ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay tệ nạn buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sản xuất, sử dụng trái phép các chất ma túy và một số chất gây nghiện, hướng thần được sử dụng trong ngành y tế bị lạm dụng cho
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay tệ nạn buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, sản xuất, sử dụng trái phép các chất ma túy và một số chất gây nghiện, hướng thần được sử dụng trong ngành y tế bị lạm dụng cho mục đích ma túy có xu hướng gia tăng, phát triển nhanh và trở nên rất nghiêm trọng cả về tính chất, mức độ, quy mô, tính phức tạp về thể loại, phương thức hoạt động Không chỉ ở trong nước mà còn mang tính xuyên quốc gia
Tổ chức chống ma túy và tội phạm Liên hợp Quốc (UNODC) ước tính trong năm 2011, có khoảng 11,2 triệu đến 22 triệu người trên toàn thế giới trong độ tuổi 15 - 64 (chiếm 0,24 - 0,48% dân số trong độ tuổi này) tiêm (chích) ma túy [109] Trong đó ở Việt Nam, số người sử dụng chất ma túy ngày càng tăng
Việt Nam là một trong những nước đang đứng trước nguy cơ về tệ nạn buôn bán, vận chuyển, tàng trữ, trung chuyển, sản xuất và sử dụng các chất
ma túy, tiền chất
Trước tình hình đó, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chủ trương, đề ra những biện pháp thích hợp trong từng giai đoạn cụ thể như xây dựng các Bộ luật, các Nghị định, Thông tư và các văn bản quy định pháp luật nhằm mục đích quản lý và giảm mức độ tăng của các loại tội phạm ma túy Chính phủ cũng ban hành danh mục các chất ma túy và tiền chất; các Bộ ngành đã ban hành các qui chế quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất để góp phần tích cực trong đấu tranh với loại tội phạm này
và đồng thời cũng để quản lý tốt các thuốc gây nghiện, hướng thần được sử dụng trong y học
Bên cạnh các chất ma túy truyền thống, các chất ma túy tổng hợp ATS (Amphetamin Type Stimulants) ngày càng gia tăng và phát triển cả về quy
mô, thể loại lẫn số lượng, hình thức, các dạng sản phẩm khác nhau trên thị
Trang 2trường bất hợp pháp Theo thống kê của Viện Khoa học hình sự (KHHS), từ năm 2000 đến năm 2011, số loại và số vụ về ma túy tổng hợp ATS gửi đến giám định ngày càng tăng lên
Cho đến nay chưa có công trình nào ở Việt Nam nghiên cứu hệ thống hóa một cách đầy đủ Trong khi các lực lượng phòng chống ma túy, các cơ quan quản lý các chất gây nghiện, hướng thần, tiền chất được sử dụng trong ngành y tế rất cần có số liệu, tài liệu hệ thống hóa các dạng, phương pháp phát hiện ma túy và truy nguyên nguồn gốc ma túy đảm bảo tính khoa học và thực
tế nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống, kiểm soát, quản lý và ngăn chặn tệ nạn ma túy
Địa bàn các tỉnh, thành phố phía Nam trong đó đặc biệt có Thành phố
Hồ Chí Minh là một thành phố đông dân nhất cả nước và Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều dân nhập cư từ khắp nơi, có cả khách du lịch nước ngoài, người nước ngoài đến làm ăn, kết hôn, sinh sống… do vậy đã tạo điều kiện làm cho tình hình tội phạm hình sự nói chung và tội phạm ma túy nói riêng rất phức tạp
Để góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy, đề tài luận án:
“Nghiên cứu hệ thống hóa phương pháp phát hiện các dạng ma túy thường gặp, bước đầu truy nguyên nguồn gốc một số chất ma túy tổng hợp ở Việt Nam” được thực hiện với các mục tiêu sau:
1 Hệ thống hóa các dạng và phương pháp phát hiện các chất ma túy thường gặp ở Việt Nam giai đoạn 2003-2012
2 Bước đầu truy nguyên nguồn gốc một số dạng ma túy tổng hợp ATS
và khảo sát xu hướng sử dụng các chất ma túy ở Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm, biểu hiện lâm sàng và tác hại của ma túy
1.1.1 Khái niệm về các chất ma túy
- Hiểu theo nghĩa Hán – Việt:
+ “Ma” là làm cho tê liệt
+ “Túy” là làm cho say sưa
- Về y học ma túy là một số chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp (hóa học) khi đưa vào cơ thể người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ảo giác, nếu
sử dụng nhiều lần dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng [15]
- Thuật ngữ ma túy đã được chính thức quy định tại Điều 203 của Bộ luật hình sự năm 1985 “tội sử dụng ma túy” [26] Sau đó được thay bằng Điều 185i “tội sử dụng trái phép chất ma túy” trong Luật sửa đổi bổ sung của Bộ luật Hình sự năm 1997 [27]
- Theo Điều 2 Chương I của Luật phòng chống ma túy được sửa đổi bổ sung năm 2008 [28]:
+ Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
+ Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
+ Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng
+ Tiền chất là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành
Trang 4+ Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất tại khoản 2, khoản 3 Điều 1 Chương I của Luật phòng chống ma túy được sửa đổi bổ sung năm 2008 [28]
+ Cây có chứa chất ma túy bao gồm cây thuốc phiện, cây coca, cây cần
sa hoặc các cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định
1.1.2 Biểu hiện của nghiện ma túy
Hiện nay cũng có nhiều định nghĩa về nghiện ma tuý
Sổ tay chẩn đoán của hiệp hội Tâm thần Mỹ (APA) định nghĩa nghiện như sau: Các triệu chứng bao gồm hiện tượng dung nạp (cần phải tăng liều lượng sử dụng để đạt được khoái cảm), sử dụng ma tuý để giảm triệu chứng cai, không thể giảm liều sử dụng thuốc hay ngưng sử dụng và tiếp tục sử dụng
dù biết nó có hại cho bản thân hay những người khác
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma tuý lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma tuý và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma tuý để có được những hiệu ứng ma tuý về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma tuý Tình trạng lệ thuộc này có thể kèm theo hiện tượng quen ma tuý hoặc không, và một người có thể bị lệ thuộc vào nhiều loại ma tuý
Tài liệu đào tạo nhân viên tiếp cận cộng đồng của Dự án LIFE - GAP (do trung tâm Kiểm soát dịch bệnh của Hoa Kỳ - CCD cung cấp) đã đưa ra một số tiêu chí để xác định lệ thuộc ma tuý, nghiện ma tuý là:
1.1.2.1 Dung nạp
Người sử dụng ma tuý (SDMT) ngày càng quen với tác dụng của ma túy và cần phải tăng liều dùng để đạt được tác dụng như mong muốn Một người ở giai đoạn dung nạp ma tuý thể hiện ít có phản ứng về liều dùng hơn người chưa có ở
Trang 5giai đoạn này Mức độ dung nạp tối đa có thể được quan sát bằng sự lệ thuộc vào heroin Ví dụ, khi một người đã quá lệ thuộc vào heroin, họ có thể dùng liều lượng vượt quá mức độ người chưa dung nạp loại ma tuý này
1.1.2.2 Đói thuốc
- Hội chứng đói thuốc: Theo dõi hội chứng này bao gồm những biểu hiện thay đổi về thể chất và tâm lý của người SDMT Nó xảy ra khi người SDMT giảm nhanh liều lượng quen dùng (ví dụ người cắt cơn heroin có thể
có những phản ứng của cơ thể như đau cơ khớp, rối loạn chức năng tim mạch
và hệ thống tiêu hoá )
- Giải toả: Để tránh cảm giác khó chịu khi đói thuốc người đó phải dùng 01 liều Hiện tượng này liên quan chặt chẽ đến hội chứng đói thuốc
1.1.2.3 Bắt buộc sử dụng
Một người lệ thuộc vào ma tuý bắt buộc phải SDMT Hiện tượng này
có liên quan đến đói thuốc
1.1.3 Tác hại của ma túy
1.1.3.1 Ảnh hưởng đến bản thân
- Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại Dùng ma tuý quá liều có thể dẫn đến cái chết
Trang 6- Gây nghiện mạnh, sức khoẻ giảm sút Tiêm (chích) ma tuý dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rút B, C, đặc biệt
là HIV(dẫn đến cái chết) Tiêm chích ma tuý là một trong những con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất tại Việt Nam Người nghiện ma tuý có thể mang vi rút HIV và lây truyền cho vợ, bạn tình và con cái họ
- Thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật
- Mâu thuẫn, bất hoà với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình
- Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai tiền đồ, nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm
- Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống
1.1.3.2 Ảnh hưởng đến gia đình
- Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình Nhu cầu tiền để mua
ma tuý của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày ít nhất từ 50.000-100.000 đồng/ngày thậm chí 1.000.000 - 2.000.000 đồng/ ngày, vì vậy khi lên cơn nghiện người nghiện ma tuý có thể tiêu tốn hết tiền của, tài sản, đồ đạc của gia đình vào việc mua ma tuý để thoả mãn cơn nghiện của mình, hoặc để có tiền sử dụng ma tuý, nhiều người đã trộm cắp, hành nghề mại dâm, hoặc thậm chí giết người, cướp của
- Sức khoẻ các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặc cảm, ăn không ngon, ngủ không yên vì trong gia đình có người nghiện)
- Gây tổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan
vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không ai chăm sóc )
Trang 7- Gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra
1.1.3.3 Ảnh hưởng đến xã hội
- Gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm
- Ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc
- Làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội
- Tăng chi phí ngân sách xã hội cho các hoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma tuý đem lại Ma tuý còn là nguồn gốc, là điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS (một hiểm hoạ toàn cầu chưa có thuốc chữa Hiện nay nước ta có 213.431 người nhiễm HIV/AIDS thì có 38,9% là người nghiện tiêm (chích) ma tuý (tính đến 31.5.2013) [1]
- Các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hóa, dẫn tới suy yếu nòi giống
1.2 Các chất ma túy tổng hợp ATS thường gặp ở Việt Nam
Các chất ma túy tổng hợp ATS phần lớn có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, tăng huyết áp, tăng nhịp tim, làm tỉnh táo và thông minh hơn, tạo trạng thái phớn phở, hạnh phúc (euphoric), tăng nhịp thở, tăng nhiệt
độ cơ thể ở liều trung bình từ 20mg đến dưới 100mg Khi sử dụng liều cao có tác dụng gây ảo giác Đặc biệt người sử dụng rất nhạy cảm với âm thanh, ánh sáng, màu sắc, dễ xúc động (agitation), rung lắc (tremor), ngắt quãng (episode), giảm trí nhớ, hoang tưởng (Paranoid delusions), bạo lực, chán ăn (unappetide) [103], [95] Sử dụng trong điều trị suy nhược thần kinh, tâm thần phân liệt, làm tăng cường thể lực, dễ bị lạm dụng, một số chất có tác dụng kích thích tình dục Đôi khi có sự lạm dụng trong giới thể thao để tăng thành tích thi đấu Một số đối tượng là thanh niên, sinh viên, học sinh, giới showbiz thậm chí cả những nhà điều hành cũng lạm dụng các chất ma túy
Trang 81.2.1 Amphetamin (AM)
- Công thức hóa học [34], [103], [95]
NH2
CH3
- AM tổng hợp có công thức phân tử (CTPT) C9H13N, trọng lượng phân
tử (TLPT) 135,2 xuất hiện nhiều ở dạng:
+ Hydroclorid: CTPT: C9H13N.HCl; TLPT: 170,7 dạng base 79,2% + Dạng muối Sulfat: CTPT: (C9H13N)2.H2S04; TLPT 368,5 dạng base 73,4%
- Tên khác: Amfetamin, Actedron, Alloden, Adipan, Maxiton (khoảng trên 300 tên gọi khác nhau)
- Dạng bột trắng (tinh thể), viên nang, viên nén, ống…
- Methamphetamin chủ yếu dùng bằng đường uống, hít, tiêm
Tinh thể và logo một số viên chứa MA được thể hiện ở phụ lục 1
Trang 91.2.3 Methylendioxy Methyl Amphetamin (MDMA): Ecstasy
- Công thức hóa học [36], [63], [74], [76]
OO
- Các tên rất hấp dẫn “flying saucer”, “disco biscuits”, “fantasy”, “huge drug”, “speed”…
- Khả năng gây nghiện mạnh hơn MA, xuất hiện phổ biến trên thị trường ma túy ở dạng viên nén có các logo và màu sắc không kém phần đa dạng và phong phú như MA (hồng phiến) [33], [35] Ảnh của viên MDMA được ghi ở phụ lục 2
1.2.4 Methylendioxy Amphetamin (MDA)
1.2.5 Methylendioxy Ethyl Amphetamin (MDEA)
- Công thức hóa học [105], [107], [108]
OO
NH
CH3
CH2 CH3
- Chất tổng hợp có CTPT: C12H17NO2; TLPT: 207,3
Trang 10- Thường tồn tại trên thị trường dạng hydroclorid với CTPT:
N-+ N-Hydroxy-N-methyl-3,4-methylenedioxyamphetamin (N-Hydroxy - MDMA, FLEA)
+ N-methyl-1-(3,4-methylenedioxyphenyl)-2–butanamin (MBDB) + 1-(3,4-methylenedioxyphenyl)-2-butanamin (BDB)
Trang 11+ 4-Propylthio-2,5-dimethoxy-phenethylamin (2C-T-7)
+ 4-Chloro-2,5-dimethoxy-phenethylamin (2C-C)
+ 4-Iodo-2,5-dimethoxy-phenethylamin (2C-I)
+ 4-[(Fluoro)-Ethylthio]-2,5-dimethoxy-phenethylamin (2C-T-21) + 4-(Methoxy)-2,5-dimethoxy-phenethylamin
* Và trên cơ sở cấu trúc cơ bản dưới đây có 18 chất thuộc tiểu nhóm gọi chung là 2Cs [105], [107], [108] (xem bảng 1.1)
Bảng 1.1: Các chất amphetamin có nhóm thế trên vòng benzene
R4
O-CH3R3
Trang 12- Các chất có nhóm thế ở vị trí 2,4,5 trên vòng benzen nhóm amphetamin [105], [107], [108]
Trang 131.3 Các chất ma túy truyền thống thường gặp ở Việt Nam
1.3.1 Thuốc phiện và nhóm Opiat
1.3.1.1 Thuốc phiện (Opium)
- Cây thuốc phiện được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 17 và được trồng nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc [9], [14]
- Tên khoa học của cây thuốc phiện là Papaver Somniferum (L) Papaveraceace (anh túc) Hoa thuốc phiện có nhiều loại và màu sắc khác nhau nhìn rất đẹp [30] (hình 1.1 và hình 1.2)
Hình 1.1: Ảnh hoa thuốc phiện
Trang 14Hình 1.2: Quả, nhựa thuốc phiện
- Thuốc phiện là sản phẩm tự nhiên thu được bằng cách rạch những quả chưa chín của cây thuốc phiện để lấy nhựa, có màu nâu, nâu đen, mùi rất đặc trưng, vị rất đắng
+ Có nhiều dạng thuốc phiện: Thuốc phiện sống, thuốc phiện chín, thuốc phiện Y tế, sái thuốc phiện
+ Đây là loại ma túy rất phổ biến ở khu vực Đông Nam Á Tên khác của thuốc phiện: Á phiện, “Nàng tiên nâu”, “Ả phù dung”, dung dịch để chích màu nâu có tên “xì ke”, [16], [96]
- Nhựa thuốc phiện được sử dụng trong ngành Dược với sản phẩm như viên colchimax, paragoric…làm thuốc giảm đau và thuốc trị tiêu chảy
- Thành phần hóa học: Nhựa thuốc phiện có trên 40 hợp chất alcaloid khác nhau, trong đó quan trọng nhất là morphin chiếm từ 4-21%, codein từ 0,7-3%…[104], [108]
1.3.1.2 Morphin
- Công thức hóa học [16]
O
N CH3OH
HO
Trang 15- CTPT: C17H19NO; TLPT: 285,3
+ Morphin hydroclorid: CTPT: C17H19NO3.HCl; TLPT: 321,8; dạng base 88,7%
+ Morphin hydroclorid: CTPT: C17H19NO3.HCl.3H2O; TLPT: 375,8; dạng base 75,9%
+ Hoặc dạng Morphin sulfat (C17H19NO3)2.H2SO4.5H2O; TLPT: 758,8; dạng base 75,2% [7], [14], [112]
- Morphin là hợp chất alcaloid chính của thuốc phiện
- Là chất giảm đau rất hiệu quả được sử dụng trong Y học ở dạng viên hay dạng tiêm 10mg/ống Ảnh bánh morphin và morphin dạng tiêm được mô
tả ở phụ lục 5
1.3.1.3 Heroin
- Còn có tên gọi khác: “Bạch phiến”, “Cái chết trắng”
- Là chất ma túy phổ biến nhất trên thế giới, khu vực “Tam giác vàng”,
“Lưỡi liềm vàng” và ở nước ta Heroin gần như thay thế cả thuốc phiện Heroin được bán tổng hợp từ morphine bằng cách Diacetyl hóa ở 2 nhóm OH, tên khác diacetylmorphin, diamorphin [5], [97], [102] Mẫu bột hay bánh heroin có vị chua của giấm, vị rất đắng Khả năng gây nghiện rất cao so với morphin
Trang 161.3.1.4 Codein
- Công thức hóa học
O
N CH3O
Trang 171.3.1.6 Các chất ma túy tổng hợp tác dụng giống morphin
- Pethidin (còn có các tên khác: Dolargan, Dolosan, Dolosil, Eudolat, Methedin, Dolivan, ở dạng ống chích hàm lượng 100mg/ống
- Fentanyl (còn có các tên khác: Fantanest, Fentanyl richter, Sublimaze, Pentanyl, Sentonyl phentanyl, sentonyl )
- Methadon (còn có các tên khác: Amidon, Fenadone, Mecodine, Dolophil, Ketalgine, Heptanol, Hetadol) Có hiệu lực hơi mạnh hơn morphin [5], [97], [102]
- Mecloqualon
- Ketamin là chất gây mê tổng quát, có tác dụng gây ảo giác giống như
phencyclidin và có tác dụng gây nghiện [5], [11], [97]
- Buprenorphin
- Tramadol
1.3.2 Các chất gây ảo giác (Hallucinogens)
1.3.2.1 Cây cần sa
- Tên khác: Bồ đà, gai dầu, Marijuana, cannabis, hashish
- Tên khoa học: Cannabis sativa (L) Cannabinaceae
- 2700 năm trước Công nguyên, cần sa được mô tả trong "Bản Thảo Cương Mục" của vua Thần Nông (Trung Quốc) Nhưng trước đó, người ta đã dùng làm thuốc hút, hít, uống để có được ảo giác Y học dân gian thì dùng cần
sa để giảm đau, giảm ho, giảm cơn suyễn, chống co giật Tây y thì dùng một hoạt chất của cây cần sa là ∆9- (Tetrahydro Canna Biol = ∆9 -THC) làm thuốc
an thần, chống nôn ói cho người bệnh ung thư [11], [97], [102]
Hình ảnh cây cần sa được ghi ở hình 1.3
Trang 18Hình 1.3: Cây cần sa
- Thành phần hóa học: Có 4 hoạt chất chính: 9- Tetrahydrocannabinol (9 -THC), cannabinol, cannabidiol, cannabidiolic acide Trong đó 9 -THC
là hoạt chất gây ảo giác
- Công thức hóa học của 9-THC, C21H30O2 ; TLPT: 314,5
OH
C5H11O
C
H3C
* Thảo mộc (herbal cannabis), Thái stick
* Nhựa cần sa = Hashish (Cannabis resin)
* Dạng dầu (Cannabis oil)
Trang 191.3.2.2 Các chất gây ảo giác khác
- LSD (Lysergic Saure Diethylamid)
+ LSD là chất gây ảo giác rất mạnh với hàm lượng 25 microgam đã có tác dụng rõ rệt bằng đường uống hay tẩm ngậm dưới lưỡi
- Ngoài ra còn một số chất gây ảo giác khác [5], [11], [97], [102] như + Psilocybin (Indocybin) là hoạt chất chính chiết xuất từ nấm Psilocybe
có nguồn gốc từ ngưởi bản xứ Indians ở Trung Mỹ
+ Mescalin là alcaloid chính của nấm Peyote có trên cây xương rồng ở vùng Bắc Mỹ, Mexico
+ Dimethyltriptamin (DMT)
* Hoạt chất có từ nấm Psilocyba có ở Nam Mỹ và Tây Ấn Độ
* Tác dụng gây ảo giác như LSD nhưng yếu hơn và thời gian ngắn hơn + Phencyclidin (PCP): còn có tên khác như Angel dust, HOG, Sernyl, Sernylan PCP là chế phẩm tổng hợp bởi Park Davis năm 1956, tác dụng gây tê, giảm đau và gây ảo giác
Trang 201.3.3 Chất kích thích (Stimulants)
1.3.3.1 Cocain
- Từ xa xưa, người dân Nam Mỹ đã nhai lá coca với vôi để cảm thấy không đói, không mệt Ngày nay, Tây y dùng cocain làm thuốc gây tê tại chỗ như gây tê trong tai mũi họng, răng miệng
- Cocain là alcaloid chính được chiết xuất từ lá của cây coca lần đầu vào năm 1855 Tên khoa học của cây coca là Erythroxylon coca (L) Erythroxylaceace Cây coca Việt Nam có tên khoa học Erythroxylon coca Novogranatense (L) Erythroxylaceace (lá xanh nhạt và mỏng hơn)
- Hàm lượng cocain trong lá cây coca trồng ở Việt Nam từ 0,21 - 0,31% (trong lá tươi)
- CTPT: C17H21NO4; TLPT: 303,4 [19], [23], [96]
- Cocain tồn tại ở nhiều dạng khác nhau: borat, citrat, format, hydroiodid, hydrobromid, nitrat, lactat, sulfat, tartrat, salicylat
- Cocain hydroclorid có CTPT: C17H21NO4.HCl; TLPT: 339,8; dạng base chiếm 89,3%
Trang 21Cây, hoa, quả của cây coca và bột cocain được ghi ở hình 1.4 và hình 1.5 dưới đây
Hình 1.4: Cây, hoa, quả của cây coca Hình 1.5: Bột cocain
1.3.3.2 Cây “KHAT”
- Có nhiều ở vùng Trung Phi và Yemen Hoạt chất chính là cathin có cấu trúc gần giống amphetamin [23], [99]
- Người nghiện dùng lá nhai, hút, uống gây hưng phấn thần kinh
1.3.4 Các chất ức chế hệ thần kinh trung ương (Depressants)
1.3.4.1 Nhóm an thần gây ngủ loại benzodiazepin
- Công thức tổng quát chung
- Dựa vào sự thay đổi của các gốc R ta có những hợp chất khác nhau: Diazepam, nitrazepam, nidazepam, bromazepam… [11], [97], [102]
N
N
R2 R3 R4 R5
R1 9
8 7
3
2 1
CH OH
CH3
Trang 221.3.4.2 Thuốc ngủ nhóm barbiturat
- Công thức chung
N N O
O
O
R1 R2 R3
H
- Tùy theo gốc R cho ra các chất khác nhau: Phenobarbital, secobarbital, vinyl barbital, barbital…[5], [11], [91]
1.3.5 Một số tiền chất (precursor chemicals)
Là những hóa chất cần thiết để tổng hợp hay bán tổng hợp hay sản xuất
gama-Theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 07 năm 2013, có hiệu lực từ 01.9.2013 của Chính phủ Việt Nam quản lý, tổng cộng là 235 chất
ma túy, chất hướng thần chia thành 3 bảng tùy theo tính chất, mức độ nguy hại và 41 tiền chất [11]
Trang 231.4 Truy nguyên nguồn gốc ma túy
1.4.1 Tình hình truy nguyên nguồn gốc ma túy ở Việt Nam
Từ trước năm 2002 việc xác định truy nguyên nguồn gốc ma túy là một khái niệm hoàn toàn mới đối với lực lượng kiểm soát ma túy của Việt Nam Trước đây thường chỉ xác định chất ma túy gì, hàm lượng, trọng lượng các chất thuộc nhóm ATS [19], [24] Từ năm 2003, Viện Khoa học hình sự được trang bị các thiết bị phân tích hiện đại như: GC, GC-MS, FTIR, LC-MS
và ICP-MS… đồng thời kiến thức về truy nguyên nguồn gốc ma túy đã được nâng cao thông qua các cuộc hội thảo, tập huấn khu vực và quốc tế (UNODC), việc phân tích truy nguyên nguồn gốc ma túy ATS bước đầu đã được tiến hành ở Việt Nam, bao gồm:
- Xác định thông tin, đặc điểm vật lý của viên ma túy như: Hình dạng, trọng lượng, kích thước, độ cứng, màu sắc, logo, vật liệu bao gói
- Xác định thông tin, đặc điểm hóa học: Định tính và định lượng hoạt chất chính và các chất ma túy khác cũng như các chất pha trộn vào mẫu (các chất pha trộn có hoạt tính sinh học, làm giả)
- Xác định các sản phẩm phụ, dung môi, cặn vô cơ trong viên ma túy và các tạp chất cộng kết trong quá trình sản xuất, điều chế ma túy còn lại trong mẫu ma túy [19], [21], [24]
Truy nguyên nguồn gốc ma túy (Impurity Profiling) để tìm ra mối liên
hệ giữa các mẫu ma túy đã bị bắt giữ từ các vụ án khác nhau, thủ đoạn làm giả ma túy, các viên “ thuốc lắc”, mối liên quan về phương pháp tổng hợp, điều chế ma túy
Ví dụ: Tinh thể methamphetamin bị bắt giữ năm 1995 với năm 2005,
2008 có cùng phương pháp tổng hợp hay không? hoặc là đã xuất hiện một phương pháp tổng hợp MA mới, phương thức thủ đoạn điều chế, chế biến viên thuốc lắc giả như 2 vụ rất lớn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 và Hải Phòng năm 2008…, phân tích tích 45 mẫu viên ma túy tổng hợp từ các vụ án khác
Trang 24nhau, ở nhiều địa phương khác nhau nhằm giúp cho cơ quan thực thi luật pháp
có những thông tin khoa học về mối liên hệ giữa các mẫu thu được có giá trị phục vụ cho điều tra khám phá các đường dây mua bán, sản xuất, tổng hợp các chất ma túy cũng như phục vụ cho việc truy tố, xét xử [33]
1.4.2 Nhu cầu về thông tin qua truy nguyên nguồn gốc ma túy
Các cơ quan thực thi luật pháp rất cần chứng cứ giữa những đối tượng buôn bán và người sử dụng, hoặc cần điều tra về mạng lưới phân bố giữa bán buôn và bán lẻ trong khu vực Khoa học hình sự (KHHS) sẽ giải đáp được các yêu cầu sau:
- Hai hoặc nhiều mẫu có liên quan với nhau không?
- Mối liên quan này còn có thể chỉ ra một mối liên hệ giữa các đối tượng từ các vụ án khác nhau không?
- Mối liên quan giữa các mẫu có cho thấy sự tồn tại của một đường dây mua bán, vận chuyển ma túy trong một địa phương, trong một nước hoặc khu vực và quốc tế, xuyên quốc gia cả về phạm vi, mức độ?
- Nguồn gốc của các chất ma túy từ đâu (nguồn gốc về địa lý, về các phòng thí nghiệm sản xuất ra chúng)?
- Phương pháp nào đã được sử dụng để điều chế ra nó? Những hóa chất nào đã được sử dụng?
Như vậy thông tin KHHS không chỉ là chứng cứ phục vụ cho xét xử,
mà còn có ý nghĩa về mặt khoa học và chiến lược trong công tác phòng chống
ma túy, trong đó lấy yếu tố phòng ngừa là cơ bản
1.4.3 Các phương pháp phân tích hóa lý sử dụng để truy nguyên nguồn
Trang 25tính Lurie [69] đã dùng HPLC để phân tích tạp chất trong MA Phương pháp HPLC đã được ứng dụng trong PTTN ma túy tại Mỹ từ 1986, nhưng đến năm
2003 được thay thế bằng phương pháp điện di mao quản (CE)
Elisabet [44], Gloger [49], Han-Yong [50], Kaa [58], Neumann [77], và Zhang [114] đã đùng phương pháp sắc ký khí (GC) cột mao quản để phân tích các tạp chất chủ yếu trong mẫu heroin Đến thập kỷ 90, phương pháp này được nghiên cứu trên kỹ thuật dẫn xuất hoá mẫu Hiện nay, phương pháp GC
và GC-MS được ứng dụng ở hầu hết các nước trên thế giới để PTTN ma túy nói chung và heroin nói riêng [101], [100]
Các tác giả Ying Qi [79], [80], Inoue [55], [56], [57], Puthaviiriyakom [78], PU [46], Daryit [41], Remmberg [81], Windahl [113], UNDCP Tanka [84], [85], đã dùng GC và GC-MS để phân tích các tạp chất trong MA Các Viện KHHS Châu Âu đã phát triển một phương pháp quy chuẩn, hài hòa để PTTN amphetamin bị bắt giữ trong toàn Châu lục
Các tác giả Cheng và cộng sự [39], [40], Gimeno và cộng sự [46], [47], [48], Teng và cộng sự; Swist và cộng sự [82], [83], Deursen [42], Weyermann [112] đã sử dụng GC và GC-MS để phân tích MDMA Tác giả Bonadio và cộng sự (2009) [37] đã dùng HS-SPME/GC-MS để PTTN MDMA, ưu điểm của phương pháp là quy trình chiết tách đơn giản, cần lượng mẫu ít
Nói chung, GC và GC-MS cho khoảng phát hiện rộng, độ nhạy cao, giới hạn phát hiện nhỏ, có thể phân lập và xác định được hầu hết các tạp chất trong mẫu Phương pháp có thể được tự động hoá, cho độ lặp lại tốt Thời gian phân tích nhanh hơn so với HPLC và hiện nay vẫn là một trong những phương pháp phân tích hóa lý hiện đại dược ứng dụng nhiều nhất trong PTTN
ma túy trên thế giới
- Phương pháp điện di mao quản (CE): Các tác giả [69], [70], đã dùng
CE để phân tích ma túy nhóm ATS, phân biệt đồng phân quang học của MA
và dẫn xuất Đây là phương pháp mới, có nhiều ưu điểm về độ phân giải, thời
Trang 26gian phân tích, tiết kiệm dung môi, do đó có thể được ứng dụng nhiều trong tương lai Hiện nay, phòng thí nghiệm DEA của Mỹ đang áp dụng phương pháp này
- Phương pháp đo tỷ lệ đồng vị-khối phổ (IR-MS) đã được Kurashima [64], [65] Makino [71], [72] sử dụng để xác định các đồng phân quang học của tiền chất và chất ma túy MA, nhằm cho biết nguồn gốc tiền chất: Tự nhiên, bán tổng hợp hay tổng hợp
Các tác giả Matsumoto [75] đã dùng cộng hưởng từ hạt nhân NMR để nghiên cứu MA
1.5 Thực trạng và xu hướng sử dụng ma túy hiện nay
1.5.1 Thực trạng và xu hướng chung
Ở cấp độ toàn cầu, có sự gia tăng sản xuất và lạm dụng chất hướng thần mới (NPS), tức là các chất mới chưa bị ảnh hưởng bởi sự kiểm soát quốc tế Việc sản xuất và sử dụng các chất ma túy trong danh sách được kiểm soát quốc tế nói chung vẫn ổn định so với năm 2009, mặc dù xu hướng là không đồng đều giữa các khu vực và các quốc gia cũng như giữa các loại ma túy [109]
Số lượng NPS xuất hiện trên thị trường ngày càng tăng đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt cho sức khỏe cộng đồng, không chỉ vì số lượng sử dụng ngày càng tăng mà còn vì thiếu các nghiên cứu khoa học cũng như sự hiểu biết về tác dụng phụ của chúng [109]
Hiện nay, NPS dường như có nguồn gốc chủ yếu là ở Châu Á (Đông và Nam Á), đặc biệt là ở các nước có nền hóa học và công nghiệp dược phẩm tiên tiến
Năm 2011, ước tính từ 167 đến 315 triệu người trong độ tuổi 15-64 (tương đương 3,6 - 3,9% dân số trưởng thành) đã sử dụng ít nhất một chất ma túy [109]
Trang 27Từ năm 2009, sự sử dụng thuốc phiện, cần sa đã tăng lên, trong khi tỷ
lệ sử dụng cocain, chất kích thích loại amphetamin và "thuốc lắc" dường như
đã đi theo một xu hướng giảm không đáng kể ở giữa giai đoạn 2009 -2011 [Hình 1.6]
Hình 1.6: Xu hướng sử dụng các loại ma túy khác nhau
trong giai đoạn 2009 - 2011 Văn phòng ma túy và tội phạm Liên hợp Quốc (UNODC) ước tính rằng trong năm 2011 có khoảng 11,2 triệu đến 22 triệu người trên toàn thế giới trong độ tuổi 15 – 64 (chiếm 0.24 - 0.48% dân số trong độ tuổi này) tiêm (chích) ma túy [109]
Trong số các nước báo cáo tăng số lượng người tiêm (chích) ma túy đáng chú ý có Pakistan, Liên bang Nga và Việt Nam, trong khi các nước khác báo cáo giảm đáng kể bao gồm Brazil, Indonesia, Nam Phi, Thái Lan và cả Hoa Kỳ [109]…
Chích ma túy vẫn còn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng trong một số nước Đông Á và Đông Nam Á, số người chích ma túy ở hai khu vực này chiếm 27% tổng số người chích ma túy toàn cầu [109]
Trang 281.5.2 Xu hướng sử dụng một số chất ma túy chủ yếu
1.5.2.1 Thuốc phiện
Xu hướng liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ với thuốc phiện đã chứng kiến một số thay đổi lớn Các số liệu cho thấy việc sử dụng chất dạng thuốc phiện (thuốc nhóm opiat, heroin và thuốc phiện) đã tăng lên trong một
số khu vực của Châu Á (Đông và Đông Nam Á, cũng như miền Trung và Tây Châu Á) và châu Phi từ năm 2009 [97], [99], [106]
Số người sử dụng thuốc phiện (heroin và thuốc phiện), vẫn ổn định (khoảng 16,5 triệu người, tương đương 0,4 phần trăm dân số trong độ tuổi 15-64) Đặc biệt ở châu Âu, có dấu hiệu cho thấy việc sử dụng heroin đang giảm,
do một số yếu tố, trong đó có lý do lão hóa dân số và sự gia tăng kiểm soát của chính quyền [99], [106]
1.5.2.2 Cocain
Trên toàn thế giới, diện tích trồng coca lên tới 155.600 ha vào năm
2011, gần như không thay đổi so với năm trước nhưng giảm 14% so với năm
2007 và giảm 30% so với năm 2000 [109]
Theo ước tính, lượng cocain sản xuất (cocain tinh khiết 100%), dao động từ 776 đến 1.051 tấn trong năm 2011, phần lớn không thay đổi so với năm trước [109]
Trong những năm gần đây thị trường cocain được ghi nhận tăng đáng
kể trong khu vực châu Á, Châu Đại Dương, Trung và Nam Mỹ và vùng Caribê Đặc biệt có sự tăng đáng kể ở Hồng Kông, Trung Quốc, với mức tăng khoảng 600 kg trong năm 2010, và đã vượt quá 800 kg cocain trong năm
2011 [109]
1.5.2.3 Cần sa
Sử dụng cần sa đã tăng lên trên toàn cầu, đặc biệt là ở Châu Á
từ năm 2009 Mặc dù số liệu dịch tễ học là không có sẵn, các chuyên gia từ khu vực báo cáo một sự gia tăng nhận thức trong sử dụng Các khu vực có tỷ
Trang 29lệ sử dụng cần sa đó là cao hơn hơn so với trung bình toàn cầu tiếp tục là Tây
và Trung Châu Phi (12,4%), Châu Đại Dương (chủ yếu Úc và New Zealand, 10,9%), Bắc Mỹ (10,7%) và phương Tây và Trung Âu (7,6%) Cần sa sử dụng ở Bắc Mỹ và ở hầu hết các bộ phận của phương Tây và Trung
Âu được coi là ổn định hoặc giảm [109]
1.5.2.4 Amphetamin
Việc sử dụng các chất ma tuý tổng hợp ATS, không bao gồm "thuốc lắc", vẫn còn phổ biến trên toàn cầu, và có xu hướng giảm ở một số khu vực (ở Việt Nam tăng) Trong năm 2011, ước tính có khoảng 0,7% dân số thế giới
độ tuổi từ 15-64 (khoảng 33,8 triệu người) đã sử dụng ATS Trong khi đó có khoảng 19.4 triệu người sử dụng "thuốc lắc" trong năm 2011, thấp hơn so với năm 2009 [97], [99], [106]
Việc sử dụng ATS vẫn ổn định ở khu vực Bắc Mỹ và Châu Đại Dương, nhưng có dấu hiệu tăng lên ở châu Á, đặc biệt là ở khu vực Đông và Đông Nam Á [106]
Ở cấp độ toàn cầu, toàn bộ lượng ATS bị tịch thu trong năm 2011 vào khoảng 123 tấn tăng 66% so với năm 2010 (74 tấn) và tăng gấp đôi kể từ năm
2005 (60 tấn) [108]
Methamphetamin vẫn chiếm ưu thế trong các chất ma túy tổng hợp ATS ở Đông và Đông Nam Á, với 122,8 triệu viên thuốc đã bị thu giữ trong năm 2011, mặc dù đã giảm 9% so với năm 2010 (134,4 triệu viên thuốc) Tuy nhiên methamphetamin tinh thể lại tăng lên đến 8,8 tấn, mức cao nhất trong 5 năm, điều này cho thấy rằng chất này là một mối đe dọa không tránh khỏi sắp xảy ra [66], [67], [73]
1.5.2.5 Chất hướng thần mới
Ở cấp độ toàn cầu, có sự gia tăng sản xuất và lạm dụng chất hướng thần mới (NPS), tức là các chất mới chưa bị ảnh hưởng bởi sự kiểm soát quốc tế
Trang 30Theo báo cáo của các thành viên UNODC, số lượng NPS tăng từ 166 chất vào cuối 2009 lên 251 chất vào giữa năm 2012, tăng gần 50% Lần đầu tiên, số lượng NPS thực sự vượt quá tổng số chất được kiểm soát quốc tế (234 chất)
Cho đến giữa năm 2012, phần lớn các NPS được xác định là cần sa tổng hợp (23%), phenethylamin (23%) và cathinon tổng hợp (18%), tiếp theo
là tryptamin (10%), các chất dựa trên thực vật (8%) và piperazin (5%) Các chất phổ biến nhất là JWH-018 và JWH-073 trong cần sa tổng hợp; mephedron, MDPV và methylon trong cathinon tổng hợp và m-chlorophenylpiperazin (mCPP), N-benzylpiperazin (BZP) và 1 - (3 trifluoromethylphenyl) piperazin (TFMPP) trong piperazin Chất thực vật bao gồm chủ yếu là kratom, lá “khat” và salvia divinorum [107]
Để đánh lừa các cơ quan kiểm soát ma túy, các đối tượng mua bán ma túy sử dụng các hình thức tiếp thị, quảng cáo các sản phẩm của họ tích cực và bán chúng dưới hình thức các sản phẩm hàng hóa thông thường như nước hoa xịt phòng, muối tắm, thảo dược hương và thậm chí cả phân bón cây Tất cả các nước thành viên UNODC đã báo cáo sự xuất hiện của NPS Giai đoạn 2008-2012 cụ thể chứng kiến sự xuất hiện của cần sa tổng hợp và cathinon tổng hợp, trong khi số lượng các nước báo cáo phenethylamin mới, ketamin
và piperazin giảm (so với giai đoạn trước năm 2008)
1.5.3 Xu hướng sử dụng ma túy ở Việt Nam
Sử dụng các chất ma túy và lạm dụng các chất gây nghiện, hướng thần, tiền chất cho mục đích ma túy đang tăng mạnh ở Việt Nam: Gần như gấp ba lần trong 10 năm qua Bắt đầu từ khu vực nông thôn miền núi; buôn bán, sử dụng ma túy bất hợp pháp lan truyền nhanh chóng đến các khu vực đô thị Trong khi đó, độ tuổi trung bình của người sử dụng ma túy đã giảm (giới trẻ
sử dụng chất gây nghiện tăng) và nhiều phụ nữ đã tham gia vào đường dây mua bán, vận chuyển, tổ chức sử dụng ma túy Đồng thời, heroin đã thay thế
Trang 31thuốc phiện và trở thành loại ma túy được ưa chuộng nhất trên thị trường ma túy bất hợp pháp hiện nay ở nước ta, đặc biệt là trong những người sử dụng trẻ tuổi ở khu vực thành thị [87], [110]
Sử dụng, buôn bán ma túy đã lan rộng cho tất cả 63 tỉnh thành hiện nay trong cả nước ở mức độ khác nhau Cụ thể hơn, năm 2004 một phần ba (36%)
số người nghiện ma túy của cả nước hoặc sống tại Thành phố Hồ Chí Minh hoặc tại Hà Nội [110], hai thành phố lớn nhất, chiếm khoảng 10,7% tổng dân
số của đất nước Số lượng người nghiện ma túy trong các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm 30,3% của cả nước
Sản xuất, buôn bán và sử dụng bất hợp pháp các chất ma túy là vấn đề
xã hội quan trọng và bức xúc đối với Việt Nam hiện nay (OSI, 2009) Trong hai thập kỷ qua đã có một sự chuyển hướng từ hút thuốc phiện và chích heroin sang sử dụng các chất hướng thần khác thuộc nhóm ma túy tổng hợp ATS như metamphetamin, MDMA [32], [105]
Các chất ma túy tổng hợp ATS là các chất ma túy thuộc nhóm có tác dụng kích thích (thuốc lắc) [11], [30] Tệ nạn ma tuý là hiểm họa lớn cho toàn
xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy giảm đạo đức, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Trong những năm gần đây số vụ án phạm tội về sử dụng, buôn bán, vận chuyển, sản xuất và tàng trữ các chất ma túy tổng hợp ATS tăng rõ rệt [33] Tuy mức độ gây nghiện, sự lệ thuộc về thể chất và tinh thần không bằng các chất ma túy truyền thống như heroin, thuốc phiện, cần sa nhưng cũng gây nhiều hậu quả cho cá nhân, gia đình và xã hội không kém Nhất là sau khi sử dụng các chất ma túy tổng hợp ATS, các đối tượng nghiện thường có xu hướng bạo lực, gây gia tăng các vụ phạm pháp hình sự, quan hệ tình dục không kiểm soát dẫn đến nguy cơ rất cao lây nhiễm HIV-AIDS
Trang 32Theo thống kê của Viện Khoa học hình sự (KHHS), từ năm 2003 đến năm 2012 số viên ma túy tổng hợp ATS gửi đến giám định tăng lên, năm sau cao hơn năm trước, số viên gửi đến giám định trong 10 năm qua tăng lên lần lượt tương ứng như sau: 17.000; 43.160; 44.428; 27.218, 61.000, 78000 viên chứa MDMA (ecstasy), có vụ 160.000 viên WY chứa methamphetamin (hồng phiến) [33] Tỷ lệ các mẫu ma túy tổng hợp ATS được giám định hàng năm trong tổng số các mẫu ma túy khác chiếm tới gần 20% đến 25% Khuynh hướng ma túy tổng hợp nhóm ATS tăng lên là do sự vận chuyển, buôn bán, sử dụng loại ma túy này trên thế giới ngày càng tăng, đặc biệt là các viên ma túy trong phân nhóm các viên “thuốc lắc” như: MDMA, MDA, MDEA, N-OH-MDA, 2C-B và các chất 2Cs (2C-I, 2C-H, 2C-E, 2C-T2, 2C-T4, DOET…) các tiền chất ephedrin, pseudoephedrin…[33] Nhất là trong thời kỳ hội nhập quốc tế thì trên thế giới có chất ma túy gì ở việt Nam xuất hiện các chất ma túy ấy
Theo ước tính của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA), trong năm 2009 có khoảng 150.000 người trên toàn quốc sử dụng các loại thuốc bất hợp pháp, bao gồm cả heroin, thuốc phiện, ma túy tổng hợp và cần
sa (83% trong số đó tiêm chích heroin) [4]
Theo Dương Văn Quang [18], tội phạm ma túy được phát hiện tại địa bàn các tỉnh thành phố khu vực Nam bộ từ năm 2005 - 2011 là 20.466 vụ và 41.010 đối tượng (chiếm 23,08% về số vụ và 30,69% về số đối tượng so với
cả nước) Trong khoảng thời gian 2005 - 2011 có 45 vụ án ma túy liên quan đến yếu tố người nước ngoài tại khu vực Nam bộ bị bắt giữ trong đó có 53,33% số vụ là heroin, số vụ ma túy tổng hợp là 31,11%
Trang 33CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN VẬT LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, nguyên vật liệu và thiết bị nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Mẫu chuẩn các chất ma túy thường gặp của UNODC cung cấp
- Các mẫu thực tế từ các vụ án mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng các chất ma túy khảo sát từ 2003 - 2012 tại Cục phòng chống tội phạm ma túy; Viện KHHS, Phân viện KHHS và 7 tỉnh thành phố phía Nam: Cà Mau,
An Giang, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu 1918 vụ tương ứng 5238 mẫu các loại
- Báo cáo sơ kết, tổng kết trong 10 năm từ 2003 - 2012 của Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy, của Viện KHHS và Phân viện KHHS
2.1.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phía Bắc: Số liệu báo cáo của Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về các vụ và số lượng ma túy bắt được, Số vụ giám định của Viện KHHS từ năm 2008-2012
- Phía Nam: Số liệu báo cáo của Phân viện KHHS, và 7 tỉnh thành phố phía Nam: Cà Mau, An Giang, Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu từ 2008-2012
2.1.2 Nguyên vật liệu nghiên cứu
Trang 34- Ninhydrin 1% trong aceton
- Hoá chất được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Các hóa chất sử dụng Hóa chất Độ tinh khiết Nơi cung cấp
Trang 352.1.3 Trang thiết bị
- Nồi cách thủy Memmert (Đức)
- Tủ sấy điều chỉnh nhiệt độ Memmert (Đức)
- Sắc ký lớp mỏng:
+ Bình triển khai sắc ký (10x22x22 cm): Desaga Heidelberg (Đức) + Bản mỏng silicagel: Merk 60 F254.105735, 20x20 cm
- Máy chụp ảnh ký thuật số Sony (Nhật)
- Quang phổ hấp thu tử ngoại: 3101PC của Shimadzu (Nhật)
- Cân phân tích Toledo độ nhạy 0.1mg
- Quang phổ hồng ngoại NICOLET 670N-(USA)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành ba phương pháp:
- Nghiên cứu thống kê mô tả cắt ngang: Nhằm khảo sát, điều tra cơ bản dấu vết các chất ma túy, các chất gây nghiện các chất hướng thần và tiền chất thường gặp ở Việt Nam; xu hướng sử dụng ma túy ở Việt Nam Số liệu tính trung bình giữa 3 lần thực nghiệm
- Nghiên cứu hệ thống hóa các chất ma túy: Dựa trên tác dụng dược lý của các chất nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống các phương pháp nhận biết: Trên cơ sở các phương pháp nhận biết trong phòng thí nghiệm giám định các chất ma túy thường gặp, phân tích đối chiếu mẫu của Liên Hiệp Quốc và các mẫu thực tế
ở Việt Nam Từ đó, xây dựng dữ liệu chuẩn để nhận biết, đồng thời làm tài
Trang 36liệu so sánh trong công tác giám định ma túy Quá trình phân tích được tác giả
và cộng sự thực hiện tại Phân viện KHHS
2.2.1 Nghiên cứu thống kê mô tả cắt ngang
- Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu
- Dùng phiếu thu thập thông tin, số liệu
- Đối tượng khảo sát: Các mẫu ma túy thu thập từ các vụ án ma túy bắt được với hàng ngàn mẫu các loại ở các tỉnh phía Nam theo thực tế đã thu thập
từ năm 2003 đến 2012 , các vụ giám định ma túy ở Trung tâm giám định ma túy-Viện KHHS, Phân viện KHHS tại TP Hồ Chí Minh, phòng PC54 Công
an các tỉnh, thành phố từ 2008-2012: Cà Mau, An Giang,TP Cần Thơ, TP
Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu; các mẫu ma túy trong các vụ ma túy bắt được của Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy (C47)-Bộ Công an
- Phân tích dữ liệu qua mô tả, tương quan:
Tiến hành nghiên cứu định tính bằng cách khảo sát lấy ý kiến của các thành viên tham gia nghiên cứu Một số tài liệu, số liệu cần thu thập:
+ Số vụ án ma túy, số vụ giám định ma túy tại các địa phương và so sánh tình hình tội phạm ma túy giữa các địa phương
+ Số chất ma túy thường gặp trong các vụ án
+ Số lượng chất ma túy thu giữ được trong các vụ án
2.2.2 Nghiên cứu nhận biết
- Bước 1: Cảm quan
Quan sát và mô tả đặc điểm vật lý, tính chất bên ngoài như:
+ Dạng mẫu: Dạng cao mềm nâu đen, màu đen, thảo mộc, bột hay tinh thể, dạng viên nén, viên con nhộng, dạng tiêm, dạng dung dịch lỏng…
+ Màu sắc, kích thước, mùi, vị, trọng lượng, số lượng, qui cách đóng gói, logo, đồ bao gói, ký hiệu trên đồ bao gói, trên viên ma túy…
- Bước 2: Giám định xác định sơ bộ
Trang 37+ Tùy thuộc vào loại mẫu, dạng mẫu đã được mô tả ở bước 1 để tiến hành các phản ứng hóa học định tính sơ bộ
+ Mẫu thảo mộc: Soi kính hiển vi, sau đó thử phản ứng Fast blue B salt
để xác định sơ bộ
+ Mẫu cao, nhựa thử phản ứng tìm cần sa, thuốc phiện trước
+ Các mẫu khác thử lần lượt các nhóm phản ứng xác định định hướng ban đầu
+ Trong trường hợp các phản ứng không thể hiện rõ, thì chiết xuất theo quy trình để tìm định hướng chất phân tích
- Bước 3: Giám định định tính, định lượng
+ Các phương pháp định tính: Tùy theo mức độ được trang bị của các phòng thí nghiệm mà tiến hành sử dụng các phương pháp định tính bằng: Phương pháp quang phổ hấp thụ tử ngoại khả kiến, hồng ngoại, sắc ký khí, sắc ký khí ghép khối phổ, sắc ký lỏng, sắc ký lỏng ghép khối phổ
+ Các phương pháp định lượng: Sử dụng phương pháp sắc ký khí, sắc
ký lỏng
+ Sơ bộ giám định truy nguyên IP theo qui trình chiết, điều kiện phân tích, phần mềm xử lý số liệu riêng
- Bước 4: Đánh giá kết quả
+ Tổng hợp các dữ liệu phân tích, kết luận chất ma túy, hàm lượng (theo yêu cầu của điều tra, truy tố, xét xử)
+ Tổng hợp các dữ liệu phân tích vật lý, IP về thành phần các tạp chất, các sản phẩm trung gian trong mẫu, so sánh sự giống nhau giữa các mẫu theo phân tích IP và các đặc điểm vật lý để kết luận sự giống nhau giữa các mẫu với nhau và truy nguyên nguồn gốc
Quá trình nghiên cứu nhận biết chất ma túy được thực hiện theo sơ đồ 2.1
Trang 38Sơ đồ 2.1: 4 bước phân tích nhận biết các chất ma túy thường gặp
2.2.2.1 Phương pháp chiết mẫu
Một số mẫu như sái thuốc phiện, các sản phẩm cần sa cần phải chiết trước khi tiến hành các phương pháp phân tích [19], [34], [101]
- Chiết cần sa thảo mộc: Mẫu cắt nhỏ ngâm ngập bằng petrolium ether hoặc chloroform trong vòng từ 24-48 giờ Lọc lấy dịch chiết Bốc hơi dung môi hoặc để nguyên tiến hành phản ứng hóa học, chấm sắc ký lớp mỏng
- Chiết cocain từ lá coca: 1gam lá coca + 40 ml ethanol 95% ngâm nóng 15 phút, để nguội, lọc Dịch lọc bốc hơi- thêm 20ml chloroform và 10
ml dung dịch acid citric 1,5% (làm 2 lần) Lấy lớp nước chỉnh pH đến 8,2 bằng NaHCO3 và chiết bằng 20 ml CHCl3 (hai lần) Lấy lớp CHCl3 loại nước,
Bước 4: Đánh giá kết quả
- Kết luận chất ma túy, hàm lượng, truy nguyên nguồn gốc mẫu ma túy, sự giống nhau của các mẫu?
Trang 39loại Na2SO4 khan Bốc hơi dung môi đến khô Cắn Hòa tan cắn vào 2ml methanol dùng để bơm sắc ký khí, chấm sắc ký lớp mỏng
- Chiết xuất 9 -THC từ cần sa thảo mộc: Lắc 1 gam cần sa thảo mộc
đã nghiền nhỏ với 20 ml petrolieum ether trong 1 giờ Lọc-rửa cắn 2 lần với lượng nhỏ của petrolium ether Chuyển dịch lọc vào trong bình định mức 25ml Thêm petrolium ether đủ đến 25ml Lấy mẫu dung dịch để phân tích sắc ký khí, và sắc ký lớp mỏng
- Chiết morphin từ sái thuốc phiện, thuốc phiện hoặc các thành phẩm khác có thuốc phiện: Mẫu hòa tan trong môi trường HCl loãng (pH=2), lọc lấy dịch lọc, kiềm hóa dịch lọc bằng NaOH 0,1N đến pH=9,5 Chiết bằng dichloromethan Bốc hơi dung môi, cắn được dùng để định tính
- Chiết heroin từ mẫu hỗn hợp gửi giám định: Tiến hành tương tự như chiết morphin Dung môi sử dụng để chiết có thể thay thế bằng ether ethylic
- Chiết amphetamin.Tương tự như trên, dung môi thường sử dụng để chiết là ethylacetat
2.2.2.2 Nhận biết bằng phương pháp hóa học
a) Thuốc phiện
Nhận biết thuốc phiện bằng một số thuốc thử sau [19], [92]:
- Thuốc thử Marquis
+ Quan sát ở đáy đĩa lõm ngay sau khi tiến hành phản ứng
+ Kết quả: Màu tím đỏ đến tím: opium dương tính
- Thuốc thử Sắt sulfat
Kết quả: Màu đỏ nâu nhạt opium dương tính
- Thuốc thử Dragendorff
Kết quả: màu đỏ cam, đỏ gạch: opium dương tính
b) Đối với morphin, heroin, codein
Nhận biết bằng một số thuốc thử sau [19], [92]
- Thuốc thử Marquis
Trang 40- Thuốc thử acid nitric
Kết quả:
+ Màu vàng chuyển chậm dần sang xanh lá nhạt: heroin dương tính + Màu cam chuyển nhanh tới đỏ và sau đó chuyển chậm tới vàng: morphin dương tính
+ Màu cam chuyển chậm sang vàng: codein dương tính
- Thuốc thử Sắt sulfat
Kết quả: Màu đỏ chỉ định morphin dương tính
- Thuốc thử Dragendorff
Kết quả: Các chất nhóm opiat đều cho màu từ vàng cam đến đỏ cam
c) Đối với amphethamin, methamphetamin, MDMA, MDEA, MDA, ephedrin, pseudoephedrin, mescalin
Nhận biết bằng một số thuốc thử sau [19], [93]