu này không đề cập đến những vấn đề cũ mà chủ yếu tìm hiểu nguyên lý, đánh giá thực trạng và phát kiến những giải pháp ứng dụng công nghệ WEB vào công tác lãnh đạo quản lý của Học viện, đáp ứng đòi hỏi cải cách hành chính

Như vậy, cho đến nay chưa có bất kỳ một đề tài khoa học nào nghiên cứu cụ thể việc ứng dụng CNTT cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện Hiện nay nhiều câu hỏi chưa được trả lời như: ứng dụng CNTT vào đào tạo

và nghiên cứu khoa học như thế nào; đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT vào đào tạo và nghiên cứu ra sao; những yếu tố nào chi phối hiệu quả ứng dụng CNTT vào đào tạo và nghiên cứu Hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ đào tạo và nghiên cứu cũng đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ, thậm chí triển khai rồi không ứng dụng được vì thiếu kế hoạch, thiếu người dùng Có lẽ vì vậy mà hoạt động đào tạo

và nghiên cứu của Học viện chưa có chuyển biến tích cực, chưa thật sự hoà nhập vào dòng chảy của quá trình phát triển đất nước

Trong rất nhiều yếu tố chi phối hiệu quả ứng dụng CNTT vào đào tạo và nghiên cứu khoa học nói chung, thì kỹ năng sử dụng CNTT của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu có vị trí hàng đầu, giữ vai trò quyết định Nếu như hạ tầng

Trang 6

cho sự phát triển ứng dụng CNTT vào bất cứ lĩnh vực nào, thì mục tiêu cuối cùng chính là người thực hiện việc ứng dụng đó Mối quan hệ này tương tự mối quan

hệ giữa máy móc và người thợ máy Nếu có máy móc mà không có thợ thì cái máy chỉ là một cái xác vô hồn bất động Để làm sáng tỏ vấn đề này, đề tài "Một

số giải pháp nâng cao kỹ năng sử dụng Công nghệ Thông tin cho đội ngũ cán bộ khoa học ở trung tâm Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay" thực sự mang tính cấp thiết

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về cán bộ khoa học; Công nghệ Thông tin; kỹ năng sử dụng CNTT vào công tác giảng dạy, nghiên cứu; mối quan hệ giữa kỹ năng sử dụng CNTT và hiệu quả hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học Trên cơ sở đó xây dựng các tiêu chí đánh giá thực tiễn kỹ năng sử dụng CNTT của cán bộ khoa học Học viện Qua việc khảo sát và đánh giá thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT của đội ngũ cán bộ khoa học Học viện,

Đề tài hướng tới mục tiêu đề ra các giải pháp khoa học và thiết thực nhằm phát huy những điều kiện đã và đang có, đồng thời khắc phục được những hạn chế, khuyết điểm từ cả hai bình diện chủ quan và khách quan, từ đó nâng cao kỹ năng

sử dụng CNTT cho cán bộ khoa học của Học viện Những kết quả nghiên cứu từ

đề tài này sẽ là luận cứ khoa học cho việc giải quyết vấn đề then chốt nhất, cơ bản nhất của quá trình ứng dụng CNTT vào đào tạo và nghiên cứu của Học viện, tạo cơ sở và động lực cho ứng dụng CNTT mạnh mẽ, toàn diện tại khu vực trung tâm và trong toàn bộ hệ thống Học viện

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: trung tâm Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh (135 Nguyễn Phong Sắc, Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội)

- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu đã tiến hành trong năm học 2007-2008

Trang 7

- Đối tượng nghiên cứu là cán bộ, công chức Học viện (bao gồm tổng số thực

tế nghiên cứu là 278 người Trong đó có 133 nam, 144 nữ Qua quá trình nghiên cứu đã phân loại thành 4 (bốn) nhóm là cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu, cán

bộ vừa giảng dạy vừa nghiên cứu, và cán bộ khác

Theo thống kê của Vụ Tổ chức-Cán bộ Học viện thì con số cán bộ khoa học năm 2008 của Học viện đang công tác tại trung tâm Học viện là 612 người Tuy nhiên quan niệm về "cán bộ khoa học" chưa thống nhất, thể hiện ngay trong cách xác định của Vụ Tổ chức-Cán bộ, do đó Vụ này đưa ra một con số khác là 186 cán

bộ khoa học Do số lượng cán bộ khoa học của Học viện không quá lớn nên nhóm nghiên cứu đặt ra yêu cầu khảo sát gần như toàn bộ các cá nhân thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu Qua đó có thể đánh giá chính xác thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT Vì vậy số đối tượng được khảo sát là cán bộ khoa học có 216 người trong tổng số 278 người

- Phương pháp nghiên cứu: quá trình nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học gồm phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp lịch sử

cụ thể, phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê xã hội học và một số phương pháp khác

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC 1.1 Khái niệm cán bộ khoa học

1.1.1 Khái niệm

Cán bộ khoa học là khái niệm được sử dụng rất nhiều Nhưng cho đến nay không có một định nghĩa chính thức nào về khái niệm cán bộ khoa học Có nhiều cách sử dụng khác nhau đối với khái niệm "cán bộ khoa học" Tại Quyết định 224-TTg ngày 24/5/1976 của Thủ tướng Chính phủ về việc đào tạo trên đại học ở trong nước có nêu: "đội ngũ cán bộ khoa học gồm hàng nghìn người tốt nghiệp tiến sĩ, phó tiến sĩ" Năm 2000, Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh đưa ra số liệu thống

kê về "cán bộ khoa học kỹ thuật" bao gồm các nhóm người có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ Ngày 19/4/2000 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 322/QĐ-TTg phê duyệt đề án "Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước", trong đó xác định "cán bộ khoa học, kỹ thuật" là người được đào tạo trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, đại học Quan niệm này thống nhất trong các quy định của Chính phủ nên năm 2006, tại Quyết định 356/QĐ-TTg điều chỉnh Đề án 322 nêu trên, do mở rộng đối tượng đào tạo ra ngoài phạm vi cán

bộ thuộc đơn vị giảng dạy, nghiên cứu nên Đề án được đổi tên là ""Đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước" Như vậy theo các văn bản của Chính phủ thì cán bộ khoa học là những người có hai tiêu chí cơ bản: thứ nhất là được đào tạo đạt trình độ từ cử nhân trở lên (có thể là cử nhân cao đẳng), thứ hai là đang công tác, làm việc tại các cơ quan, đơn vị nghiên cứu khoa học và giảng dạy

Tại Học viện, có quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng "đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh là những người thuộc biên chế cơ hữu của Học viện có trình độ từ đại học trở lên, được đào tạo cơ bản, có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các

Trang 9

học khác đang làm nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy, đồng thời có thể làm cả chức năng lãnh đạo, quản lý trong một thời gian nhất định" (TS Lê Văn Lợi, Vụ Tổ chức-Cán bộ) Có thể thấy quan niệm này không hoàn toàn trùng khớp với quan niệm của Chính phủ Nếu như Chính phủ đòi hỏi hai tiêu chí chặt chẽ thì Học viện chỉ đòi hỏi một tiêu chí cơ bản là có trình độ từ đại học trở lên Điều này xuất phát

từ thực tế là cán bộ có trình độ khoa học cao đang là nguồn bổ sung quan trọng cho công tác quản lý Có lẽ cũng từ thực tế này mà Chính phủ phải điều chỉnh Đề

án cử người đi học nước ngoài, đối tượng không còn chỉ là cán bộ khoa học mà

mở rộng ra cả công chức quản lý Một khác biệt nữa là trong khi Chính phủ xác định cán bộ khoa học có thể chỉ đạt trình độ cử nhân cao đẳng, thì tại Học viện đòi hỏi này cao hơn, phải từ trình độ cử nhân đại học trở lên Đây là một đặc thù của Học viện bắt nguồn từ khâu tuyển dụng đầu vào (chỉ tuyển dụng ứng viên có trình độ cử nhân đại học trở lên)

Cũng là công chức của Học viện, nhưng GS,TS Mạch Quang Thắng, Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học lại có quan niệm khác so với các quan niệm trên Trong bài viết "Vấn đề nhân tài và chính sách đối với nhân tài - một số vấn đề đặt

ra ở Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (Bài viết tham gia Hội thảo khoa học do Văn phòng Học viện tổ chức quý II-2008, chủ đề: “Luật công chức, công vụ và vấn đề văn hoá, văn minh công sở tại Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh”), ông viết: "thật khó mà duy danh, định nghĩa thế nào

là nhân tài ở Học viện Ai là nhân tài trong số hơn 2000 cán bộ, công chức ở Học viện? Lấy tiêu chí chức vụ công tác ư? Không nên Lấy chức danh khoa học hay học vị? Cũng không được Do vậy, nhiều khi ở bài viết này, tôi chỉ đề cập chung cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy (gọi chung là cán bộ khoa học)"

Như vậy, GS,TS Mạch Quang Thắng đã quan niệm cán bộ khoa học là cán

bộ nghiên cứu, giảng dạy - có thể hiểu là cán bộ làm công tác nghiên cứu và giảng dạy Quan niệm này có nhiều điểm hợp lý Trong 3 (ba) quy chế hiện hành của Học

Trang 10

ra với giảng viên và nghiên cứu viên Về thực chất thì cán bộ khoa học nên hiểu là cán bộ làm công tác nghiên cứu và truyền dạy kiến thức khoa học Trong hoàn cảnh chiến tranh hay thời kỳ đất nước còn khó khăn, Đảng và Nhà nước ta đều xác định các nhà khoa học không căn cứ vào học vị mà chủ yếu vào thành tựu khoa học và thực tế công tác của mỗi cá nhân Cần hiểu thực chất khái niệm "cán bộ khoa học"

là người nghiên cứu khoa học do nhà nước trả lương Hoạt động nghiên cứu khoa học vẫn phải là tiêu chí quan trọng nhất để xác định một người là cán bộ khoa học Còn học vị khoa học nên hiểu là tiêu chí đánh giá trình độ kiến thức chuyên sâu của một người nghiên cứu khoa học, là tiêu chuẩn dự báo năng lực nghiên cứu

Để hiểu rõ hơn về khái niệm cán bộ khoa học, cần tìm hiểu thêm về hoạt động nghiên cứu khoa học

1.1.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học

Các giáo trình môn Phương pháp nghiên cứu khoa học dành cho sinh viên đại học nước ta hiện nay cùng chung định nghĩa: "Nghiên cứu khoa học là việc tìm kiếm, xem xét, điều tra (kể cả làm thí nghiệm) để từ những dữ kiện có được (số liệu, tài liệu, kiến thức đã có ) đạt đến một kết quả mới hơn, cao hơn, giá trị hơn"

Hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm ba mảng cấu thành Đầu tiên là công việc tìm kiếm, thu thập và xử lý thông tin Người nghiên cứu thông qua các công cụ và kỹ năng sử dụng công cụ của mình sẽ tìm kiếm thông tin cần thiết để bắt đầu quá trình nghiên cứu Đây là hoạt động hết sức quan trọng, tạo nên khối lượng kiến thức rộng lớn, đồ sộ làm nền tảng trí tuệ cho người nghiên cứu Sau khi liên tục tìm kiếm, cập nhật các thông tin thì người nghiên cứu bắt đầu hình thành các ý tưởng khoa học và thực hiện việc thu thập, sắp xếp thông tin theo những mối liên hệ nhất định Đây cũng là bước đầu tiên của quá trình xử lý thông tin nghiên cứu Trên cơ sở các thông tin thu thập và được sắp xếp, người nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề quan tâm theo các phương pháp khoa học, từ đó hình thành kiến thức khoa học phục vụ quá trình đi đến mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Toàn bộ hoạt động

Trang 11

này còn được gọi là "đầu tư quá khứ" Đây là hoạt động quan trọng, làm tiền đề cho tất cả hoạt động nghiên cứu sau đó Việc xử lý thông tin bằng nhiều phương pháp khoa học khác nhau mang dấu ấn trí tuệ cá nhân đã trở thành bí quyết, mấu chốt thành công của mỗi nhà khoa học

Công việc tiếp theo của người nghiên cứu là tìm ra những vấn đề "trong quá khứ", dùng các phương pháp nghiên cứu khoa học để tìm hiểu thực tại, khám phá những quy luật mới, đưa ra những định đề, khái niệm khoa học mới Từ đó giải quyết mục tiêu nghiên cứu bằng các kết quả nghiên cứu Đó có thể là chính những khái niệm mới, định đề mới, quy luật mới tìm ra Nhưng cũng có thể là những kiến nghị có căn cứ khoa học để giải quyết những vấn đề của hiện tại Đây là hoạt động chính, hoạt động chủ yếu của nghiên cứu khoa học Đây là quá trình mang tính hữu ích đối với cuộc sống hay là sự phát triển Nó là sự khai mở trí tuệ con người trên những nấc thang tiến hoá của loài người

Mảng hoạt động cuối cùng trong nghiên cứu khoa học là công bố kết quả nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu được gọi là công trình nghiên cứu khoa học chính là các kiến thức Hình thức công bố kết quả nghiên cứu tuỳ thuộc vào sự phát triển của xã hội, trong hàng thế kỷ nay, loài người biết đến những hình thức phổ biến nhất là văn bia, sách, báo, tạp chí Cũng cần nói thêm là vật liệu lưu giữ thông tin khoa học truyền thống là đá, xương thú (mai rùa, xương cá ), mộc (gỗ, tre, trúc ), đất nung và giấy Ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều các vật liệu mới để lưu giữ thông tin bên cạnh các vật liệu truyền thống như băng từ, đĩa từ, đĩa quang học Có thể thấy xu hướng phát triển chung của các vật liệu này là ngày càng giảm thể tích, khối lượng, đồng thời số lượng thông tin lưu giữ ngày càng tăng tính trong một đơn vị vật liệu Đi kèm với sự phát triển của vật liệu lưu giữ thông tin, công nghệ trao đổi thông tin cũng phát triển nhanh và rất thuận tiện cho việc phổ biến cũng như tìm kiếm các kết quả nghiên cứu khoa học

Trang 12

Hai là, tương ứng với các mảng hoạt động nghiên cứu khoa học thì yêu cầu đối với cán bộ khoa học Học viện để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu là phải

có khả năng thu thập, sắp xếp và xử lí thông tin phục vụ nghiên cứu; khả năng phát hiện vấn đề và nhìn nhận vấn để bắt đầu nghiên cứu; khả năng và phương pháp tư

duy; khả năng trình bày vấn đề khoa học: có kĩ thuật, rõ, dễ hiểu

1.2 Khái niệm công nghệ thông tin

Tương tự khái niệm "cán bộ khoa học", CNTT cũng là khái niệm được nhắc đến rất nhiều ở nước ta trong gần 20 năm nay Thế nhưng không phải khái niệm này đã được hiểu thống nhất trong mọi ngữ cảnh sử dụng và ngay cả trong giới nghiên cứu

1.2.1 Khái niệm

Khoản 1 điều 4 Luật Công nghệ thông tin năm 2006 giải thích "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số" Có thể hiểu định nghĩa này trong Luật một cách đơn giản và ngắn gọn là công nghệ về thông tin số Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia) thì "CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền,

và thu thập thông tin CNTT được xác định là một thuật ngữ bao trùm tất cả các ngành có liên quan đến tin học" Hai khái niệm trên khác nhau ở hai điểm: trong khi Luật Việt Nam không xác định phương tiện cụ thể áp dụng trong CNTT, và xác

Trang 13

định rõ đối tượng của công nghệ đó là thông tin số, thì Wikipedia lại xác định cụ thể công cụ hiện đại sử dụng trong CNTT là máy tính và phần mềm máy tính và không xác định dạng thông tin cụ thể

Lịch sử ra đời của ngành khoa học CNTT cho thấy ngành này có sự khởi

nguồn từ Tin học Từ "tin học" đã được dịch từ informatique trong tiếng Pháp Từ informatics trong tiếng Anh cũng bắt nguồn từ từ tiếng Pháp này, nhưng theo thời gian informatics đã mang nghĩa khác dần với nghĩa ban đầu và hầu như chỉ còn

được dùng phổ biến tại châu Âu Ngày nay, thuật ngữ tiếng Anh tương đương với

informatique là computer science, nghĩa là "khoa học về máy tính" Liên quan đến

Tin học có nhiều thuật ngữ có nghĩa gần giống nhau và dễ bị nhầm lẫn ví dụ như: Khoa học máy tính (ngành nghiên cứu các cơ sở lý thuyết của tin học như thuật toán, ngôn ngữ hình thức, lý thuyết đồ thị, đồ họa máy tính nghĩa là chỉ có liên quan gián tiếp đến phần mềm và máy tính); Kỹ thuật máy tính (nghiên cứu về việc chế tạo và sử dụng các thiết bị tin học); Kỹ nghệ phần mềm (nghiên cứu về việc mô hình hóa và phát triển phần mềm, hay còn được gọi là Công nghệ phần mềm)

Theo Wikipedia, Tin học là ngành nghiên cứu về việc tự động hóa xử lý thông tin bởi một hệ thống máy tính cụ thể hoặc trừu tượng Người ta có thể làm việc với tin học bằng bất cứ một hệ thống nào hoạt động tương tự với các mạch lôgic: các máy cơ học (chẳng hạn máy tính Pascal và ô-tô-mát), máy khí động, hệ thống thủy lực Những chương trình tin học đầu tiên được viết từ trước sự ra đời của máy tính rất lâu Một số phân nhánh quan trọng của Tin học là Khoa học máy tính; Công nghệ phần mềm; Phương pháp số; Hệ điều hành; Phân tích hệ thống; Cơ

sở dữ liệu và Cấu trúc dữ liệu; Kiến trúc máy tính; Mạng máy tính; Tính toán khoa học Ngoài ra ngành tin học có quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khác Các ngành này có nhiều phần chung, tuy vẫn khác nhau ở nhiều điểm quan trọng:

Thuật toán: là dãy thao tác lệnh mà sau một số bước hữu hạn từ dữ liệu đầu vào (input) đã cho, ta có dữ liệu đầu ra (output)

Trang 14

Trí tuệ nhân tạo: cài đặt và nghiên cứu các hệ thống thể hiện hành vi hoặc trí thông minh tự động của bản thân, đôi khi được phỏng theo đặc điểm của các thực thể sống Tin học gắn bó chặt chẽ với Trí tuệ nhân tạo, bởi phần mềm và máy tính

là các công cụ cơ bản cho việc phát triển trí thông minh nhân tạo

Tin sinh học: áp dụng các kỹ thuật của toán học ứng dụng, khoa học thông tin, thống kê và khoa học máy tính để giải quyết các bài toán sinh học

Kỹ nghệ máy tính: phân tích, thiết kế, và xây dựng các hệ thống máy tính (bao gồm phần cứng và mạng máy tính)

Độ phức tạp tính toán: một ngành con của khoa học máy tính, nghiên cứu tìm các cận dưới cơ bản của tính toán

Lập trình: hoạt động viết mã chương trình

Đồ họa máy tính: một ngành tính toán hình ảnh (visual computing), trong đó, máy tính được sử dụng để tạo các hình ảnh tổng hợp và để tích hợp hay sửa đổi các

dữ liệu hình ảnh và không gian thu thập được từ thế giới thực

Computer vision: nghiên cứu sử dụng máy tính để tách các đối tượng 3 chiều

Trang 15

các cơ sở dữ liệu quan hệ độc lập hoặc các cơ sở dữ liệu nối mạng siêu văn bản như Internet hoặc intranet)

Các hệ thống thông tin: ứng dụng tin học để hỗ trợ hoạt động của một tổ chức (hoạt động, cài đặt, và bảo trì máy tính, phần mềm và dữ liệu)

Từ điển học (lexicography): nghiên cứu về tra cứu từ điển, bao gồm nghiên cứu về các từ điển điện tử và từ điển Internet

Ngôn ngữ học: nghiên cứu các ngôn ngữ; nó gặp tin học ở những lĩnh vực như thiết kế ngôn ngữ lập trình và xử lý ngôn ngữ tự nhiên

Lô-gíc: một hệ thống suy luận hình thức và nghiên cứu về các nguyên lý nền tảng của máy tính, cả ở mức phần cứng (digital logic) và phần mềm (kiểm định, trí tuệ nhân tạo v.v.)

Các hệ thống thông tin quản lý: ngành con của các hệ thống thông tin, tập trung vào quản lý cá nhân và quản lý tài chính

Toán học: chia sẻ nhiều kỹ thuật và chủ đề với khoa học máy tính, nhưng ở mức tổng quát hơn Tin học lý thuyết chính là toán học về tính toán

Kỹ nghệ phần mềm: tập trung vào đặc tả, phân tích, thiết kế, xây dựng, và kiểm thử phần mềm Kỹ nghệ phần mềm bao gồm các phương pháp phát triển (chẳng hạn mô hình thác nước và lập trình cực đoan) và quản lý dự án

Công nghệ thông tin: một thuật ngữ bao trùm tất cả các ngành có liên quan đến tin học

Có thể thấy nội dung của tin học mô phỏng cơ chế hoạt động của bộ óc con người Trên cở sở đó, tạo ra các loại máy tính thực hiện tự động các quá trình xử lý thông tin và trí tuệ với một tốc độ nhanh và với khả năng lưu trữ thông tin lớn Vì vậy ngày nay khi máy tính đang rất phổ cập thì khái niệm "tin học" bao hàm tất cả các nghiên cứu và kỹ thuật có liên quan đến việc xử lý thông tin Trong nghĩa thông dụng, tin học còn có thể bao hàm cả những gì liên quan đến các thiết bị máy tính

Trang 16

hay các ứng dụng tin học văn phòng Theo cách hiểu này, tin học ngày càng được ứng dụng phổ biến vào các lĩnh vực của xã hội

Tuy nhiên vì tin học có quá nhiều ngành khoa học cũng như khái niệm, thuật ngữ liên quan, đồng thời sự phát triển của "thông tin số hoá" không cho phép nhận thức "tin học" để dừng lại ở "những gì liên quan đến các thiết bị máy tính" Do đó phải tiếp cận khái niệm CNTT ở nghĩa rộng, với tính chất bao trùm toàn bộ các ngành khoa học liên quan đến tin học Từ đây, Luật CNTT năm 2006 định nghĩa khái niệm "ứng dụng công nghệ thông tin" là "việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh

và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này" CNTT tạo ra giá trị cho xã hội theo hai phương thức:

Phương thức gián tiếp: CNTT được ứng dụng rộng rãi vào các ngành kinh tế, sản xuất, quản lý xã hội, nghiên cứu khoa học, quốc phòng

Phương thức trực tiếp: CNTT với tư cách là một ngành công ngiệp CNTT,

có hai bộ phận là Công nghiệp phần cứng (công nghiệp thiết bị CNTT) và Công nghiệp phần mềm (công nghiệp sản phẩm chương trình và dữ liệu)

Đề tài này chỉ đề cập đến các giá trị CNTT tạo ra cho xã hội theo phương thức gián tiếp và tập trung nghiên cứu các ứng dụng từ các giá trị này vào công tác của cán bộ khoa học Học viện

1.2.2 Các giá trị xã hội gián tiếp của CNTT được ứng dụng trong đời sống

Ngày nay, khi nói đến CNTT, trong rất nhiều trường hợp người ta chỉ muốn

đề cập đến các loại mạng máy tính (LAN, WAN, VPN ), đặc biệt là Internet (một dạng đặc biệt của WAN) và các ứng dụng công nghệ trên đó Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ

liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao

thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh

Trang 17

nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân, và các chính phủ trên toàn cầu

Các ứng dụng phổ biến nhất hiện nay trên Internet là: web (mạng lưới toàn cầu), e-mail (hệ thống thư điện tử), chat (trò chuyện trực tuyến), search engine (máy truy tìm dữ liệu), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân, các dịch vụ về y tế giáo dục như là chữa bệnh từ xa hoặc tổ chức các lớp học ảo Tất cả các ứng dụng

đó cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet

Mạng lưới toàn cầu World Wide Web, gọi tắt là Web hoặc WWW, là một không gian thông tin toàn cầu mà mọi người có thể truy nhập (đọc và viết) qua các máy tính nối với mạng Internet Web chỉ là một trong các dịch vụ chạy trên Internet, tương tự như dịch vụ thư điện tử

Thư điện tử, hay e-mail (từ chữ electronic mail), là một hệ thống chuyển

nhận thư qua các mạng máy tính E-mail là một phương tiện trao đổi thông tin rất nhanh Một mẫu thông tin (thư từ) có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính, đặc biệt là mạng Internet

Nó có thể chuyển mẫu thông tin từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng lúc E-mail chẳng những có thể truyền gửi được chữ, nó còn có thể truyền được các dạng thông tin khác như hình ảnh, âm thanh, phim, và đặc biệt các phần mềm thư điện tử kiểu mới còn có thể hiển thị các e-mail dạng sống động tương thích với kiểu tệp HTML

Nhắn tin nhanh (hay tin nhắn tức khắc, trò chuyện trực tuyến, chát - từ chat trong tiếng Anh, IM viết tắt của Instant Messaging), là dịch vụ cho phép hai người

trở lên nói chuyện trực tuyến với nhau qua một mạng máy tính Nhắn tin nhanh là trò chuyện mạng, có nhiều tính năng hay, như khả năng trò chuyện nhóm, dùng biểu tượng xúc cảm, truyền tập tin, tìm dịch vụ và cấu hình dễ dàng bản liệt kê bạn

bè Nhắn tin nhanh đã thúc đẩy sự phát triển của Internet trong đầu thập niên 2000

Trang 18

Máy truy tìm hay máy tìm kiếm (tiếng Anh: search engine), hay còn được gọi với nghĩa rộng hơn là công cụ tìm kiếm (search tool), nguyên thuỷ là một phần

mềm nhằm tìm ra các trang Web trên mạng Internet có nội dung theo yêu cầu người dùng dựa vào các thông tin mà chúng có Trữ lượng thông tin này của công

cụ tìm kiếm thực chất là một loại cơ sở dữ liệu (database) cực lớn Việc tìm các tài liệu sẽ dựa trên các từ khóa (keyword) được người dùng gõ vào và trả về một danh

mục các trang Web có chứa từ khóa mà nó tìm được Ngày nay, với số lượng các trang Web lên đến hàng tỉ, việc tìm ra số trang có chứa nội dung đòi hỏi của từ khoá có thể lên đến hàng triệu trang Khác với hệ thống thư mục mạng được duy trì bởi con người, máy tìm hoạt động dựa vào các thuật toán Những trang Web được gọi là máy tìm, thực chất là giao diện người dùng của các máy tìm sở hữu bởi các công ty khác nhau

Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, thị trường ảo, Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu giữa các máy tính trong chính sách phân phối của tiếp thị Tại đây một mối quan hệ thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng được tiến hành thông qua Internet Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch thương mại mà trong đó các đối tác giao dịch sử dụng các kỹ thuật thông tin trong khuôn khổ chào mời, thoả thuận hay cung cấp dịch vụ

E-Khám, chữa bệnh từ xa là phương pháp khám, chữa bệnh không có sự giao tiếp trực tiếp giữa bác sỹ và bệnh nhân Hoạt động này được thực hiện dựa vào các công cụ, phương tiện hiện đại, thông qua các ứng dụng trên Internet bác sỹ sẽ thăm khám cho bệnh nhân và từ đó đưa ra các kết luận, các phác đồ điều trị, hoặc liên hệ trực tuyến với bác sỹ, y tá có mặt trực tiếp nơi có bệnh nhân để chỉ đạo điều trị

Lớp học kết nối hay lớp học ảo là phương pháp mà ở đó, các bài giảng được đưa lên mạng, học viên tìm hiểu bài giảng trực tuyến, sinh hoạt nhóm hay giao tiếp với giảng viên đều thông qua hệ thống kết nối truyền hình vô tuyến Các thiết bị

Trang 19

giải pháp học tập hỗn hợp, môi trường ảo, thiết bị cầm tay thế hệ mới, các trang web đào tạo

1.2.3 Kết luận mục 1.2

Qua các trình bày và phân tích ở trên có thể rút ra một số kết luận sau:

Một là, CNTT là một ngành khoa học vừa mang tính chất là khoa học cơ bản, vừa mang tính chất là một ngành khoa học ứng dụng Nó bao hàm, đan xen các giá trị lý thuyết cơ bản và ứng dụng thực tiễn trong các tiến bộ, phát minh cụ thể Vì vậy CNTT chính là ngành khoa học, ngành công nghiệp sản xuất, ngành dịch vụ trụ cột của nền kinh tế tri thức đang manh nha ở hiện tại và sẽ phát triển rộng khắp trong tương lai

Hai là, một số giá trị chủ yếu và phổ biến của CNTT cũng chính là những thành tố cơ bản được ứng dụng trong đời sống kinh tế-xã hội Vì vậy, ngày nay khi đề cập đến ứng dụng CNTT trong công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn là chủ yếu đề cập đến sử dụng các ứng dụng CNTT trên môi trường mạng máy tính

Ba là, các ứng dụng CNTT chỉ thực hiện được trong những điều kiện cơ bản sau: có hạ tầng công nghệ hiện đại, mạnh mẽ và rộng khắp (đó là cơ sở và cũng đồng thời là thành tố cấu thành các loại mạng LAN, WAN, VPN đặc biệt là Internet); có các thiết bị công nghệ và phần mềm hiện đại ứng dụng trên Internet (phần cứng và phần mềm); có người dùng đủ trình độ, hoàn thiện kỹ năng sử dụng các ứng dụng cụ thể vào công tác

1.3 Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sử dụng CNTT

1.3.1 Khái niệm kỹ năng

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Trung tâm Từ điển học

và Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2002 định nghĩa Kỹ năng là “Khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”

Trang 20

Có quan điểm khác, cụ thể hơn, cho rằng "Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống" Hay có quan niệm kỹ năng là sự thành thạo công việc thể hiện qua năng lực thực hiện hay giải quyết thành công một nhiệm vụ hay vấn đề cụ thể Các quan niệm này nhấn

mạnh đến năng lực mà không thấy được mối liên hệ giữa kỹ năng và năng lực

Theo nghĩa thông thường, kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn Cùng với kiến thức và thái độ, kỹ năng là một trụ cột cấu thành của năng lực

Trên thực tế, kiến thức và kỹ năng là hai thành tố liên hệ chặt chẽ với nhau

để quyết định năng lực Kiến thức có vai trò chi phối, quyết định kỹ năng, có nghĩa rằng kiến thức càng rộng, càng sâu thì kỹ năng càng giỏi Nhưng nếu kỹ năng không được rèn luyện thường xuyên thì dù kiến thức có uyên thâm đến mấy cũng đem lại kết quả công việc không tương xứng Vì vậy nâng cao và hoàn thiện

kỹ năng là quá trình vừa lĩnh hội kiến thức, vừa rèn luyện kỹ năng trong thực tế làm việc

Kỹ năng được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Căn cứ vào lĩnh vực lao động, hoạt động của con người, có hai loại kỹ năng là kỹ năng tâm vận (kỹ năng làm việc chân tay, cơ bắp như đào đất, lái xe, xây nhà ) và kỹ năng trí tuệ hay còn gọi là kỹ năng nhận thức (kỹ năng lao động trí óc như đánh giá, thẩm định, lập kế hoạch, giám sát ) Căn cứ vào đặc điểm hình thành kỹ năng, có hai loại kỹ năng cứng và kỹ năng mềm Kỹ năng cứng là loại kỹ năng hình thành từ quá trình học tập, đây là kỹ năng có tính nền tảng Kỹ năng mềm là loại kỹ năng hình thành

từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc thực tế nghề nghiệp, đây là loại kỹ năng cực

kỳ phong phú và rất quan trọng vì nó đáp ứng trực tiếp nhất, sát nhất với yêu cầu công tác, lao động

Nguồn gốc hình thành kỹ năng từ các phản xạ có điều kiện (được hình thành trong thực tế cuộc sống của cá nhân) và phản xạ không điều kiện (là những phản xạ

Trang 21

thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện, nghĩa là kỹ năng được hình thành từ quá trình sinh sống, đặc biệt là thời gian trưởng thành và tham gia hoạt động thực tế cuộc sống của cá nhân Kỹ năng đóng vai trò là cầu nối giữa nhận thức của con người và hành động của họ Nếu một người có kiến thức mà không được học tập, rèn luyện kỹ năng thì không thể hoàn thành được bất cứ hoạt động nào theo đúng những gì người đó nhận thức Có thể nói, đặc điểm quan trọng nhất của kỹ năng đó

là được hình thành từ các phản xạ có điều kiện, mà ở đây tựu trung lại là từ quá trình đào tạo và rèn luyện trong thực tế: học và hành Do đó, quá trình hình thành

và hoàn thiện kỹ năng của mỗi cá nhân gắn liền với quá trình học tập: học tập chủ động (tự học) và học tập thụ động (có người dạy) Trong đó quá trình tự học có vai trò quan trọng nhất, vì đó là quá trình tiếp thu kiến thức và cả các kỹ năng một cách chủ động, tự giác, tích cực và phong phú, sát thực tế nhất

1.3.2 Kỹ năng sử dụng CNTT

Kỹ năng sử dụng CNTT theo nguyên nghĩa thì rất rộng lớn, gồm rất nhiều nhóm kỹ năng khác nhau và chắc chắn rằng không một cá nhân nào có đủ điều kiện để hoàn thiện được Đối với đề tài này, theo chúng tôi, kỹ năng sử dụng CNTT trước hết phải được hiểu là kỹ năng sử dụng các ứng dụng của CNTT thông qua máy tính và mạng máy tính Có nghĩa rằng chỉ đề cập đến những kỹ năng đối với từng lĩnh vực lao động cụ thể bằng máy tính và các ứng dụng liên quan trên mạng máy tính Theo cách hiểu này, có thể có các định nghĩa sau về kỹ năng sử dụng CNTT:

Theo nghĩa rộng, kỹ năng sử dụng CNTT là khả năng vận dụng những tri thức khoa học về máy tính, mạng máy tính và các ứng dụng phần mềm trong đó vào công tác

Theo nghĩa hẹp, kỹ năng sử dụng CNTT là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được về phần mềm máy tính và các ứng dụng phần mềm mạng máy tính vào công tác

Trang 22

Đề tài này tập trung nghiên cứu về kỹ năng sử dụng CNTT của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn, vì vậy tìm hiểu kỹ năng sử dụng CNTT theo nghĩa rộng

sẽ không thích hợp Đối với cán bộ khoa học xã hội và nhân văn, việc hoàn thiện

kỹ năng sử dụng các phần mềm máy tính và mạng máy tính là bảo đảm các yêu cầu công việc Còn những ứng dụng khác liên quan đến phần cứng, thậm chí là các phần mềm cơ bản kiểu như các hệ điều hành, hệ quản trị cơ sở dữ liệu (kiểu như Windows hay SQL server) thì chỉ phù hợp với các cán bộ là nhân lực trong ngành CNTT

Kỹ năng sử dụng CNTT phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học chủ yếu nhất bao gồm: nhóm kỹ năng sử dụng các phần mềm văn phòng cài đặt trong máy tính cá nhân; nhóm kỹ năng về duyệt web; nhóm kỹ năng sử dụng thư điện tử; nhóm kỹ năng sử dụng chat; nhóm kỹ năng sử dụng công cụ tìm kiếm; nhóm kỹ năng sử dụng Thương mại điện tử; nhóm kỹ năng sử dụng lớp học ảo

Nhóm kỹ năng sử dụng các phần mềm văn phòng cài đặt trong máy tính cá nhân là khả năng vận dụng các kiến thức về phần mềm soạn thảo văn bản, trình chiếu văn bản, bảng tính, quản lý vào công việc

Nhóm kỹ năng về duyệt web là khả năng vận dụng kiến thức về web và Internet để xem, nghe, đọc, viết cũng như gửi (upload) và nhận (download) thông tin trên trang web vào thực tế Đó là phương thức phổ biến hiện nay để trao đổi thông tin qua Internet

Nhóm kỹ năng sử dụng thư điện tử là khả năng vận dụng kiến thức về thư điện tử, các trang web, các dịch vụ trực tuyến cũng như các phần mềm hỗ trợ soạn thảo, gửi-nhận, quản lý, đọc thư điện tử vào thực tế

Nhóm kỹ năng sử dụng chat là khả năng vận dụng kiến thức về chat để soạn thảo, gửi-nhận tin nhắn trực tuyến, gửi-nhận các loại tin bằng hình ảnh, âm thanh thiết lập và quản lý danh mục đối tác trong chat vào thực tế

Trang 23

Nhóm kỹ năng sử dụng công cụ tìm kiếm là khả năng vận dụng kiến thức về các dịch vụ tìm kiếm trong máy tính cá nhân, dịch vụ tìm kiếm trên mạng máy tính, cách thức sử dụng "từ khoá tìm kiếm", cách thức nhận (lấy) thông tin tìm được bằng các dịch vụ, công cụ tìm kiếm, cách thức kiểm định nguồn thông tin, tính chính xác của thông tin vào thực tế Đây là nhóm kỹ năng hết sức quan trọng và hữu ích khi làm việc trên máy tính và đặc biệt là làm việc với mạng máy tính

Nhóm kỹ năng sử dụng thương mại điện tử là khả năng vận dụng kiến thức

về phương thức mua bán hàng hoá qua mạng, các dịch vụ mua bán trực tuyến, nguyên lý và hình thức thanh toán trong mua bán trực tuyến, chữ ký điện tử, cách thức kiểm chứng và xác thực giao dịch vào thực tế

Nhóm kỹ năng sử dụng lớp học ảo là nhóm kỹ năng hết sức đặc thù đối với các cơ sở đào tạo Nhóm kỹ năng này bao gồm tổng hoà các nhóm kỹ năng về phần mềm văn phòng, duyệt web, e-mail, chat Đây là khả năng vận dụng những kiến thức về soạn thảo giáo án điện tử, bài giảng điện tử, cách thức sử dụng truyền hình giảng đường, quản lý lớp học ảo, giao lưu trực tuyến (qua chat), giao lưu offline (qua e-mail) vào giảng dạy

1.3.3 Đặc điểm và vai trò của kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin đối với công tác của cán bộ khoa học

* Các kỹ năng CNTT có đặc điểm sau:

- Thứ nhất, kỹ năng CNTT gắn liền với máy tính cá nhân và các phần mềm thông dụng được cài đặt trong đó

- Thứ hai, kỹ năng CNTT gắn liền với công nghệ mạng máy tính và các dịch

Trang 24

Đối với công tác của cán bộ khoa học, các kỹ năng CNTT cũng là một bộ phận trong các kỹ năng nghiên cứu khoa học Bởi vì hoạt động khoa học, xét trên khía cạnh thông tin (khía cạnh bên ngoài), là hoạt động phát hiện ra những thông tin mới thông qua các thông tin đã và đang có Kỹ năng CNTT nằm trong năng lực tìm kiếm, sắp xếp và xử lý thông tin - năng lực cần thiết cho giai đoạn đầu của một quá trình nghiên cứu khoa học; đồng thời kỹ năng CNTT cũng nằm ở giai đoạn cuối của quá trình nghiên cứu, đó là trình bày, công bố kết quả nghiên cứu Vì vậy

kỹ năng CNTT có các vai trò chủ yếu sau:

- Thứ nhất, giúp tìm kiếm thông tin nhanh hơn, đúng chủ đề và tiếp cận được với kho thông tin đồ sộ trên toàn thế giới mà bằng bất cứ phương tiện nào khác hiện có cũng không đáp ứng được

- Thứ hai, giúp sắp xếp thông tin một cách hợp lý nhất, thuận tiện nhất và nhanh nhất

- Thứ ba, giúp xử lý thông tin theo đúng yêu cầu và nhanh nhất

- Thứ tư, giúp truy xuất thông tin cần thiết chính xác và nhanh nhất

- Thứ năm, giúp trình bày báo cáo khoa học, kết quả nghiên cứu một cách phù hợp và dễ hiểu

- Thứ sáu, giúp phổ biến thông tin khoa học với tốc độ nhanh nhất, phạm vi rộng nhất

- Thứ bảy, giúp cán bộ khoa học nâng cao trình độ, tiếp cận với các kiến thức khoa học mới nhất, phương pháp nghiên cứu mới nhất

Với những vai trò đó, kỹ năng CNTT sẽ thật sự mang lại năng suất làm việc cũng như hiệu quả công việc rất cao cho cán bộ khoa học

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KHOA HỌC CỦA HỌC VIỆN

CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

2.1 Các tiêu chí đánh giá

Đánh giá thực trạng kỹ năng sử dụng CNTT trong đội ngũ cán bộ khoa học của Học viện giống như việc kiểm tra trình kiến thức về CNTT của cán bộ khoa học Học viện Có thể thấy rằng đây là việc làm không dễ dàng Nhưng kiến thức mới chỉ là bước đầu, mà kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức vào thực

tế, nó mang tính thực tiễn rất cao Vì vậy cần xác định được các tiêu chí đánh giá cụ thể, bảo đảm mang lại kết quả chính xác nhất thực trạng vấn đề nghiên cứu tại Học viện

Trên cơ sở các kỹ năng CNTT đã nêu ở phần trước, có thể liệt kê các tiêu chí đánh giá như sau: kỹ năng sử dụng các phần mềm văn phòng cài đặt trong máy tính

cá nhân; nhóm kỹ năng về duyệt web; kỹ năng sử dụng công cụ tìm kiếm; kỹ năng

sử dụng thư điện tử; kỹ năng sử dụng chat; kỹ năng sử dụng Thương mại điện tử;

kỹ năng sử dụng lớp học ảo

Việc đánh giá theo các tiêu chí này có điểm mạnh là đánh giá được trình độ

kỹ năng của từng cá nhân, đem lại cái nhìn toàn diện về thực trạng vấn đề tại Học viện Tuy nhiên điểm yếu của tiêu chí này là không xem xét được những vấn đề mang tính điều kiện, nguyên nhân của thực trạng Vì vấn đề kỹ năng CNTT không phải là vấn đề có tính độc lập, đơn lẻ mà gắn bó chặt chẽ với một số yếu tố khác

Như trên đã phân tích, khi đề cập đến ứng dụng CNTT trong công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn là chủ yếu đề cập đến sử dụng các ứng dụng CNTT trên môi trường mạng máy tính Do đó các kỹ năng sử dụng CNTT của cá nhân chỉ hình thành và có thể hoàn thiện trong những điều kiện cơ bản là: có hạ tầng công nghệ hiện đại, mạnh mẽ và rộng khắp; có các thiết bị công nghệ và phần

Trang 26

Thêm vào đó, kỹ năng chỉ là một bộ phận của năng lực, bên cạnh kiến thức

và thái độ Đây là một tổng thể gắn bó chặt chẽ và hữu cơ Tìm hiểu thực trạng kỹ năng CNTT mà không tìm hiểu thực trạng đào tạo cũng như thái độ của cán bộ khoa học thì sẽ không cho kết quả chính xác và hữu ích

Vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định đánh giá thực trạng vấn đề theo phương thức kết hợp các loại tiêu chí Trong đó sẽ đánh giá thông qua các tiêu chí như nhận thức, thái độ; kiến thức đã được đào tạo, nhu cầu nâng cao kiến thức; mức độ hoàn thiện các nhóm kỹ năng; việc ứng dụng các kỹ năng vào nghiên cứu

2.2 Thực trạng trong đội ngũ cán bộ giảng dạy nghiên cứu

2.2.1 Về nhận thức, thái độ

Nhìn chung, cán bộ khoa học của Học viện đều có nhận thức đúng đắn về vai trò CNTT: nhận thức rõ việc cần thiết phải hình thành và hoàn thiện kỹ năng CNTT

để sử dụng trong công việc nghiên cứu khoa học

Theo kết quả điều tra bằng thống kê xã hội học, 100% số người được hỏi đều nhất trí với quan điểm CNTT cần thiết đối với lĩnh vực họ đang công tác Không những vậy, số cán bộ khoa học nhận thức sâu sắc vấn đề này rất lớn Để nâng cao

kỹ năng sử dụng CNTT, 75% người được hỏi cho rằng cần trang bị đủ máy tính theo yêu cầu, con số này tăng lên 79% đối với yêu cầu nâng cấp hệ thống mạng máy tính để mạng hoạt động ổn định Một minh chứng nữa cho thấy nhận định này

là khi được hỏi về nhu cầu được đào tạo và cần có quy chế bắt buộc để nâng cao kỹ năng hay không, khoảng 60% người đồng ý cần đào tạo thêm và chỉ 30% cho rằng cần có quy chế bắt buộc Rõ ràng là nhu cầu nắm vững kỹ năng CNTT không còn

là sức ép từ bên ngoài mà đã trở thành nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ khoa học, hình thành thái độ tích cực, chủ động tiếp nhận

Trang 27

Tần suất sử dụng máy tính theo kết quả điều tra

83%

Thường xuyên Thỉnh thoảng Không sử dụng

Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế về vấn đề này trong đội ngũ cán bộ khoa học Học viện Rõ rệt nhất là nhận thức của cán bộ khoa học về CNTT chưa đầy đủ

Đa số cán bộ khoa học quan niệm máy vi tính là "máy chữ" có màn hình điện tử

Do đó máy vi tính chỉ được dùng để soạn thảo văn bản, trình chiếu văn bản và duyệt Web Đồng thời, nhiều người đăng ký đi học các lớp về CNTT nhưng không theo hết quá trình học tập hoặc học không nghiêm túc như đi muộn, về sớm hay bỏ học Họ đã quên, hoặc không biết đến nhiều tính năng quan trọng của máy tính như xử lý thông tin và lưu trữ thông tin Bên cạnh đó, các dịch vụ khác lưu hành trên Internet và LAN ít được họ để mắt tới Điều này khiến cho việc hoàn thiện kỹ năng CNTT gặp nhiều khó khăn

2.2.2 Về kiến thức đã được đào tạo, nhu cầu nâng cao kiến thức

Theo thống kê của Vụ Tổ chức-Cán bộ, từ năm 1996 đến nay Học viện đã

mở hàng trăm lớp bồi dưỡng kiến thức tin học với các nội dung: tin học văn phòng, tinhọc cơ bản, tin học nâng cao, bồi dưỡng kiến thức khai thác mạng, tập huấn nghiệp vụ v.v Trong đó Dự án CNTT có 19 lớp với 330 học viên Vụ Tổ chức-Cán bộ phối hợp với Viện Thông tin khoa học, Bộ môn tin học, Văn phòng Học viện (Phòng Quản lý CNTT) mở gần 40 lớp với hơn 800 lượt học viên Phòng phương pháp (thuộc Vụ Quản lý đào tạo) mở 22 lớp phương pháp dạy học hiện đại với hơn 300 học viên Viện Thông tin khoa học mở hơn 20 lớp bồi dưỡng, tập huấn

Trang 28

năm Học viện có hàng chục lớp tin học các loại Số lượng học viên tham gia các lớp liên tục tăng Có người học tới 3, 4 lớp Kết quả là, tính đến năm 2005 đội ngũ cán bộ khoa học tại trung tâm Học viện đều đã được phổ cập về sử dụng máy tính

từ mức cơ bản đến nâng cao Có 20 cán bộ khoa học đạt trình độ C về tin học, 167 cán bộ khoa học đạt trình độ B, số cán bộ còn lại đều đạt trình độ A hoặc đã có chứng chỉ đào tạo tin học chương trình cơ bản

Trên thực tế, việc đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu Hiện còn khoảng 70 cán bộ khoa học chưa tham gia học tin học Về nội dung kiến thức, còn nặng về lý thuyết CNTT, chưa chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thực hành Kết cấu các chương trình có phần dàn trải, chưa có điều kiện tìm hiểu và gắn nội dung học với nhu cầu từng loại đối tượng học viên Có lớp lại mở quá dài thời gian, ảnh hưởng đến công tác của cán bộ khoa học Thêm vào đó, việc đào tạo kỹ năng luôn đi kèm với rèn luyện kỹ năng, do đó việc thiếu máy móc, thiết bị và cả ứng dụng phần mềm chậm chạp cũng làm ảnh hưởng đến kết quả đào tạo

Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu, mới chỉ có 60% cán bộ khoa học được đào tạo về hệ điều hành windows Đối với phần mềm ứng dụng văn phòng như tính toán trên biểu bảng (Microsoft Excel) hay trình chiếu (PowerPoint), chỉ có 47% và 51% cán bộ đã được học Phần mềm soạn thảo văn bản phổ biến nhất là Microsoft Word thì có tới 80% cán bộ đã được học Còn với các phần mềm khác (Mạng máy tính, diệt virus, bảo mật máy tính cá nhân, bảo mật dữ liệu, sao lưu, sắp xếp dữ liệu, ) thì có đến gần 90% là chưa được học

Điều này chưa phù hợp với một thực trạng, đó là đa số cán bộ khoa học Học viện sử dụng máy tính phổ biến vào soạn thảo văn bản, theo dõi tin tức và tìm kiếm thông tin trên mạng Internet với tần suất cao Nếu chỉ dựa vào kiến thức được học "bài bản" thì thật khó để thực hiện được các thao tác nêu trên Và qua đó cũng phản ảnh rõ một thực tế là cán bộ khoa học của Học viện cần phải được nâng cao kiến thức về CNTT, nhất là kiến thức về truy cập và sử dụng mạng việc phòng tránh các phần

Trang 29

Như vậy thực tế Học viện cho thấy việc đào tạo chính thức qua trường, lớp không phải là yếu tố quyết định đến hình thành kiến thức CNTT của đội ngũ cán bộ khoa học Với đặc thù là những người nghiên cứu, cán bộ khoa học Học viện đã chủ yếu tự học tập, tự nghiên cứu để bồi đắp kiến thức CNTT cho mình Qua quá trình hình thành cơ sở hạ tầng CNTT tại Học viện, các cán bộ khoa học có được điều kiện thuận lợi để hoàn thiện các kiến thức và kỹ năng CNTT phục vụ công tác nghiên cứu

Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu vẫn nhận thấy nhu cầu được đào tạo kỹ năng sử dụng CNTT của cán bộ khoa học Học viện còn rất lớn Cụ thể là gần 60% ý kiến muốn được học nâng cao về CNTT, 26% muốn được học về hệ điều hành Windows, 23% muốn được học về phần mềm soạn thảo văn bản, 24% muốn học về tính toán trên biểu bảng, 38% muốn học về trình chiếu Đáng chú ý là cán bộ khoa học Học viện có hiểu biết khá tốt về CNTT do đó nhiều người biểu lộ đồng tình với việc học tập phần mềm mã nguồn mở Đây thực sự là thuận lợi rất lớn cho Học viện trong việc thúc đẩy nâng cao kỹ năng CNTT phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy

2.2.3 Mức độ hoàn thiện các nhóm kỹ năng

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã phân loại các kỹ năng thành hai loại: kỹ năng với máy tính, kỹ năng với mạng máy tính Trả lời câu hỏi của đề tài: đồng chí tự đánh giá mình sử dụng công nghệ thông tin phục vụ cho công việc ở mức nào?, 60% cán bộ khoa học trả lời ở mức trung bình Thật ra, chưa

ai trong số cán bộ được hỏi hiểu rõ về nội hàm khái niệm sử dụng CNTT, do đó việc tự đánh giá trên có độ chính xác tương đối Chúng tôi cho rằng nếu nhận định

kỹ năng sử dụng máy tính của cán bộ khoa học là trung bình thì đúng, nhưng kỹ năng sử dụng CNTT của cán bộ khoa học mới đạt mức yếu Nhất là khi đánh giá việc sử dụng vào phục vụ công tác Để làm rõ hơn thực trạng này, cần xem xét vấn

đề dưới góc độ hai loại kỹ năng

Trang 30

Kỹ năng với máy tính chính là kỹ năng sử dụng các phần mềm văn phòng và

hệ điều hành windows Cán bộ khoa học Học viện có kỹ năng sử dụng máy tính tương đối tốt, do đó 82% cán bộ đánh giá hiệu quả công việc cao hơn so với trước khi sử dụng Tuy nhiên do trước đây, khi chưa phổ cập máy tính, cán bộ khoa học của ta phải viết tay rồi hoặc đưa cho văn thư đánh máy, hoặc thuê người đánh máy Điều đó hạn chế tốc độ làm việc và sự chủ động của cán bộ khoa học Khi máy tính phổ cập từng cán bộ khoa học thì vấn đề này được giải quyết nên hiệu quả công việc cao hơn Có thể chứng minh nhận định này bằng việc xem xét kết quả điều tra: 83% cán bộ khoa học trả lời "sử dụng máy tính thường xuyên" thì có 87% cán bộ trả lời dùng máy tính soạn thảo văn bản Ngoài ra, có đến gần 90% trả lời chưa được học qua các phần mềm khác ngoài phần mềm hệ điều hành Windows và bộ phần mềm văn phòng Microsoft Office

0 50 100 150 200 250

Nhận thức về hiệu quả của CNTT đối với công việc theo kết quả

Vấn đề đặt ra ở đây là máy tính không phải chỉ dùng để soạn thảo văn bản,

và đối với cán bộ khoa học, sử dụng CNTT vào công tác không thể chỉ là soạn thảo văn bản, mà quan trọng hơn là tập hợp, sắp xếp thông tin để tạo thuận lợi cho quá trình xử lý thông tin Đây là kỹ năng mà cán bộ khoa học còn yếu Việc sắp xếp các

dữ liệu ra sao sau khi đã tạo ra, đã thu thập được là vấn đề cần quan tâm vì nó quyết định tính khoa học trong sắp xếp thông tin, từ đó tạo nhiều thuận lợi cho việc

Trang 31

cần được hoàn thiện trong tương lai không xa Hiện nay công nghệ lưu trữ số hoá

đã tiếp cận Việt Nam và nêu không kịp thời cập nhật kỹ năng này, cán bộ khoa học của ta sẽ lại tiếp tục lạc hậu trong kỹ năng, kỹ xảo nghiên cứu

Kỹ năng với mạng máy tính có thể coi là kỹ năng giữ vai trò đột phá đối với năng suất lao động Đó là kỹ năng làm việc với web, e-mail, chat, e-commercial, e-learning những thuật ngữ của cộng đồng Internet để chỉ các kỹ năng phổ thông nhất trên môi trường mạng máy tính hiện nay Đáng mừng là có đến 85% cán bộ khoa học trả lời "thường dùng máy tính vào tìm kiếm thông tin trên Internet" Tuy nhiên chỉ có 65% đang dùng e-mail, 36% chat Chưa có ai thử sức với thương mại điện tử và lớp học ảo Có thể nói rằng việc trao đổi thông tin khoa học trên mạng máy tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là khả năng ngoại ngữ - tiếng Anh Muốn tiếp cận thông tin toàn cầu cần có ngoại ngữ mà chủ yếu và thông dụng là tiếng Anh Theo thông tin của chúng tôi, các đại học truyền thống và hàng đầu nước Anh hiện nay đã số hoá các công trình khoa học nổi tiếng thế giới của các nhà khoa học làm việc cho các trường đó Ví dụ như đại học Cambridge đã số hoá các công trình khoa học của Niu-tơn, của Đác-uyn Đây là trào lưu phổ biến trên thế giới hiện nay Cách đây 4 năm, hãng Google của Mỹ đã dự tính số hoá 10 triệu tài liệu của 5 Thư viện chính (Thư viện Đại học Stanford, Harvard, Oxford, Michigan và Thư viện công cộng New York) để phục vụ người dùng Internet Trước đây, ngoại ngữ của những cán bộ khoa học Học viện chủ yếu là tiếng Nga, nhưng hiện nay số cán bộ khoa học của Trung tâm Học viện biết tiếng Anh chiếm

tỷ lệ lớn Một số cán bộ được đào tạo ở nước ngoài có trình độ ngoại ngữ khá thành thạo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học Nhưng theo số liệu điều tra, gần 100% cán

bộ tra cứu thông tin trên Internet bằng tiếng Việt, chỉ có hơn 30% tra cứu thông tin bằng tiếng Anh và chưa đầy 10% bằng các thứ tiếng khác Điều này cho thấy một hạn chế rất lớn của cán bộ khoa học trong kỹ năng sử dụng công nghệ mạng toàn cầu để tra cứu thông tin, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy

Trang 32

Mức độ hoàn thiện kỹ năng của cán bộ khoa học phụ thuộc nhiều vào việc thường xuyên sử dụng máy tính và mạng máy tính Hiện nay cả hai điều kiện này mới đáp ứng ở mức độ trung bình, do đó trong thời gian tới cần có giải pháp thoả đang đối với vấn đề này tại Học viện

2.2.4 Việc ứng dụng các kỹ năng vào nghiên cứu

Đây là vấn đề trọng tâm nghiên cứu của đề tài này Tuy nhiên thật khó để xác định việc sử dụng CNTT trong nghiên cứu diễn ra như thế nào Trong khi mức

độ hoàn thiện kỹ năng của cán bộ khoa học còn yếu thì việc sử dụng kỹ năng vào nghiên cứu là điều không hiện thực, hoặc nếu có thì lại làm cản trở khả năng sáng tạo khoa học Trong chiến lược hoạt động khoa học 10 của Học viện có đánh giá đội ngũ cán bộ khoa học Học viện là "Các kỹ năng, kỹ sảo trong nghiên cứu khoa học, trình độ nắm vững lý thuyết và phương pháp nghiên cứu hiện đại, sáng tạo ở đội ngũ cán bộ khoa học trong Học viện còn thấp"

Quá trình phát triển các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội không được nói đến nhiều, chỉ có thể nhận thấy một điều rõ rệt là xã hội càng phát triển, thông tin và khối lượng thông tin ngày càng nhanh, nhiều và đa chiều Và như vậy các kỹ năng tìm kiếm và thu thập thông tin khoa học vẫn được đánh giá giữ vai trò quan trọng đầu tiên trong nghiên cứu khoa học Việc xử lý thông tin phụ thuộc rất lớn vào việc phân loại, sắp xếp thông tin Toàn bộ các công việc này đều có thể ứng dụng CNTT và hiệu quả công việc chắc chắn cao hơn nhiều so với cách thức truyền thống là tìm kiếm qua thư viện, báo chí truyền thông Hiệu quả rõ rệt nhất của sử dụng kỹ năng CNTT vào nghiên cứu khoa học là việc lựa chọn đề tài, hướng nghiên cứu Khả năng so sánh, loại bỏ các thông tin khoa học đã có sẽ giúp người nghiên cứu phát hiện ra nhanh những hướng nghiên cứu còn bỏ ngỏ, từ đó hình thành đề tài nghiên cứu Việc thu thập được nhiều thông tin khoa học về cùng chủ

đề giúp người nghiên cứu dễ đạt được mục tiêu nghiên cứu hơn vì đã kế thừa rất tốt những kết quả nghiên cứu trước đó về nội dung mình đang nghiên cứu

Trang 33

Hiện nay cách thức chủ yếu của người nghiên cứu vẫn là tìm kiếm thông tin

và bút ký vào sổ tay theo yêu cầu nghiên cứu Điều này có thể thấy qua hoạt động của cán bộ khoa học Học viện 90% cán bộ tìm kiếm thông tin qua báo chí truyền thống, 63% cán bộ tìm kiếm thông tin ở thư viện Việc này tuy thủ công và mất thời gian nhưng lại giúp cho người nghiên cứu ghi nhớ được thông tin phục vụ đề tài Trong tương lai, việc này phải được thay thế bằng sử dụng CNTT Với CNTT, mỗi người nghiên cứu đều có thể tạo ra cho mình một thư viện-kho thông tin riêng,

về từng chủ đề mình thích Với CNTT trong tay, người nghiên cứu có thể tìm thông tin ở bất cứ quốc gia nào, cơ sở đào tạo nào trên thế giới mà không tốn kém và càng không cần đến tận nơi đó Với CNTT, các nhà nghiên cứu có thể giao lưu, chia sẻ thông tin với nhau trực tiếp hoặc gián tiếp trong thời gian nhanh nhất (thậm chí là trong thời gian thực) Để thực hiện được tất cả những điều đó, cán bộ khoa học cần

sử dụng kỹ năng CNTT vào nghiên cứu Mức độ hoàn thiện từng nhóm kỹ năng, cán bộ khoa học Học viện đều đang yếu do đó việc sử dụng cũng còn hạn chế Cụ thể là:

Trong các kỹ năng sử dụng phần mềm văn phòng, soạn thảo văn bản là kỹ năng nhiều người sử dụng nhất, nhưng vẫn chưa phải là tất cả Nhóm những cán bộ không dùng máy tính soạn thảo văn bản chiếm khoảng 12% (khoảng 30 người) thì

có đến hơn 50 % là người từ 45 tuổi trở lên Càng lớn tuổi thì càng ngại sử dụng kỹ năng CNTT Đây thực sự là vấn đề lớn đối với Học viện vì đặc thù của đội ngũ cán

bộ khoa học ở Học viện là nhiều cán bộ tuổi cao từ 45 trở lên Có thể trong tương lai xa, Học viện mới giải quyết được vấn đề này một cách thấu đáo

Đối với hệ điều hành Windows, kỹ năng quan trọng là sắp xếp, quản lý dữ liệu, sao chép dữ liệu trong trình duyệt explore đã không được quan tâm đúng mực của cả cán bộ khoa học và các nội dung đào tạo, bồi dưỡng CNTT ở Học viện Nói đúng hơn, đây là kỹ năng hết sức phổ thông mà bất cứ ai đã có kiến thức về máy tính đều phải biết Tuy nhiên thực tế là ở Học viện tính năng này của windows

Trang 34

kỹ năng này liên quan đến kiến thức văn thư-lưu trữ Một nhà khoa học thường có khả năng sắp xếp dữ liệu và đây là một kỹ năng cơ bản, quan trọng Nhưng nếu một người đang trên con đường trở thành nhà khoa học thực sự thì cần phải được học về văn thư lưu trữ để có kiến thức về sắp xếp và quản lý tư liệu Chỉ khi hoàn thiện kỹ năng này, việc sử dụng trình duyệt explore trong windows mới trở thành kỹ năng Việc hoàn thiện kỹ năng này nằm ở hai khía cạnh chính: hoàn thiện kiến thức về văn thư-lưu trữ và thành thục trong sử dụng trình duyệt Explore

Nhóm kỹ năng hết sức quan trọng là kỹ năng đối với trình duyệt Web Đây là

kỹ năng quan trọng và hữu dụng trong thời đại mọi thứ đều "Internet hoá" Trình duyệt Web là công cụ quan trọng để theo dõi thông tin, tìm kiếm thông tin và cả gửi thông tin Tại Học viện, cán bộ khoa học chủ yếu là đọc tin trên Internet, và đọc bằng tiếng Việt Điều này có những hạn chế sau: trên Internet, thông qua Web người ta không chỉ biết đến tin tức từ phía nhà cung cấp (báo chí, diễn đàn, mạng

xã hội, thư viện điện tử ) mà còn có thể tự tìm kiếm thông tin theo nhu cầu của mình Một lần nữa khả năng thanh lọc, sắp xếp và quản lý các web lại được đặt ra như một yêu cầu trọng yếu đối với kỹ năng CNTT Nếu như với Explore của Windows, người dùng cần kiến thức văn thư-lưu trữ thì với Internet Explore, người dùng cũng phải cần kiến thức này, nhưng ở mức độ thấp hơn Việc quản lý, sắp xếp các kho thông tin trên mạng diện rộng chủ yếu dựa vào các Web Page (trang Web) Việc phân định các web như các nguồn thông tin theo chủ đề tương đối khó nhưng rất cần thiết khi muốn theo dõi thông tin từng lĩnh vực Nếu kỹ năng này hoàn thiện, chỉ trên một trang của trình duyệt Internet Explore, cán bộ khoa học sẽ có đầy đủ mọi công cụ tốt nhất để nhanh chóng mang lại những thông tin cần thiết

Việc chỉ đọc thông tin bằng tiếng Việt cho thấy cán bộ khoa học Học viện chưa thể tiếp cận được với nguồn tri thức khổng lồ trong thế giới mạng máy tính Thế giới trong tầm tay nhưng muốn nắm được, không có cách nào ngoài việc phải hiểu ngôn ngữ của các dân tộc khác, đặc biệt là ngôn ngữ của những nền văn minh

Trang 35

là ngôn ngữ phổ biến ở nhiều nước nhất thế giới hiện nay) Như vậy, việc hoàn thiện kỹ năng này nằm ở hai khía cạnh chính: hoàn thiện kiến thức về ngoại ngữ và thuần thục trong sử dụng web

Nhóm kỹ năng về sử dụng e-mail là kỹ năng cần thiết trong kỷ nguyên Internet Cũng như Web, e-mail là một dịch vụ trên mạng máy tính Hiện nay 65% cán bộ khoa học Học viện đã sử dụng e-mail Đúng như sự mong đợi của lãnh đạo Học viện khi đầu tư xây dựng mạng LAN: hầu hết cán bộ khoa học đã nhận thức được tầm quan trọng và thường xuyên sử dụng e-mail để trao đổi thông tin, gửi bài viết Tuy nhiên, ngay cả kỹ năng đơn giản này vẫn có đến 34% cán bộ khoa học không sử dụng Đáng tiếc là trong đó có nhiều người tuổi dưới 45 Nhu cầu sử dụng e-mail tuỳ thuộc mức độ quan hệ của cán bộ, nhưng kỹ năng này lại là kỹ năng thiết yếu E-mail sẽ là công cụ rút ngắn mọi khoảng cách không gian và thời gian

dù là xa nhất giữa các nhà khoa học Hoàn thiện kỹ năng này nằm ở hai khía cạnh chính: mở rộng các mối quan hệ trên Internet và thuần thục kỹ năng sử dụng dịch

vụ thư điện tử của các nhà cung cấp

Nhóm kỹ năng chat, forum (trao đổi trực tuyến) là nhóm kỹ năng ít được quan tâm, tập trung ở cán bộ khoa học có tuổi đời còn trẻ (chỉ có 33% cán bộ khoa học sử dụng) Kỹ năng này rất phù hợp cho việc tìm hiểu thông tin một cách tức thì, có thể hỏi ngay người cần trao đổi với thời gian thực, có thể tìm hiểu, trao đổi thông tin theo chủ đề Với tính năng Chat, có thể trao đổi trực tuyến với nhiều người cùng một lúc

Nhóm kỹ năng Blog (nhật ký cá nhân) là nhóm kỹ năng ít được quan tâm nhất Nó là nơi mọi người có thể bày tỏ ý kiến cá nhân, lưu trữ thông tin, sắp xếp lịch công tác, công việc, quản lý thời gian biểu, Vì đây là nhóm kỹ năng mới xuất hiện trên Internet, vì vậy, chỉ có một số ít cán bộ khoa học trẻ tuổi tiếp cận tính năng này

Trang 36

Nhóm kỹ năng thương mại điện tử không có nhiều điểm phù hợp công tác nghiên cứu, tuy nhiên việc mua bán sản phẩm qua mạng cũng là mối quan tâm của nhà khoa học vì nó giúp người mua xem xét hàng hoá, nhất là sách, với đầy đủ nội dung một cách nhanh nhất, lại không mất thời gian đi lại Kỹ năng này hiện nay chưa phổ biến do thói quen thanh toán qua tài khoản chưa hình thành và còn quá nhiều mạo hiểm cũng như rủi ro trong giao dịch

Kỹ năng cuối cùng mà chúng tôi đề cập tới là kỹ năng với lớp học ảo Hiện nay Học viện đã có 3 năm lắp đặt xong và đưa vào sử dụng hệ thống ca-me-ra truyền hình giảng đường, mục tiêu là xây dựng các lớp học ảo Nhưng cho đến nay

hệ thống này vẫn chỉ được dùng với tính cách là công cụ kiểm tra, giám sát thi cử Đây là một sự lãng phí rất lớn Nhóm kỹ năng CNTT để sử dụng lớp học ảo bao gồm rất nhiều kỹ năng cụ thể như cài đặt, điều khiển camera, biên soạn giáo trình, giáo án điện tử Nói chung, đây là nhóm kỹ năng khó cho người dạy và cán bộ quản lý Cán bộ khoa học cần hoàn thiện nhiều loại kiến thức khác nhau và cũng cần thành thục nhiều kỹ năng khác nhau

2.3 Đánh giá chung

Qua các đánh giá, nhận xét cụ thể nêu trên, có thể đi đến một số đánh giá chung về tình hình sử dụng kỹ năng CNTT tại Học viện trong đội ngũ cán bộ khoa học như sau:

Phần lớn cán bộ khoa học Học viện đều nhận thức rõ tầm quan trọng và hiệu quả thiết thực của việc ứng dụng CNTT trong công việc Những nhận thức này đã dẫn dến thái độ cầu thị, tự giác, chủ động trong tiếp nhận kiến thức và học hỏi, rèn luyện kỹ năng CNTT Đây là thực tế hết sức thuận lợi cho Học viện cần phát huy

Về nền tảng phần cứng: máy tính và hạ tầng mạng máy tính của Học viện, đa phần cán bộ khoa học Học viện đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu Học viện cần thường xuyên bổ sung, nâng cấp mới đáp ứng được yêu cầu công việc Cụ thể

Trang 37

là số lượng máy tính trang cấp cho các Viện nghiên cứu còn thiếu, hạ tầng Internet chưa đồng bộ, chưa đủ lớn để phục vụ số lượng máy móc ngày càng tăng cao

Về mức độ hoàn thiện các kỹ năng, nhu cầu đào tạo kỹ năng CNTT, cán bộ khoa học của ta hiện nay có kỹ năng tốt nhất là về soạn thảo văn bản, một bộ phận

là có kỹ năng trình chiếu Đây là hạn chế không nhỏ của đội ngũ cán bộ khoa học Nhận thức được vấn đề này nên cán bộ của ta đã đưa ra yêu cầu được đào tạo nâng cao về CNTT, về Windows, về trình chiếu, về mã nguồn mở (phần mềm mã nguồn

mở gồm nhiều loại dùng để soạn thảo văn bản, trình chiếu ) Khả năng tìm kiếm, khai thác thông tin trên Internet còn yếu, mặc dù việc đọc tin nhiều và duyệt web thường xuyên nhưng kỹ năng tìm kiếm thông tin là rất yếu Việc sử dụng thông tin chủ yếu là tiếng Việt cũng cần được khắc phục, nhờ đó nâng cao toàn diện các kỹ năng CNTT Một số các kỹ năng mới, hiện đại (Chat, forum, blog, ) chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tuyên truyền, hướng dẫn, đào tạo, phổ biến để cán

bộ khoa học ứng dụng vào công tác nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ công việc chuyên môn

Về tổng thể, có thể nói rằng việc sử dụng các kỹ năng CNTT vào nghiên cứu khoa học chưa được chú ý Cán bộ khoa học chủ yếu sử dụng kỹ năng CNTT vào việc soạn thảo và trình chiếu văn bản Các kỹ năng cần thiết khác hoặc không được chú ý hoặc chưa hình thành trong đội ngũ cán bộ khoa học

Nguyên nhân của thực trạng nêu trên

Như đã phân tích ở trên, kỹ năng CNTT có đặc điểm gắn liền với máy tính, mạng máy tính và phần mềm ứng dụng trên máy tính cũng như trên mạng máy tính Thêm vào đó, kỹ năng này đòi hỏi phải thường xuyên rèn luyện với máy tính và mạng máy tính, bổ sung cập nhật kiến thức CNTT Có thể thấy rõ là kỹ năng CNTT gắn chặt với hạ tầng CNTT, và đối với cán bộ khoa học, việc sử dụng CNTT vào công tác còn phụ thuộc vào phương pháp nghiên cứu có đòi hỏi ứng dụng CNTT hay không

Trang 38

Mặc dù có thuận lợi rất lớn là cán bộ khoa học Học viện nhận thức đúng đắn,

thái độ tự giác, chủ động tiếp cận và sử dụng CNTT vào công tác, nhưng không thể

có hiệu quả khi hạ tầng CNTT chưa đáp ứng Đây là nguyên nhân căn bản, quan

trọng đầu tiên trong nhiều nguyên nhân khiến cho cán bộ khoa học Học viện có kỹ

năng CNTT yếu

Trung tâm Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh có các

thiết bị CNTT: gần 600 máy tính cá nhân, 12 máy chủ, 236 máy in và một số thiết

bị khác Bình quân 0,65 máy tính trên một cán bộ Khoảng 10% các thiết bị trên

hiện đang bị hỏng, trục trặc hay cần nâng cấp Học viện còn có 4 phòng máy với

40 máy phục vụ học viên học tập, nghiên cứu

Bảng thống kê chi tiết số lượng thiết bị CNTT các loại theo các đơn vị

tại Trung tâm Học viện đang sử dụng, (số liệu năm 2007):

STT Tên đơn vị Số cán bộ Máy để bàn Máy xách tay Máy in

8 Viện Kinh điển Mác-Lênin 16 10 3

9 Viện Quan hệ quốc tế 24 13 2 3

15 Viện Văn hóa và phát triển 14 9 3 3

16 Viện NC Tôn giáo 15 10 2 4

Trang 39

18 Trung tâm Thông tin hoa học 57 123 5 18

45 Văn phòng Đoàn Thanh niên Hv 1 1

(Nguồn: Phòng Vật tư – Văn phòng Học viện)

Trang 40

Hiện nay đa phần máy tính của các đơn vị nghiên cứu, giảng dạy đang sử dụng là kém (cũ, chạy chậm, không đáp ứng được công việc) Điều này ngoài lý do các máy đã sử dụng nên chịu hao mòn, còn lý do là yêu cầu công việc đòi hỏi những hệ thống máy móc hiện đại và có hiệu năng cao hơn Để chạy được những phần mềm mới như các phần mềm Windows Xp, Windows Vista, Microsoft Office

2007, OpenOffice.org, cấu hình tối thiểu của phần cứng máy tính là: Ram 512

MB, Chip Pentium 4 hoặc tương đương trở nên Hiện tại những máy tính sử dụng Chip Pentium 3 đã không còn đáp ứng được những yêu cầu mới của phần mềm

Mạng máy tính của Học viện hiện nay có tốc độ đường truyền nội bộ lên tới 1Gbs trục cáp quang và 100Mbs trục cáp đồng nối đến tất cả các máy trạm; tốc độ đường truyền ra Internet là 10Mbps cáp quang và 10Mbs cáp đồng (dùng công nghệ xDSL) Hiện tại, tất cả các máy tính tại trung tâm Học viện và một số khu vực trực thuộc (56B Quốc Tử Giám và 178 Tây Sơn) đã được nối mạng qua trục cáp hoặc không dây, đảm bảo việc chia sẻ tài liệu, các thiết bị ngoại vi (máy in), cũng như kết nối tới mạng nội bộ của Học viện và kết nối tới mạng Internet Có thể nói trung tâm Học viện có hạ tầng mạng với tốc độ khá cao so với tình trạng chung của

hạ tầng mạng máy tính Việt Nam Tuy nhiên trên thực tế, với lượng truy cập lớn của gần 800 máy trạm và máy tính xách tay (chưa kể số lượng máy tính truy cập không dây của các Học viên học tại Học viện) thì tốc độ truyền tải dữ liệu vẫn chưa đáp ứng yêu cầu Hiện tượng truyền tải chậm, truy cập web gặp khó khăn vẫn có khi xảy ra, nhất là vào lúc cao điểm trong giờ hành chính (9 giờ đến 10 giờ và 15 giờ đến 16 giờ)

Theo số liệu điều tra, đối tượng là các cán bộ khoa học Học viện, hạ tầng mạng máy tính của Học viện có thể đáp ứng được các yêu cầu công việc ở mức tốt (mạng hoạt động tốt, ít trục trặc) là 6,8%; bình thường (chấp nhận được) là 66,9%; không đáp ứng được là 22,7% Vì vậy, trong thời gian tới, cơ sở hạ tầng mạng cần thường xuyên cần được bảo trì, nâng cấp, bổ sung thiết bị

Ngày đăng: 17/02/2016, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Chương trình đào tạo “Kỹ năng ứng dụng Công nghệ thông tin trong Học tập và Nghiên cứu khoa học” của Trung tâm Thông tin và Khảo thí, Trường Đại học Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng ứng dụng Công nghệ thông tin trong Học tập và Nghiên cứu khoa học
7. "Đào tạo kỹ năng cho doanh nghiệp – Cách tiếp cận theo nhu cầu" đăng tại mục Diễn đàn doanh nghiệp, ngày 26/06/2006, địa chỉhttp://www.moi.gov.vn/BForum/detail.asp?Cat=9&id=1755 8. Giới thiệu tổng quan về máy vi tính,http://baigiang.bachkim.vn/presentation/show/pr_id/45346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo kỹ năng cho doanh nghiệp – Cách tiếp cận theo nhu cầu
13. Nguyễn Tiến Dũng, "Khoa học & Công nghệ Việt Nam những điều bức xúc" đăng tại địa chỉ http://vietnamnet.vn/bandocviet/2006/03/555692/ (Bài tham gia Diễn đàn "Khoa học & công nghệ : đường băng nào để cất cánh?Do báo điện tử Vietnamnet tổ chức) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học & Công nghệ Việt Nam những điều bức xúc" đăng tại địa chỉ http://vietnamnet.vn/bandocviet/2006/03/555692/ (Bài tham gia Diễn đàn
15. GS,TS Mạch Quang Thắng, “Vấn đề nhân tài và chính sách đối với nhân tài - một số vấn đề đặt ra ở Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh”, Vụ Quản lý khoa học (kỷ yếu hội thảo “Luật công chức, công vụ và vấn đề văn hoá, văn minh công sở tại Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh” do văn phòng Học viện tổ chức ngày 19-6-2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nhân tài và chính sách đối với nhân tài - một số vấn đề đặt ra ở Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh”, Vụ Quản lý khoa học (kỷ yếu hội thảo “Luật công chức, công vụ và vấn đề văn hoá, văn minh công sở tại Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
19. Phạm Vĩnh Hà, "Khoa học xã hội trên thế giới những biến đổi và nhìn nhận" (sưu tầm và biên soạn) nguồn "Tạp chí Hoạt động Khoa Học" Viện Khoa học xã hội Việt Nam, http://www.vass.gov.vn/tintuc/mlnewsfolder.2007-07-20.4279846787/mlnews.2007-07-20.5993432900 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học xã hội trên thế giới những biến đổi và nhìn nhận" (sưu tầm và biên soạn) nguồn "Tạp chí Hoạt động Khoa Học
6. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh - số liệu Cán bộ khoa học kỹ thuật. Thời điểm thống kê: 31/12/2000, đăng tại địa chỉ http://www.pso.hochiminhcity.gov.vn/an_pham/thuc_trang_doanh_nghiep_2000_1_4_2001/B29.htm Link
2. Cơ sở vật chất trong lĩnh vực Công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ khoa học tại trung tâm Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Phòng Vật tư – Văn phòng Học viện Khác
3. Chỉ thị số: 55/2008/CT- BGDĐT ngày 30 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 Khác
4. Chiến lược hoạt động khoa học mười năm (2005-2015) của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (ban hành kèm theo Quyết định số 348/QĐ- HVCTQG ngày 15/9/2005 của Giám đốc Học viện) Khác
12. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 30/7/2005 của Bộ Chính trị về đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
16. Quyết định Số : 322/QĐ-TTg ngày 19 tháng 4 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước&#34 Khác
17. Quyết định Số: 356/QĐ-TTg ngày 28 tháng 04 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh Đề án "Đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước&#34 Khác
18. Quyết định số: 224-TTg ngày 24 tháng 05 năm 1976 của Thủ tướng Chính phủ về việc đào tạo trên đại học ở trong nước Khác
20. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Trung tâm Từ điển học và NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê chi tiết số lượng thiết bị CNTT các loại theo các đơn vị - Luận văn một số giải pháp nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ khoa học ở trung tâm hành chính quốc gia hồ chí minh
Bảng th ống kê chi tiết số lượng thiết bị CNTT các loại theo các đơn vị (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w