1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM:NHỮNG THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI

21 504 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 433,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hạn chế của chính sách tiền tệ Bên cạnh những kết quả đạt được như đã đề cập ở trên, trong thời gian qua, điều hành chính sách tiền tệ còn một số tồn tại, hạn chế sau: - Mục tiêu

Trang 1

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM: NHỮNG THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI

có những nền tảng vững chắc trên bình diện kinh tế vĩ mô cũng như sự ủng hộ của công chúng và thể chế Tuy nhiên, ở Việt Nam, các thể chế tài chính, tài khóa, tiền tệ chưa thật vững mạnh, thể hiện ở thực trạng

hệ thống ngân hàng, tình hình thu chi ngân sách cũng như tính độc lập của Ngân hàng Trung ương Vì vậy, việc Việt Nam tiếp tục cải tổ các thể chế này là rất cần thiết Bài viết này sẽ đi sâu phân tích về hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong thời gian qua, tập trung vào giai đoạn từ năm 2011 đến nay, chỉ rõ những kết quả đạt được, cũng như những vấn đề đặt ra yêu cầu phải đổi mới, đồng thời đưa ra các gợi

ý chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ cũng như tiếp tục chính sách lạm phát mục tiêu trong thời gian tới

Trang 2

Đánh giá tổng quát về chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai

1

đoạn trước năm 2011

1.1 Một số kết quả đạt được của chính sách tiền tệ

Trong thời gian qua, việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước đã không ngừng được hoàn thiện Điều hành chính sách tiền tệ được từng bước đổi mới trong việc xác định mục tiêu chính sách tiền tệ, việc quản lý, vận hành cơ chế cung ứng tiền, điều tiết tiền tệ thông qua việc lựa chọn sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách tiền

tệ Mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ hướng vào việc ổn định tiền

tệ, kiểm soát lạm phát, tạo môi trường ổn định để thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã

chuyển dần từ công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp để nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ, các công cụ chính sách tiền tệ đã được thiết lập và đang dần hoàn thiện theo thông lệ quốc tế

Công tác huy động vốn của hệ thống Ngân hàng không ngừng được đẩy mạnh, đáp ứng nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư phát triển đất nước Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng tiếp tục tăng trưởng góp phần tích cực thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững

1.2 Những hạn chế của chính sách tiền tệ

Bên cạnh những kết quả đạt được như đã đề cập ở trên, trong thời gian qua, điều hành chính sách tiền tệ còn một số tồn tại, hạn chế sau:

- Mục tiêu cuối cùng chưa rõ ràng, chưa có lựa chọn ưu tiên: Từ

khi thực hiện Luật Ngân hàng Nhà nước đến nay, về cơ bản, có thể thấy rằng chính sách tiền tệ luôn theo đuổi mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên, Luật Ngân hàng Nhà nước không quy định rõ mục tiêu hàng đầu/mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Do vậy, trên thực tế, việc điều hành chính sách tiền tệ có khó khăn nhất định nhất là khi cần có sự đánh đổi giữa các mục tiêu kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế Chính vì việc chưa xác định rõ các mục tiêu điều hành, nên trong một

Trang 3

số thời điểm đã tác động đến việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, chính sách tiền tệ đôi khi còn bị động

và chậm phản ứng với những thay đổi của thị trường

- Quá nhiều mục tiêu trung gian: Ngân hàng Nhà nước chưa xác

định rõ ràng mục tiêu trung gian nên trong thực tế, nên bên cạnh Tổng phương tiện thanh toán (M2)64 đóng vai trò là mục tiêu trung gian, việc điều hành các công cụ chính sách tiền tệ nhiều lúc hướng vào kiểm soát tín dụng, lãi suất thị trường và tỷ giá Với việc chính sách tiền tệ hướng vào nhiều mục tiêu trung gian như vậy nên nhiều khi việc điều hành CSTT còn bị động, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ chưa cao, điều tiết thị trường không đạt được mục tiêu mong muốn

- Ngân hàng Nhà nước chưa xác định rõ được cơ chế truyền dẫn các tác động của chính sách tiền tệ: Việc xác định rõ cơ chế truyền

dẫn có ý nghĩa quan trọng trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) Cơ chế truyền dẫn rõ ràng cho phép Ngân hàng Trung ương có các quyết sách đúng trong điều hành các công cụ CSTT để hướng tới mục tiêu mong muốn Trên thực tế, hiện nay Ngân hàng Nhà nước chưa

có những phân tích lượng hóa cụ thể mức độ tác động của sự thay đổi cung tiền của Ngân hàng Nhà nước đến mục tiêu cuối cùng của CSTT,

và sự thay đổi cung tiền này có tác động ở mức độ nào đến tín dụng nền kinh tế, đến tổng phương tiện thanh toán, đến lãi suất hay tỷ giá Việc chưa xác định được cơ chế truyền dẫn đã hạn chế phần nào đến các quyết định của Ngân hàng Nhà nước khi thị trường có những biến động

- Hệ thống các tiêu chí tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước chưa thực sự rõ ràng để truyền tải tác động của các quyết định chính sách

đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ Cụ thể: (i) Tác động của Tổng phương tiện thanh toán (M2) đến các biến số của nền kinh tế chưa rõ ràng Diễn biến của tổng phương tiện thanh toán M2 với ý nghĩa là mục tiêu trung gian

64 Khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế theo nghĩa rộng (M2), hay tổng phương tiện thanh toán) bao gồm: Tổng lượng tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng + tiền gửi bằng VND và bằng ngoại

tệ của dân cư, doanh nghiệp tại các ngân

Trang 4

không phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và mức lạm phát Ngân hàng Nhà nước không hoàn toàn chủ động trong việc kiểm soát M265, cũng như tốc độ tăng M2 thực tế; (ii) Tương quan giữa lượng tiền cung ứng và lạm phát ở Việt Nam cũng không rõ ràng Trên thực tế, chúng ta muốn kiểm soát lạm phát nhưng ngay cả việc kiểm soát đối với lượng tiền cung ứng cũng khó khăn; (iii) Trong dự báo lượng tiền tác động đến Tổng cung ứng tiền tệ (MS) và tín dụng nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước coi Tổng khối lượng tiền cơ bản (MB) là mục tiêu hoạt động, song trong quá trình điều hành chỉ thực hiện điều tiết một số nhân tố tác động đến MB, chưa điều tiết toàn bộ MB Thực chất chỉ điều hành khối lượng tiền Chính phủ cho phép cung ứng trong năm, chưa điều hành mức tăng

MB – lượng tiền thực sự cung ứng ra cho nền kinh tế (là lượng tiền tác động đến tăng trưởng kinh tế, lạm phát và ổn định hệ thống)

- Khả năng điều tiết các điều kiện thị trường như cung tiền, lãi suất còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, do Ngân hàng Nhà nước chưa kiểm

soát được toàn bộ các luồng tiền tệ trong nền kinh tế như luồng ngoại tệ ra/vào đất nước, hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính khác, các khoản thu chi ngân sách và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác

- Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ chưa đạt hiệu quả cao

do việc lựa chọn, sử dụng, xác định chức năng cơ bản của từng công

cụ chính sách tiền tệ để điều hành phù hợp với mục tiêu hoạt động còn hạn chế Điều hành cung ứng tiền còn bị động bởi việc cung ứng tiền cho các mục tiêu chỉ định của Chính phủ Việc lựa chọn lãi suất chủ đạo

và xây dựng cơ chế điều hành lãi suất còn đang ở giai đoạn tìm tòi, thử nghiệm

- Việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước còn mang dấu ấn hành chính Điều này được minh chứng rõ nhất thông qua

các xử lý thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát trong những tháng đầu năm

2008, những tháng cuối năm 2010 và từ năm 2011 đến nay thông qua việc áp dụng các mức trần lãi suất huy động và cho vay

65 Ngân hàng Nhà nước chưa thực sự kiểm soát hết các nhân tố tác động đến M2, nhất là các nhân tố làm thay đổi tài sản có ngoại tệ ròng và cho vay chính phủ ròng.

Trang 5

- Chính sách tiền tệ chủ yếu còn mang tính ngắn hạn Mặc dù cũng

có các Kế hoạch hoạt động ngân hàng 5 năm, Chiến lược phát triển ngân hàng tầm nhìn 10 năm, nhưng các định hướng dài hạn có tính chiến lược thực sự về điều hành chính sách tiền tệ vẫn chưa được xây dựng một cách rõ ràng, khoa học trên cơ sở các phân tích định lượng do

hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chưa hoàn thiện

1.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong điều hành chính sách tiền tệ

- Tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước với vai trò là Ngân hàng

và khả năng liên kết hệ thống của các TCTD để hỗ trợ nhau đảm bảo

an toàn thanh toán còn yếu, thậm chí một số ngân hàng lợi dụng lúc khó khăn để cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao Vì vậy, vào một số thời điểm, vốn khả dụng xét trên toàn hệ thống dư thừa, về nguyên tắc, Ngân hàng Nhà nước cần thu hút tiền về Nhưng trên thực

tế, NHNN vẫn phải hỗ trợ vốn cho một số TCTD để đảm bảo duy trì ổn định tiền tệ Điều này đã làm cho NHNN gặp khó khăn khi thực hiện vai trò điều tiết cuối cùng trên thị trường Nói cách khác, thị trường tiền

tệ chưa đảm nhiệm có hiệu quả là phương tiện để Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tổng lượng tiền tệ trong nền kinh tế, chưa tạo ra khả năng thanh toán cho các doanh nghiệp, lãi suất trên thị trường tiền tệ chưa thể

sử dụng làm lãi suất tham khảo để định giá các tài sản nợ khác Nguyên

66 Theo Luật NHNN, có đến 15 nội dung lớn trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến điều hành chính sách tiền tệ do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định Mặt khác, nghĩa vụ và trách nhiệm về hiệu quả điều hành CSTT của Ngân hàng Trung ương chưa được xác lập một cách rõ ràng.

Trang 6

nhân của thực trạng trên là do hệ thống thông tin giữa các cơ quan quản

lý nhà nước với nhau, giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp còn nhiều bất cập, qua đó ảnh hưởng nhiều đến các quyết định chính sách, đến điều tiết thị trường tiền tệ Cơ sở pháp lý cho các công

cụ thị trường hoạt động còn chưa được ban hành đầy đủ Thiếu các quy định để tăng cường tính thanh khoản của các giấy tờ có giá và hạn chế các ngân hàng thương mại phát hành các công cụ mới Trình độ quản trị của một số ngân hàng thương mại còn hạn chế Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng còn thiếu các công cụ và những công cụ hiện có cũng chưa hoàn chỉnh Thị trường trái phiếu Chính phủ chưa tạo được đường cong lãi suất chuẩn để làm cơ sở xác định các mức lãi suất cho các tài sản tài chính khác

- Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bước vào hội nhập còn hạn chế về khả năng quản trị rủi ro, quản lý tài sản có - tài sản nợ

Các ngân hàng thương mại đang trong giai đoạn cơ cấu lại, có sự chênh lệch lớn về qui mô, chất lượng tài sản, năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh; khả năng thích ứng với sự biến động của thị trường còn yếu,

đã làm hạn chế hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ Các TCTD chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý thanh khoản, chưa sở hữu hoặc

sở hữu không nhiều các giấy tờ có giá làm dự trữ thanh khoản, một số TCTD sử dụng vốn ngắn hạn thậm chí vay vốn trên thị trường liên ngân hàng để cho vay nền kinh tế Vì vậy, khi thị trường có biến động, các TCTD này dễ gặp khó khăn về thanh khoản Trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa có sự luân chuyển vốn thông suốt, thực trạng trên cũng làm hạn chế nhất định đến khả năng điều tiết tiền tệ của NHNN thông qua công cụ CSTT

- Năng lực tài chính của các TCTD còn hạn chế, các TCTD vẫn đang trong quá trình cơ cấu lại và triển khai dự án hiện đại hoá hệ thống thanh toán Việc quản lý vốn tập trung trực tuyến trong hệ thống còn

khó khăn Nhiều TCTD chưa thực hiện được việc theo dõi, phân tích luồng luân chuyển vốn theo từng kỳ hạn, nên năng lực quản lý vốn còn

Trang 7

hạn chế Quản trị kinh doanh, khả năng thích ứng với sự biến động của thị trường còn nhiều bất cập; mục tiêu kinh doanh quá chú trọng về quy

mô và lợi nhuận, coi nhẹ và chưa chấp hành nghiêm túc các quy định đảm bảo cho an toàn thanh toán Các TCTD cổ phần mới chuyển từ địa bàn nông thôn lên, có quy mô nhỏ, đội ngũ cán bộ chưa chuyên nghiệp, nhưng đặt mục tiêu tăng trưởng kinh doanh vượt quá khả năng quản trị kinh doanh và chất lượng nguồn nhân lực, có nguy cơ rủi ro cao, đặc biệt

là rủi ro về thanh khoản, gây biến động trên thị trường tiền tệ

- Nền kinh tế còn tình trạng Đô la hóa, vàng hóa đã hạn chế tính hiệu quả của việc can thiệp vô hiệu của Ngân hàng Nhà nước Khi

luồng vốn nước ngoài vào nhiều, vượt quá nhu cầu tài trợ thâm hụt cán cân vãng lai, tạo một lượng lớn dư cung ngoại tệ trên thị trường, NHNN

đã tăng cường mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, điều này đồng nghĩa với việc đưa đồng nội tệ ra Năm 2007, khi dự trữ ngoại hối được tích lũy gấp hai lần so với mức dự trữ ngoại hối vào cuối năm

2006, NHNN đã thực hiện can thiệp vô hiệu thông qua thị trường mở và

đã trung hòa khoảng 90% lượng tiền đưa ra Tuy nhiên, số liệu tiền tệ cho thấy, năm 2007, M2 vẫn tăng tới 46% và tín dụng tăng trên 50% so với cuối năm 2006, điều này chứng tỏ khi nền kinh tế còn tình trạng Đô

la hóa thì khả năng kiểm soát tiền tệ khó khăn hơn nhiều (hình 1)

Hình 1 Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát, 2000-2012

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước; Số liệu năm 2012 là số dự kiến.

Trang 8

- Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác chưa chặt chẽ, còn thiếu một hệ thống thông tin kết nối giữa bộ phận dự

báo thị trường và các Bộ, ngành khác Sự phối hợp với các Bộ, ngành

để dự báo về kinh tế vĩ mô, luồng vốn đầu tư nước ngoài làm chưa tốt

Hệ thống thông tin phục vụ việc hoạch định chính sách còn yếu và chưa kịp thời Trong thời gian gần đây, sự phối hợp giữa các Bộ, ngành đã được cải thiện hơn nhưng vẫn chưa thực sự đồng bộ Sự hạn chế trong trao đổi thông tin giữa các Bộ, ngành quản lý kinh tế vĩ mô như Bộ Tài chính67, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Công thương với Ngân hàng Nhà nước có ảnh hưởng nhất định đến tính nhất quán giữa CSTT và các chính sách kinh tế vĩ mô, qua đó làm giảm hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tại Việt Nam chưa đầy đủ, chất lượng chưa đồng nhất

Tóm lại, cùng với quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các luồng ngoại tệ chảy vào/ra khỏi Việt Nam từ hoạt động xuất, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp biến động tương đối mạnh đã làm cho việc điều hành CSTT trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi việc điều hành CSTT phải ngày càng linh hoạt, phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường trong nước và quốc tế, đảm bảo ổn định tiền tệ, góp phần kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

2 Điều hành chính sách tiền tệ giai đoạn từ năm 2011 đến nay

2.1 Các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và kết quả đạt được

Trong suốt giai đoạn từ năm 2011 đến nay, trên cơ sở bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và diễn biến kinh tế

67 Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là một trong những mấu chốt để điều hành chính sách tiền tệ đạt được hiệu quả cao Do lượng tiền được đưa ra hoặc thu

về từ nền kinh tế không phải chỉ qua các kênh do Ngân hàng Nhà nước thực hiện mà còn được thực hiện qua việc thu, chi trên các kênh của Bộ Tài chính như: Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Phát triển, và các kênh khác (ví dụ, Tiết kiệm Bưu điện, các công ty bảo hiểm, một số tổ chức phi chính phủ…) Những kênh cung ứng tiền rất đa dạng này nằm ngoài sự kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.

Trang 9

vĩ mô từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước đã xác định và kiên định theo

mục tiêu xuyên suốt là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, đồng thời thực hiện các giải pháp tháo

gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý Để đạt được mục tiêu nêu trên, NHNN đặt ra các

nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo, điều hành chính sách tiền tệ và đạt được những kết quả sau:

Trên cơ sở các chỉ tiêu tiền tệ định hướng, NHNN điều hành lượng tiền cung ứng một cách chủ động, linh hoạt, phối hợp hài hòa giữa các kênh, mua được một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước nhưng đã linh hoạt hút tiền về các kênh để điều tiết tiền tệ một cách hợp lý, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát, đảm bảo an toàn hệ thống Cụ thể, trong những tháng cuối năm 2011, một số TCTD bị thiếu hụt lớn về thanh khoản, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ hệ thống, NHNN đã theo dõi, giám sát chặt chẽ và hỗ trợ kịp thời cho các TCTD, nhất là vào dịp Tết nguyên đán khi nhu cầu rút tiền của người dân và doanh nghiệp tăng cao, cũng như những thời điểm thị trường biến động mạnh như sự kiện liên quan đến ACB vào tháng 8/2012 Bên cạnh việc

hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo an toàn hệ thống, NHNN cũng đã mua một lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, đồng thời kịp thời hút tiền về qua thu nợ cho vay tái cấp vốn và phát hành tín phiếu

NHNN Với việc đưa tiền ra và hút tiền về hợp lý giữa các kênh, tiền cung ứng đã được điều tiết phù hợp vừa đảm bảo an toàn hệ thống, vừa tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước nhưng không tạo áp lực lên lạm phát

Điều này được minh chứng qua các khía cạnh sau:

- Tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng được kiểm soát ở mức thấp hơn so với các năm trước Năm 2011, tổng phương tiện

thanh toán tăng 12,5%, năm 2012 tăng 22,38%, thấp hơn so với mức bình quân 30,34%/năm trong giai đoạn 2007-2010 Năm 2013, tổng phương tiện thanh toán tăng 18,5% (bảng 1) Tín dụng tăng 14,45% trong năm 2011, tăng 8,91% trong năm 2012, và tăng 12,5% năm 2013,

Trang 10

thấp hơn nhiều so với mức tăng bình quân 35,91%/năm của giai đoạn 2007-2010 Việc kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tín dụng từ năm 2011 đến nay đã góp phần quan trọng vào thành công đưa lạm phát từ mức cao 18,13% năm 2011 xuống 6,81% năm 2012,

và xuống mức 6,04% năm 2013 Các giải pháp của NHNN đã góp phần

hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý ở mức 6,24% trong năm 2011, mức 5,25% trong năm 2012 và 5,42% trong năm 2013 Mức tăng trưởng này đạt được trong điều kiện tín dụng được kiểm soát ở mức thấp, chứng tỏ vốn tín dụng đã được sử dụng hiệu quả hơn so với trước đây Giải pháp kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thấp để kiên định theo mục tiêu kiểm soát lạm phát là phù hợp với định hướng giảm dần tỷ lệ đầu tư từ

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

- Thanh khoản của hệ thống cải thiện, tình trạng căng thẳng về thanh khoản không còn nhiều như những năm trước đây, hiện thanh

khoản hệ thống đang dồi dào, thể hiện qua: (i) Tỷ lệ tín dụng/huy động

vốn có xu hướng giảm dần từ mức trên 100% cuối năm 2011 xuống mức dưới 100%; (ii) Số tiền gửi của các TCTD tại NHNN thường xuyên vượt yêu cầu dự trữ bắt buộc để dự trữ thanh khoản và tăng trưởng tín dụng; (iii) Lượng trái phiếu Chính phủ các loại do các TCTD nắm giữ gia tăng, giúp Ngân sách Nhà nước có nguồn vốn giải ngân cho các chương trình, dự án, từ đó giúp các doanh nghiệp có khả năng chi trả, tiêu thụ bớt hàng tồn kho, qua đó tác động khơi thông dòng tiền trong

Ngày đăng: 17/02/2016, 12:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát, 2000-2012 - ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM:NHỮNG THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI
Hình 1. Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát, 2000-2012 (Trang 7)
Bảng 1. Diễn biến tăng trưởng, lạm phát, M2 và tín dụng (2010-2014) Đơn vị: % - ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM:NHỮNG THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI
Bảng 1. Diễn biến tăng trưởng, lạm phát, M2 và tín dụng (2010-2014) Đơn vị: % (Trang 10)
Hình 2. Mức độ đô la hóa, 2006-2013 - ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM:NHỮNG THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI
Hình 2. Mức độ đô la hóa, 2006-2013 (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w