1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

77 553 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN LẬP

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG

NGHỀ SẢN XUẤT ĐỒ MỘC MỸ NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN LẬP

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐƯA RA GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG

NGHỀ SẢN XUẤT ĐỒ MỘC MỸ NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Dương Văn Đoàn

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá thực trạng và đưa

ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” là công

trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự

hướng dẫn của Th.s Dương Văn Đoàn trong thời gian từ tháng 6/2014 đến

30/12/2014 Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình điều tra thực tế hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỉ luật của khoa và nhà trường đề ra

Thái Nguyên, tháng năm 2015

XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo, ngoài những kiến thức đã học về

lý thuyết mỗi sinh viên rất cần có cơ hội tiếp cận và làm quen với thực tế, thực hiện tốt việc “học đi đôi với hành” Qua đó, giúp sinh viên hoàn thiện về kiến thức, phương pháp làm việc, nghiên cứu khoa học

Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường và ban chủ nhiệm khoa

Lâm Nghiệp, em thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp

phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” Trong quá trình học

tập, rèn luyện và thực hiện khóa luận em được sự chỉ bảo của thầy cô giáo Khoa Lâm Nghiệp, các cán bộ thuộc phòng nông nghiệp huyện Phú Bình và các cô chú chủ cơ sở nghề ở Phú Bình, nhất là thầy giáo hướng dẫn Dương Văn Đoàn, đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ em suốt quá trình thực tập, điều tra thu thập số liệu phục vụ cho quá trình làm khóa luận và đạt được kết quả như mong muốn

Đến nay bản khóa luận đã hoàn thành, nhân dịp này em xin chân thành cảm ơn sự tất cả giúp đỡ quý báu đó

Do kiến thức của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót và các vấn đề còn tồn tại Vậy em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô giáo để khóa luận của em được hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 16 tháng 06 năm 2015

Hoàng Văn Lập

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Độ tuổi trung bình và trình độ của lao động 27

Bảng 4.2: Thời gian trong nghề của lao động tại các làng nghề năm 2013 28

Bảng 4.3: Bảng một công cụ chủ yếu trong nghề mộc mỹ nghệ tại huyện Phú Bình 30

Bảng 4.4: Bảng một số máy móc chủ yếu được áp dụng 31

Bảng 4.5: Một số loại nguyên liệu sử dụng phổ biến tại làng nghề 34

Bảng 4.6: Sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề 34

Bảng 4.7: Thu nhập của lao động chính tại làng nghề qua các năm 37

Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế của một số sản phẩm tiêu biểu 38

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Xưởng mộc tại An Châu 31

Hình 4.2: Máy Đa Năng 31

Hình 4.3: Máy Đục 31

Hình 4.4: Máy Xẻ 31

Hình 4.5: Bàn thờ tại An Châu 32

Hình 4.6: Tại Xuân Phương 32

Hình 4.7: Tại An Châu 33

Hình 4.8: Tại Phú Lâm 33

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BQL: Ban quản lý

CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

DNTN: Doanh nghiệp tư nhân

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.1.1 Ngành nghề nông thôn 4

2.1.2 Nghề truyền thống 5

2.1.3 Làng nghề 8

2.1.4 Làng nghề truyền thống 12

2.1.5 Làng nghề mới 14

2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 15

2.2.1 Trên thế giới 15

2.2.2 Ở Việt Nam 17

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 19

2.3.1 Điều kiện tự nhiên 19

2.3.2 Kinh tế - Xã hội 21

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 22

Trang 9

3.4.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 23

3.4.3 Phương pháp lấy thông tin dữ liệu 23

3.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 23

3.4.5 Phương pháp đánh giá 24

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Lịch sử phát triển của 3 làng nghề 25

4.1.1 Làng nghề mộc mỹ nghệ Xuân Phương 25

4.1.2 Làng nghề mộc mỹ nghệ An Châu 25

4.1.3 Làng nghề mộc mỹ nghệ Phú Lâm 26

4.2 Thực trạng phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ tại Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên hiện nay 27

4.2.1 Thực trạng lao động tại các làng nghề 27

4.2.2 Thực trạng sử dụng nguồn vốn 29

4.2.3 Những công nghệ kỹ thuật hiện nay 29

4.2.4.Thực trạng về sản phẩm 32

4.2.5 Thực trạng nguồn nguyên liệu sử dụng tại làng nghề 33

4.2.6 Thực trạng về thị trường tiêu thụ 34

4.2.7 Những chính sách hiện nay 35

4.2.8 Thu nhậpcủa lao động tại làng nghề 37

4.2.9 Hiệu quả sản xuất mộc mỹ nghệ 37

4.3 Những thuận lợi khó khăn của người dân trong sản xuất mộc mỹ nghệ và làng nghề 39

4.3.1 Thuận lợi 39

4.3.2 Khó khăn 40

4.4 Một số giải pháp thực hiện góp phần phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ 41

4.4.1 Giải pháp liên quan đến chính sách 41

Trang 10

4.4.2 Giải pháp để hoàn thiện kết cấu hạ tầng 42

4.4.3 Giải pháp hoàn thiện các yếu tố đầu vào 43

4.4.4 Giải pháp thị trường cho các sản phẩm của làng nghề 47

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 11

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Phát triển công nghiệp nông thôn là một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn mới

ở Việt Nam Có hai phương thức cơ bản để thực hiện chủ trương này: một là xây dựng các cụm công nghiệp hoặc cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; hai là phát triển các làng nghề và ngành nghề ở nông thôn Phát triển các làng nghề và ngành nghề nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và cũng là thực hiện mục tiêu “ly nông bất ly hương” đang diễn ra mạnh mẽ tại các vùng nông thôn ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Với mục tiêu phát triển ngành nghề nông thôn nhằm giải quyết việc làm cho người dân, tăng giá trị sản phẩm các ngành nghề ở nông thôn, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Quyết định số 1969/2011/QĐ - UBND ngày 08 tháng 8 năm 2011 về việc ban hành phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011-2015

Trong những năm gần đây, mặc dù chính quyền huyện đã có những chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nhưng các làng nghề vẫn gặp nhiều khó khăn: Thiết bị và công nghệ chưa được đầu

tư đúng mức; năng suất lao động thấp; chất lượng và mẫu mã của sản phẩm đáp ứng chưa cao thị hiếu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng; trình độ tay nghề người lao động chưa được chú trọng đào tạo và nuôi dưỡng; thu nhập trong các làng nghề và các cơ sở sản xuất chưa đủ sức thu hút người lao động đặc biệt đối với lao động có tay nghề cao và các nghệ nhân; môi trường tại các làng nghề và nhiều cơ

sở sản xuất chưa được quan tâm đúng mức; mặt bằng và vốn cho sản xuất đang là nhu cầu cấp thiết của nhiều cơ sở sản xuất; thị trường tiêu thụ còn hẹp, thương hiệu

Trang 12

hàng hoá và công tác quảng cáo chưa được đầu tư thoả đáng Do đó chưa tạo điều kiện để thu hút hết lực lượng lao động cũng như sử dụng hết khả năng tay nghề của người thợ nhằm phát huy tối đa tiềm năng kinh tế vốn có của tỉnh

Mặt khác, cùng với sự tăng trưởng kinh tế là quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, hiện tượng người lao động từ các làng quê huyện Phú Bình dịch chuyển ra các thành phố lớn là rất lớn Vì vậy, việc phát triển các nghề và làng nghề nông thôn cũng như các làng nghề mới có ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt kinh tế mà còn góp phần ổn định chính trị xã hội

Vì vậy, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, dưới sự

hướng dẫn của thầy giáo Th.s Dương Văn Đoàn đề tài “Đánh giá thực trạng

và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”

được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm

phát triển nghề và làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong xây dựng nông thôn mới huyện Phú Bình là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao trong việc góp phần phát triển kinh tế-xã hội huyện, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà cụ thể là phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ ở huyện Phú Bình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu lịch sử phát triển của 3 làng nghề

- Đánh giá được thực trạng sản xuất hiện nay của các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ tại huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên

- Những thuận lợi, khó khăn của người dân trong sản xuất mộc mỹ nghệ và làng nghề

- Đưa ra được các giải giải pháp góp phần phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ của địa phương nhằm thực hiện mục tiêu chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới

Trang 13

1.3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên vận dụng được những kiến thức

đã học vào thực tế

- Ý nghĩa trong thực tiễn: Việc đánh giá được thực trạng phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ tại địa phương sẽ tìm ra được những tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển các làng nghề mỹ nghệ của huyện và từ

đó có thể đưa ra những giải pháp khả thi để giải quyết những khó khăn trong quá trình phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ của huyện trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 cơ sở khoa học

2.1.1 Ngành nghề nông thôn

Theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ thì ngành nghề nông thôn bao gồm:

- Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản

- Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ mộc, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ

- Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn

- Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ

- Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh

- Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn

- Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn

Hoạt động theo các loại hình tổ chức sản xuất sau:

+ Cơ sở ngành nghề nông thôn bao gồm:

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

- Hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã;

- Hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh

+ Các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn

Ngành nghề TTCN nông thôn có những đặc điểm sau:

- Ngành nghề TTCN nông thôn là những hoạt động sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn

Trang 15

- Sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thủ công kết hợp với nửa cơ khí có sự thống nhất và hoà đồng giữa công nghiệp phát triển thành thị với TTCN ở nông thôn

- Lao động nông nghiệp và ngành nghề TTCN gắn kết chặt chẽ với nhau: nông dân vừa làm nông nghiệp vừa tranh thủ làm TTCN và ngành nghề TTCN mặc dù tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn

- Công cụ và kỹ thuật sản xuất thường thủ công và sản phẩm được sản xuất ra mang tính đơn chiếc

2.1.2.1 Khái niệm và đặc trưng

Truyền thống là thuật ngữ dùng để chỉ các giá trị, yếu tố, quan niệm của một cộng đồng người hay của xã hội lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác Truyền thống thể hiện tính kế thừa là chủ yếu, tuy nhiên cũng có sự phát triển theo lịch sử Truyền thống được biểu hiện ở hình thức như truyền thống học tập, lễ hội truyền thống, truyền thống dòng họ, ngành nghề truyền thống

Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.”

Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là: phải có kỹ thuật

và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành

Trang 16

nghề Sản phẩm làm ra phải có tính hàng hoá, đồng thời có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc

Những nghề truyền thống thường được truyền trong một gia đình, một dòng họ, một làng, một vùng Trong những làng nghề truyền thống, đa số người dân đều hành nghề truyền thống đó Ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác, những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với nghề truyền thống

Ngày nay, việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên vật liệu mới Do vậy khái niệm nghề truyền thống cũng được nghiên cứu và mở rộng hơn

2.1.2.2 Phân loại nghề truyền thống

Hiện nay ở nước ta tồn tại nhiều nghề truyền thống khác nhau, phân bố khắp nơi trong cả nước, được tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng Việc phân loại các nhóm nghề tương đối khó khăn, nó chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi vì một số người có thể vừa thuộc nhóm này song cũng có thể vừa thuộc nhóm khác Mặt khác, một số nghề đối với địa phương được coi là nghề truyền thống, nhưng trên phạm vi vĩ mô có thể chưa được gọi là nghề truyền thống Có nhiều cách phân loại nghề, tuy nhiên có thể xem xét một số cách như sau:

a) Phân loại theo trình độ kĩ thuật:

- Loại nghề có kĩ thuật đơn giản như đánh sợi, đan võng xã Đức Chánh (Mộ Đức), sản xuất chổi đót ở Phổ Phong (Đức Phổ), sản xuất bánh tráng Thi Phổ, sản xuất gạch ngói Đức Nhuận (Mộ Đức)… sản phẩm của những nghề này

có tính chất thông dụng, phục vụ nhu cầu hằng ngày của dân cư nông thôn

- Loại nghề có kĩ thuật phức tạp như gốm Chẩu Ổ (Bình Sơn), gốm Phổ Khánh (Đức Phổ), đúc đồng xã Đức Hiệp (Mộ Đức).v.v các nghề này không chỉ có kĩ thuật công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi nhiều ở người thợ sự sáng tạo và khéo léo Sản phẩm có giá trị kinh tế, vừa mang tính văn hóa; không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn có thể xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới

Trang 17

b) Phân loại theo tính chất kinh tế:

- Loại nghề thường phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, đây là nghề phụ của hầu hết gia đình nông dân, sản phẩm ít mang tính chất hàng hóa, chủ yếu là phục vụ nhu cầu tại chỗ như: chế biến nông sản, sản xuất công cụ như cày bừa, liềm hái.v.v

- Loại nghề mà hoạt động của nó độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp, những nghề này được phát triển bởi sự tiến bộ của trình độ kĩ thuật công nghệ và trình độ tay nghề của người thợ, sản phẩm thể hiện tài năng sáng tạo và sự khéo léo của người thợ, đặc biệt sản phẩm tạo ra trở thành hàng hóa, đem lại thu nhập cao cho người sản xuất, tiêu biểu là: nghề dệt, gốm sứ, kim hoàn

Tuy nhiên, cách phân loại trên chỉ phụ thuộc trong điều kiện trước đây, ngày nay trong nền kinh tế thị trường, nhiều nghề đã phát triển mạnh Dựa vào giá trị sử dụng của các sản phẩm, có thể phân loại các ngành nghề truyền thống theo các nhóm chính như sau:

+ Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm

2.1.2.3 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống

Nghề được công nhận là nghề truyền thống (theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phải đạt 03 tiêu chí sau:

Trang 18

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc

- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

2.1.3 Làng nghề

2.1.3.1 Khái niệm và đặc trưng

Thôn, làng là một thuật ngữ dùng để chỉ một đơn vị hành chính ở nông thôn bao hàm là một tập hợp cộng đồng dân cư trên một vùng lãnh thổ xác định, có khả năng độc lập về kinh tế Trong điều kiện chống lại ngoại xâm, thiên tai thì họ là một cộng đồng thống nhất Họ còn là một cộng đồng văn hóa gắn liền với biểu tượng cây đa, giếng nước, sân đình

Làng, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, là một khối người quây quần ở một nơi nhất định trong nông thôn Làng là một tế bào của xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất Trong quá trình đô thị hóa, khái niệm làng được hiểu một cách tương đối Một số địa phương hiện nay không còn được gọi là làng

mà thay vào đó là những tên gọi khác như phố, khối phố Tuy nhiên, dù tên gọi là có thay đổi nhưng bản chất của cộng đồng dân cư đó vẫn gắn với nông thôn thì vẫn được xem là làng

Các làng ở nước ta được chia làm 4 loại chính:

- Làng thuần nông hay còn gọi là làng nông nghiệp, là những làng nghề nông một cách thuần túy

- Làng buôn bán, là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán của một số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp

- Làng nghề, là làng làm nghề nông nghiệp nhưng có thêm một số nghề thủ công mỹ nghệ

Trang 19

- Làng chài, là làng của các cư dân làm nghề chài lưới, đánh cá sống ở ven sông, ven biển

Sự xuất hiện của các nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghệ phụ, chủ yếu được nông dân tiến hành trong lúc nông nhàn Về sau, do quá trình phân công lao động, các ngành nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, khi đó người thợ thủ công có thể không còn sản xuất nông nghiệp nhưng họ vẫn gắn chặt với làng quê mình Khi nghề thủ công phát triển, số người chuyên làm nghề thủ công

và sống được bằng nghề này tăng lên, điều nay diễn ra ngay trong các làng quê và đó là cơ sở cho sự tồn tại của các làng nghề ở nông thôn

Từ những quan điểm và lý luận trên đã có nhiều định nghĩa về làng nghề được đưa ra Đề tài sử dụng khái niệm làng nghề theo Thông tư 116/2006/TT- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề

là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, bản, ấp, buôn, làng, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”

Thực tế cho thấy “Làng nghề” là một tập hợp từ thể hiện một không gian vùng quê nông thôn, ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định sinh sống Ngoài sản xuất nông nghiệp, họ còn có một số nghề sản xuất phi nông nghiệp Trong các làng nghề này tồn tại đan xen nhiều mối quan hệ kinh

tế, xã hội phong phú và phức tạp Làng nghề là những làng ở nông thôn có những nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập

so với nghề nông

Như vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa”

Trang 20

Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành

và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng nghề mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số dân số của làng

Ngày nay, làng nghề được hiểu theo nghĩa rộng, không bó hẹp trong phạm vi hành chính của một làng mà gồm một hoặc một số làng cùng một tiểu vùng, cùng địa lí kinh tế, cùng sản xuất một chủng loại hàng hóa truyền thống hoặc cùng kinh doanh liên quan đến một nghề phi nông nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau về kinh tế - xã hội

Mặt khác, có những địa phương tất cả các làng trong xã đều là làng nghề, trong trường hợp này, người ta còn gọi là “ xã nghề” Ngành nghề phi nông nghiệp ở các làng nghề cũng đã được mở rộng, bao gồm các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống có quy mô vừa và nhỏ, với các thành phần kinh

tế và các tổ chức kinh doanh như: những hộ sản xuất, tổ hợp, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần

2.1.3.2 Tiêu chí phân loại làng nghề

Cũng như phân loại nghề, việc phân loại làng nghề gặp nhiều khó khăn bởi tính đa dạng về quy mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành; có thể phân loại làng nghề theo các tiêu chí sau:

a) Theo lịch sử hình thành và phát triển các làng nghề:

- Làng nghề truyền thống;

- Làng nghề mới

Trang 21

b) Theo ngành nghề sản xuất kinh doanh:

- Làng nghề TTCN như: dệt, gốm sứ, mây tre đan, đồ mộc mỹ nghệ.v.v

- Làng nghề công nghiệp cơ khí, chế tác như: chế tác vàng bạc, dát vàng, gia công tái chế sắt thép.v.v

- Làng nghề xây dựng

- Làng nghề dịch vụ

c) Theo quy mô làng nghề:

- Làng nghề quy mô lớn, lan tỏa, liên kết nhiều làng làm cùng một nghề hoặc cùng một không gian địa lí lãnh thổ, tạo thành vùng nghề hoặc xã nghề ở

đó các làng nghề, có quy mô lao động phi nông nghiệp rất là lớn, không chỉ với lực lượng lao động tại chỗ mà còn thu hút nhiều lao động từ nơi khác đến làm thuê;

- Làng nghề quy mô nhỏ, là trong phạm vi một làng theo địa giới hành chính Ở các làng nghề này thường hoạt động kinh doanh một ngành nghề phi nông nghiệp, được truyền nghề theo phạm vi dòng tộc

d) Theo loại hình kinh doanh của làng nghề có tính phổ biến ở Việt Nam:

- Các làng nghề truyền thống chuyên kinh doanh một chủng loại sản phẩm hàng hoá;

- Các làng nghề kinh doanh tổng hợp một số sản phẩm truyền thống;

- Các làng nghề vừa chuyên doanh các sản phẩm truyền thống vừa phát triển các ngành nghề mới như dịch vụ, xây dựng Loại làng nghề này phát triển mạnh trong những năm gần đây

e) Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề:

- Các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp vừa kinh doanh các ngành nghề phi nông nghiệp;

- Các làng nghề thủ công chuyên nghiệp

Trang 22

- Các làng nghề sản xuất các mặt hàng xuất khẩu

“Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành

từ lâu đời”

Như vậy có thể hiểu về làng nghề truyền thống, trước hết nó được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi hội tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề,

là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm các nghề truyền thống lâu đời, giữa họ

có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc

Như vậy làng nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian vẫn duy trì và phát triển, được lưu truyền từ đời này qua đời khác Trong các làng nghề truyền thống thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha

Trang 23

truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được thực hiện bằng phương pháp truyền nghề

2.1.4.2 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định

Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn (1), (2) của tiêu chí công nhận làng nghề nêu trên nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định thì cũng được công nhận là Làng nghề truyền thống

2.1.4.3 Tiêu chuẩn công nhận nghệ nhân

Thông tư liên tịch số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT ngày 30/5/5002 giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Lao động –TBXH và Bộ Văn hoá-Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) hướng dẫn về tiêu chuẩn, thủ tục xét công nhận danh hiệu và một số chính sách đối với nghệ nhân Trong đó, công dân Việt Nam làm việc trong các ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam được xét danh hiệu nghệ nhân nếu đủ các điều kiện sau:

+ Là người thợ giỏi, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, có khả năng sáng tác mẫu mã và sao chép mẫu đạt trình độ nghệ thuật cao mà người thợ bình thường khác không làm được

+ Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, và pháp luật, của nhà nước đưa ra, có phẩm chất đạo đức được những người trong nghề, trong lĩnh vực người đó hoạt động tôn vinh, công nhận

+ Có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao, đoạt huy chương vàng, huy chương bạc trong các cuộc thi, các triển lãm quốc gia hoặc quốc tế

Đối với những người không có điều kiện tham gia các cuộc thi, triển lãm thì phải có tác phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao được Hội đồng cấp Trung ương xét công nhận danh hiệu Nghệ nhân công nhận tương đương;

Trang 24

+ Người Có công đóng góp trong việc giữ gìn, phát triển, đào tạo và truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ

Thông tư số 01/2007/TT-BCN ngày 11/1/2007 của Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) hướng dẫn về các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và

hồ sơ xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú; trong đó đối tượng được đề nghị xét tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú phải đạt các tiêu chuẩn sau:

+ Trung thành với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, tận tụy với nghề, gương mẫu, thực sự là tấm gương sáng cho mọi người và đồng nghiệp noi theo;

+ Là người thợ giỏi tiêu biểu được đồng nghiệp thừa nhận, có thâm niên trong nghề tối thiểu 15 năm, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp điêu luyện, sáng tác thiết kế được trên 10 mẫu sản phẩm đạt trình độ nghệ thuật cao đã trực tiếp làm ra trên 15 tác phẩm có giá trị kinh tế, kỹ thuật, mỹ thuật;

+ Là người có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong ngành và xã hội:

+ Có nhiều thành tích trong việc giữ gìn và phát triển, truyền nghề, dạy nghề cho trên 100 người, sáng tạo và phát triển ngành nghề thủ công

Trang 25

Ngay các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống

Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đã xuất hiện các làng nghề có tính hiện đại, trong đó đặc trưng bởi sự phát triển kinh doanh dịch

vụ và xây dựng, kinh doanh đa ngành nghề; đồng thời, do quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ ở các làng nghề, kỹ thuật và công nghệ sản xuất không đơn thuần chỉ là kĩ thuật thủ công, mà có nhiều nghề, nhiều công đoạn sản xuất áp dụng kĩ thuật và công nghệ hiện đại như mộc, thịt bò khô, sản xuất gạch, ngói.v.v

Trong các phần tiếp theo của phần 2, các thuật ngữ nghề, nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống được gọi chung là làng nghề

nơi tôn nghiêm như đình chùa Các sản phẩm của làng nghề mang tính chủ quan sang tạo, hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ và bàn tay khéo léo của người thợ Dưới bàn tay tài hoa của người thợ thủ công, một số sản phẩm thủ công mỹ nghệ đạt độ tinh xảo điêu luyện, có giá trị nghệ thuật cao

Do đặc điểm sản xuất kinh doanh nên sản phẩm của làng nghề in đậm dấu ấn người thợ nên khó sản xuất đại trà, mà chỉ sản xuất đơn chiếc Nhược điểm này làm cho làng nghề khó đáp ứng đơn đặt hàng lớn do chất lượng sản

Trang 26

Chính phủ Ethiopia đã thông qua chiến lược công nghiệp hoá phát triển nông nghiệp (ADLI), đóng vai trò làm khung cho qui hoạch đầu tư nông thôn trong các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nghiên cứu và mở rộng Kế hoạch phát triển bền vững và nhanh chóng để chấm dứt đói nghèo có 70% người dân nông thôn được tổ chức theo hợp tác xã, 200 điểm cung cấp thông tin thị trường cấp huyện và 20 trung tâm ở vùng sâu vùng xa của Ethiopia đã được dựng lên; 25 trung tâm giáo dục và đào tạo nghề ra đời; 55.000 công nhân được đào tạo; 18.000 trung tâm đào tạo cho nông dân được lập lên; 10 triệu người được đào tạo; làm giảm khoảng cách đi bộ trung bình trên mỗi con đường xuống còn 3,2 giờ; 8 triệu đường dây điện thoại (cố định, không dây và

di động) và tăng dịch vụ truyên thông và công nghệ thông tin

Việc mở rộng cơ sở hạ tầng này thực hiện theo cấp số nhân Thay đổi cách sống của người dân vùng nông thôn, đặc biệt là bằng cách giúp họ có thể sử dụng được các thiết bị máy móc hiện đại và kết nối họ với thế giới hiện đại

Dưới sự tài trợ của Tổ chức Rockefeller, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Cộng đồng (Trung Quốc) đã nghiên cứu về Tìm hiểu và Thương mại hóa nghề thủ công ở tỉnh Vân Nam Mục đích của dự án là cải thiện thu nhập của phụ nữ ở huyện miền núi Malutang bằng cách thương mại hóa sản phẩm thêu truyền thống Đầu tiên, họ triển khai thu thập toàn bộ mẫu thêu truyền thống

và thay đổi sao cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay Sau

đó, những người phụ nữ tham gia dự án sẽ được huấn luyện kỹ thuật gia công, tạo mẫu để có thể sản xuất ra những sản phẩm chất lượng cao và tiêu thụ tốt trên thị trường Cuối cùng, dự án đưa ra khung chi phí hợp lý về sản phẩm do những người tham gia dự án thực hiện; bao gồm: số lượng nguyên vật liệu, thời gian và giá cả có thể tạo thu nhập cao Dự án thành công và được chuyển giao đến những huyện vùng núi khác ở tỉnh Vân Nam Làng Malutang trở thành một địa phương nổi tiếng về mặt hàng thêu truyền thống

Trang 27

So với các quốc gia trên thế giới, Trung Quốc là nước có lịch sử phát triển đồ mộc thủ công mỹ nghệ lâu đời Trung Quốc là đất nước có một nền văn minh sớm và rất phát triển Xã hội Trung Quốc thăng trầm qua các triều đại từ Thương Chu đến Tam Quốc và đến mãi sau này là các đời nhà Nguyên, Minh, Thanh Cùng với sự thay đổi phương thức sinh hoạt của con người, trình

độ của xã hội, thì đồ thủ công mỹ nghệ cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện theo Đến cuối đời Minh đầu đời Thanh thì đồ thủ công mỹ nghệ Trung Quốc đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật và kỹ thuật mà từ trước chưa từng có

2.2.2 Ở Việt Nam

“Nghiên cứu qui hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn Việt Nam” của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002) đã đạt được một số kết quả sau:

+ Lập bản đồ ngành nghề thủ công trên toàn quốc

+ Đánh giá hiện trạng các mặt hàng thủ công như: cói, sơn mài, chạm khắc đá

+ Đánh giá hiện trạng các vấn đề nguyên liệu, điều kiện làm việc, tài chính, vốn

+ Đặc biệt, đưa ra vấn đề hỗ trợ của chính phủ cho sản xuất nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Sự hỗ trợ trên các phương diện: hỗ trợ trực tiếp vốn, hỗ trợ gián tiếp về thực hiện thương mại bình đẳng, năng lực quản lý kinh doanh

Trong nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Trí Dĩnh (2005) đã phân tích vai trò của làng nghề và những nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề Dựa trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề đề tài đã đi sâu khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề ở đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến nay Từ đó, đề xuất

hệ quan điểm và các giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế, nâng cao sức cạnh

Trang 28

tranh và tính hiệu quả của các làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới

Trong nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh và Nguyễn Thu Hoà (2005), các tác giả đã nêu một cách tổng quan những xu hướng phát triển của các nghề phi nông nghiệp và các làng nghề ở nông thôn Việt Nam Phân tích các đặc điểm và tác động của sự phát triển làng nghề phi nông nghiệp và các làng nghề đối với những thay đổi về kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là tác động đối với nhóm những hộ nghèo ở nông thôn Trên cơ sở phân tích đó, đề xuất những kiến nghị trong phát triển và quản lý các nghề phi nông nghiệp và các làng nghề nhằm giảm nghèo nói riêng và đảm bảo sự phát triển của nông thôn Việt Nam

Nói đến đồ mộc truyền thống ở Việt Nam, trước hết phải nói tới nghề chạm khắc gỗ Nó được phát triển từ lâu đời, và gắn liền với lịch sử của dân tộc Từ khi dựng nền độc lập, thoát ra khỏi ách đô hộ của phong kiến Phương Bắc, các triều đại phong kiến Việt Nam, tuỳ từng lúc mạnh yếu khác nhau, nhưng đều đã tạo điều kiện cho nghề chạm khắc gỗ phát triển, vì chúng đã đóng góp một cách tích cực vào việc xây dựng đền thờ, miếu mạo, cung đình, dinh thự…Các triều đại phong kiến lớn ở Việt Nam từ Nhà Đinh, Nhà Tiền

Lê, Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Hậu Lê, Nhà Hồ, Nhà Mạc, và Nhà Nguyễn đều

có những di sản chạm khắc gỗ độc đáo Điều đó chứng tỏ rằng ở nước ta nghề chạm khắc gỗ là một nghề đã được phát triển từ lâu đời Kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong việc chế tác các sản phẩm

gỗ chạm khắc mang những nét đặc trưng về văn hoá của dân tộc Với kinh nghiệm sử dụng gỗ từ lâu đời; Với việc sử dụng các công cụ thủ công chuyên dùng tinh xảo; Với những thủ pháp công nghệ có nhiều kinh nghiệm thực tế; Cùng với bàn tay tài hoa của con người Việt Nam, nghề chạm khắc gỗ nước

ta ở mọi thời đại đã tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị sử dụng và giá trị thẩm

Trang 29

mỹ cao, đồng thời cũng đã xuất hiện nhiều nghệ nhân nổi tiếng ở các làng nghề Một số làng nghề sản xuất đồ gỗ chạm khắc và khảm trai truyền thống nổi tiếng ở Miền Bắc như Đồng Kỵ ở Bắc Ninh; La Xuyên ở Nam Định; Vạn Điểm, Đỗ Xá, Võ Lăng, Dư Dụ, Sơn Đồng, Bương, Chuyên Mỹ ở Hà Tây Ngoài ra, trong phạm vi cả nước, cũng còn nhiều vùng khác có các làng nghề chạm khắc gỗ nổi tiếng Tại khu vực Miền Trung, Huế và Hội An là những nơi có khá nhiều đồ mộc chạm khắc truyền thống Tương tự, ở Nam Bộ, một

số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ như Bình Dương, Đồng Nai, Sài gòn, Bà Rịa cũng như nhiều tỉnh của Miền Nam đều có không ít các làng nghề và nghệ nhân chạm khắc gỗ được nhiều người biết đến Sản phẩm mộc chạm khắc truyền thống của các làng nghề rất đa dạng và mỗi làng nghề phát triển theo một thế mạnh riêng về khía cạnh chuyên môn hoá theo loại hình sản phẩm và công nghệ truyền thống

2.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên

2.3.1.1.Vị trí địa lí

Phú Bình là một huyện trung du, địa đầu phía đông nam của tỉnh thái nguyên, huyện lị đặt tại thị trấn Úc Sơn, cách thành phố Thái Nguyên 28 km theo quốc lộ 37 Phía đông giáp huyện yên thế; phía nam giáp huyện Hiệp Hòa(Bắc Giang); phía bắc và phía tây giáp huyện Đồng Hỷ, phía tây và phía nam giáp huyện Phổ Yên, có tọa độ địa lí từ 21 độ 23 phút 33 giây đến 21 độ

35 phút 22 giây độ vĩ bắc, giữa 105 độ 51 phút đến 106 độ 02 phút kinh đông

2.3.1.2 Về địa hình

Địa hình của Phú Bình thuộc nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng và nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng Bắc Bộ, với độ cao địa hình 10-

Trang 30

15m Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện

tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20-30m và phân bố dọc sông Cầu

2.3.1.4 Khí hậu và thời tiết

Khí hậu của Phú Bình mang đặc tính của khí hậu của miền núi trung du Bắc Bộ Khí hậu của huyện thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng tư năm sau Mùa hè có gió Đông Nam mang về khí hậu ẩm ướt Mùa đông có gió mùa Đông Bắc, thời tiết lạnh và khô

Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện giao động khoảng 23,1o – 24,4oC Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6 – 28,9oC) và tháng lạnh nhất (tháng 1 – 15,2oC) là 13,7oC Tổng tích ôn hơn 8.000oC Tổng giờ nắng trong năm giao động từ 1.206 – 1.570 giờ Lượng bức xạ 155Kcal/cm2

Lượng mưa trung bình năm khoảng từ 2.000 đến 2.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Độ ẩm trung bình hàng năm khoảng 81-82% Độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8 và thấp nhất vào tháng 11, 12

Có thể nói điều kiện khí hậu – thủy văn của Phú Bình khá thuận lợi cho việc phát triển các ngành nông, lâm nghiệp với các cây trồng vật nuôi thích hợp với địa bàn trung du

Trang 31

2.3.2 Kinh tế - Xã hội

2.3.2.1 Về lĩnh vực kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11%, cơ cấu kinh tế dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 20 triệu đồng /người/ năm, kết cấu hạ tầng xã hội được quam tâm, đầu tư xây dựng theo

hướng nông thôn mới

2.3.2.2 Về lĩnh vực xã hội

Cùng với kinh tế, lĩnh vực xã hội được quan tâm, chú trọng và phát triển

về mọi mặt, đặc biệt là về giáo dục và y tế đều được đầu tư theo hướng đạt chuẩn quốc gia, số trường đạt chuẩn quốc gia năm 2013 là 38/63 trường; số

xã đạt chuẩn về y tế là 21/21 xã, thị trấn, các chính sách xã hội được quan tâm, giải quyết kịp thời, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên Giải quyết việc làm mới dự ước 2.900/2800 người, đạt 104% kế hoạch giao, đào tạo nghề ngắn hạn cho khoảng 1.200/1.100 lao động ở nông thôn, đạt 109% kế hoạch huyện giao giảm tỷ lệ hộ nghèo ước đạt 3%, hoàn thành

kế hoạch đề ra, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững, chính sách xã hội được thực hiện có hiệu quả, công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm được quan tâm

Trang 32

PHẦN 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động sản xuất tại các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Tháng 6/2014 đến tháng 12/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu lịch sử phát triển của 3 làng nghề

- Đánh giá thực trạng sản xuất của các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ tại Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên hiện nay

- Những thuận lợi, khó khăn của người dân trong sản xuất mộc mỹ nghệ và làng nghề

- Đưa ra các giải pháp thực hiện góp phần phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làng nghề huyện phú bình giai đoạn 2011 - 2015

Trang 33

- Báo cáo kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề huyện Phú Bình giai đoạn 2011 - 2013

- Báo cáo kết quả kinh tế xã hội huyện Phú Bình

3.4.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra

- Chọn mẫu điều tra

+ Chọn hộ: chọn ngẫu nhiên các hộ sản xuất mộc mỹ nghệ trên địa bàn nghiên cứu

+ Chọn 90 hộ điều tra, ( trong khu quy hoạch làng nghề 30 hộ, 60 hộ nằm ngoài khu quy hoạch) tìm hiểu các hộ làm nghề, các nghệ nhân, hộ nghành nghề khác để so sánh hiệu quả của nghề mộc mỹ nghệ, lấy ý kiến của các hộ

+ Chọn một số hộ kinh doanh sản phẩm Mộc – mỹ nghệ để phỏng vấn lấy thông tin

3.4.3 Phương pháp lấy thông tin dữ liệu

Trong quá trình nghiên cứu có hai cấp độ thông tin ta cần thu thập

- Thông tin cá nhân:

Phỏng vấn bán cấu trúc có sử dụng phiếu câu hỏi nhằm điều tra đánh giá

về nội dung, các phương pháp, các phỏng vấn trên các đối tượng (cán bộ ban quản lý, các chủ các xưởng mộc)

3.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Tổng hợp số liệu đã điều tra khảo sát, phân tích hệ thống dữ liệu thu thập được

Trang 34

- Sử dụng bảng tính EXCEL với các hàm để tính toán

3.4.5 Phương pháp đánh giá

- Dựa trên những kết qua thu thập được tiến hành phân tích, đánh giá và đưa ra những giải pháp khắc phục và phát triển

- Sử dụng phần mềm Microsoft Word để tiến hành tổng hợp, phân tích

số liệu và viết báo

Trang 35

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Lịch sử phát triển của 3 làng nghề

4.1.1 Làng nghề mộc mỹ nghệ Xuân Phương

Hình thành và phát triển qua hơn 20 năm nay làng nghề Phương Độ xã xuân Phương huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khẳng định được tên tuổi thương hiệu của mình không chỉ đối với người dân địa phương

mà còn được nhiều địa phương khác biết tới như thành phố Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh… Làng nghề được hình thành trên cơ sở của 2 xóm Tân Sơn 8

và Tân sơn 9 của xã Xuân Phương Các sản phẩm của làng nghề ngày càng đa dạng hóa cho phù hợp với nhu cầu của thị trường trước có tính mỹ thuật cao,

có sự đầu tư tâm huyết và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào mỗi sản phẩm như giường, tủ, bàn, ghế… đến nay làng nghề Phương Độ đã mang lại việc làm ổn định và thường xuyên cho 83 hộ gia đình với khoảng 273 lao động

Làng nghề cũng được các cấp chính quyền quan tâm bằng việc năm

2009 UBND huyện có hướng dẫn lập sơ đồ làng nghề sau đó sở công thương tỉnh Thái Nguyên đã trình UBND tỉnh phê duyệt hồ sơ công nhận làng nghề cho: Làng nghề mộc mỹ nghệ Phương Độ Nghề mộc ở đây hình thành và phát triển trong những năm qua mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho người dân cũng như giúp chính quyền địa phương có hướng đi mới trong việc quy hoạch chính sách phát triển kinh tế của địa phương

4.1.2 Làng nghề mộc mỹ nghệ An Châu

Làng nghề mộc mỹ nghệ An Châu là làng nghề truyền thống trên 150

năm, sản phẩm của An Châu được người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh biết đến, hiện nay làng nghề mộc An Châu gồm 6/26 xóm là: Cũ, Trại, Ngọc Thượng, Thái Hòa, Cầu cái, Ngọc Hà với 22 xưởng mộc lớn nhỏ làm đồ gia công cho làng Nghề mộc Phú Lâm (Phú Bình), Đông Kị (Bắc Ninh), ngoài ra

Trang 36

còn có 4 tổ thợ lưu động (mỗi tổ 15 – 30 người hoạt động chế biến lâm sản, sản xuất sản phẩm thô, hoàn thiện các bộ phận lắp ghép hoàn thành sản phẩm mộc dân dụng và mỹ nghệ cao

Làng nghề cũng được các cấp chính quyền quan tâm bằng việc năm

2013 UBND huyện có hướng dẫn lập sơ đồ làng nghề sau đó sở công thương tỉnh Thái Nguyên đã trình UBND tỉnh phê duyệt hồ sơ công nhận làng nghề cho: Làng nghề mộc mỹ nghệ An Châu Nghề mộc ở đây hình thành và phát triển trong những năm qua mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho người dân cũng như giúp chính quyền địa phương có hướng đi mới trong việc quy hoạch chính sách phát triển kinh tế của địa phương

4.1.3 Làng nghề mộc mỹ nghệ Phú Lâm

Là một làng nghề mới được hình thành nhưng do nắm bắt được cơ hội phát triển làng nghề mộc Phú Lâm xã Kha Sơn huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khẳng định được tên tuổi thương hiệu của mình không chỉ đối với người dân địa phương mà còn được nhiều địa phương khác biết tới như thành phố Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh… Làng nghề thuộc xã Kha Sơn bên cạnh quốc lộ 37 Các sản phẩm của làng nghề ngày càng đa dạng hóa cho phù hợp với nhu cầu của thị trường trước đây từ những sản phẩm đơn giản nay đã chuyển sang những sản phẩm có tính mỹ thuật cao, có

sự đầu tư tâm huyết và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào mỗi sản phẩm như giường tủ, bàn ghế… đến nay làng nghề Phú Lâm đã mang lại việc làm ổn định và thường xuyên cho 46 hộ gia đình với khoảng 225 lao động

Làng nghề cũng được các cấp chính quyền quan tâm bằng việc năm

2010 UBND huyện có hướng dẫn lập sơ đồ làng nghề sau đó sở công thương tỉnh Thái Nguyên đã trình UBND tỉnh phê duyệt hồ sơ công nhận làng nghề cho: Làng nghề mộc mỹ nghệ Phú Lâm xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Nghề mộc ở đây hình thành và phát triển trong những năm qua

Trang 37

mang lại việc làm và thu nhập ổn định cho ngươi dân cũng như giúp chính quyền địa phương có hướng đi mới trong việc quy hoạch chính sách phát triển kinh tế của địa phương

4.2 Thực trạng phát triển các làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ tại Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên hiện nay

4.2.1 Thực trạng lao động tại các làng nghề

- Tuổi lao động trong làng nghề

Trong những năm gần đây khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm mộc mỹ nghệ ngày càng tăng lên, khi mà người ta biết nhiều đến sản phẩm mộc mỹ nghệ của Phú Bình nổi tiếng để tìm đến đặt hàng thì số hộ sản xuất trong các làng nghề tăng lên thì có một bộ phận lao động trước kia dời quê đi lập nghiệp giờ cũng ở lại quê hương mở xưởng sản xuất hay làm thuê cho các chủ xưởng trong làng Lao động sản xuất trong làng bao gồm nghệ nhân cao tuổi

và trung niên, chủ cơ sở và con cái của họ, công nhân làm thuê, một số người học nghề

Bảng 4.1: Độ tuổi trung bình và trình độ của lao động

n=90

1 Tuổi TB của chủ xưởng và lao động chính 46,8

(Nguồn: Số liệu điều tra, phụ biểu 1,2,3)

Qua khảo sát thấy các chủ xưởng sản xuất và các lao động chính đa số

ở độ tuổi trung niên và họ có thâm niên trong nghề cao nhưng trình độ học học vấn ở mưc thấp và trung bình, các đối tượng học nghề chủ yếu là các các

Trang 38

thanh thiếu niên chủ yếu ở độ tuổi 13-19 tuổi dang dở trong con đường học vấn mong muốn có một nghề để lập nghiệp

Bảng 4.2: Thời gian trong nghề của lao động tại các làng nghề năm 2013

Từ bảng số liệu ta thấy tỉ lệ lao động có thời gian trong nghề từ 5 năm trở lên chếm tỷ lệ là 68 % (trong đó tỷ lệ lao động có thời gian trong nghề 10 năm trở lên chiếm 49%) lớn hơn so với tỷ lệ lao động có thời gian trong nghề dưới 5 năm là 32% Điều này cho thấy số lao động có tay nghề cao ở Phú Bình chiếm một số lượng nhiều

Lao động trong làng nghề mộc phần lớn có tay nghề và kinh nghiệm lâu năm, lao động có trình độ chỉ chiếm một tỉ lệ lớn, nhưng một số lượng tuy nhiên hằng năm cứ dịp tết xong một lượng lớn lao động đổ ra các thành phố lớn làm việc cho các xưởng lớn ở trong đó, còn các nghệ nhân giỏi đã già yếu, một số lao động chưa được đào tạo một cách cơ bản, thợ trẻ thì thường thiếu kiến thức, thiếu sự hiểu biết về lý luận và thực tiễn, chủ yếu được hướng dẫn, truyền nghề theo kinh nghiệm Chưa kế tục hết kỹ thuật truyền thống nghề của những nghệ nhân có bàn tay vàng, trình độ tiếp thu khoa học kỹ thuật chưa cao

Ngày đăng: 17/02/2016, 09:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chính sách về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
9. “Nghiên cứu qui hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn Việt Nam” của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu qui hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn Việt Nam
14. Trần minh Yến, (2004), Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.II. Các tài liệu tham khảo từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Trần minh Yến
Năm: 2004
1. UBND huyện Phú Bình, Cổng Thông tin điện tử Tỉnh Thái nguyên http://huyenphubinh.gov.vn/Shop.cn/ChiTietTinTuc/gi-i-thi-u-chung/thong-tin-chung-ve-huyen-phu-binh/5036 [ngày truy cập 25/11/2014] Link
1. Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thu Hoà (2005), Tổng quan những xu hướng phát triển của các nghề phi nông nghiệp và các làng nghề ở nông thôn Việt Nam Khác
3. Báo cáo kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia việc làm và dạy nghề huyện Phú Bình giai đoạn (2011 – 2013) Khác
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ( Bộ NN và PTNT ) 2010. Báo cáo tình hình sản xuất tại các làng nghề Khác
6. Nguyễn Trí Dĩnh (2005), Phân tích vai trò của làng nghề và những nhân tố tác động đến sự phát triển của làng nghề Khác
7. Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làng nghề huyện phú bình giai đoạn (2011 – 2015) Khác
8. Nghị định 66/2006 NĐ – CP ngày 7/7/2006 về phát triển nghành nghề ở nông thôn Khác
10. Thông tư 116/2006/TT – BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, Làng nghề truyền thống Khác
11. Thông tư số 01/2007/TT-BCN ngày 11/1/2007 của Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) hướng dẫn về các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú Khác
12. Thông tư liên tịch số 41/2002/TTLT/BNN-BLĐTBXH-BVHTT ngày 30/5/5002 giữa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Lao động – TBXH và Bộ Văn hoá-Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) Khác
13. Bùi văn Vượng, (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2: Thời gian trong nghề của lao động tại các làng nghề năm 2013 - Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.2 Thời gian trong nghề của lao động tại các làng nghề năm 2013 (Trang 38)
Bảng 4.3: Bảng một công cụ chủ yếu trong nghề mộc mỹ nghệ tại huyện - Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.3 Bảng một công cụ chủ yếu trong nghề mộc mỹ nghệ tại huyện (Trang 40)
Bảng 4.4: Bảng một số máy móc chủ yếu được áp dụng - Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.4 Bảng một số máy móc chủ yếu được áp dụng (Trang 41)
Hình 4.5: Đồ gỗ tại An Châu       Hình 4.6: Đồ gỗ tại Xuân Phương - Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Hình 4.5 Đồ gỗ tại An Châu Hình 4.6: Đồ gỗ tại Xuân Phương (Trang 42)
Bảng 4.5: Một số loại nguyên liệu sử dụng phổ biến tại làng nghề  Loại gỗ  Giá cả (1000/m 3 )  Nguồn nhập về - Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.5 Một số loại nguyên liệu sử dụng phổ biến tại làng nghề Loại gỗ Giá cả (1000/m 3 ) Nguồn nhập về (Trang 44)
Bảng 4.6:  Sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề - Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.6 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề (Trang 44)
Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế của một số sản phẩm tiêu biểu - Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng nghề sản xuất đồ mộc mỹ nghệ trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế của một số sản phẩm tiêu biểu (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w