I/2014 không những chưa có sự cải thiện so với cùng kỳ nằm trước mà còn có dấu hiệu giảm sút cho thấy nền kinh tế chưa phục hồi rõ nét, nhu cầu tín dụng cho sản xuất kinh doanh của các d
Trang 1(Báo cáo phục vụ Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp năm 2014)
I - Tổng quan tình hình kinh tế xã hội và phát triển doanh nghiệp 1.1 Tổng quan tình hình kinh tế xã hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế
Tình hình kinh tế xã hội năm 2013 đã có chuyển biến tích cực, đúng hướng Trong tổng số 15 chỉ tiêu chủ yếu Nghị quyết Quốc hội đề ra trong kế hoạch năm 2013 có 10 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; 3 chỉ tiêu đạt xấp xỉ kế hoạch (tốc độ tăng trưởng GDP, tạo việc làm, tỷ lệ lao động qua đào tạo); 2 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch là tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP và tỷ lệ giảm hộ nghèo Năm 2013 đã cơ bản chặn được đà suy giảm tăng trưởng từ năm
2010 Tăng trưởng GDP cả năm đạt 5,42%, cao hơn mức tăng 5,25% của năm
2012, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 170,4 tỷ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 1.900 USD Lạm phát năm 2013 thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Chỉ số giá tiêu dùng đã giảm từ 18,13% năm 2011 xuống 6,81% năm 2012 và năm 2013 được kiểm soát ở mức 6,04% Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2013 tăng 5,9%, cao hơn mức tăng năm 20121
Thị trường tiền tệ cơ bản ổn định Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, thận trọng, vừa kiềm chế được lạm phát vừa từng bước hạ lãi suất, ổn định thị trường tiền tệ, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh Tổng phương tiện thanh toán (M2) năm 2013 tăng 18,5% so với cuối năm 2012, cao hơn so với định hướng từ 14-16% cho cả năm 2013 Xử lý nợ xấu của hệ thống
Trang 2ngân hàng đã đạt được kết quả bước đầu với việc xử lý được trên 101 nghìn tỷ đồng nợ xấu bằng dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng2
Cán cân thương mại thặng dư năm thứ hai liên tiếp Xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra với thị trường ngày càng được mở rộng
và đa dạng hoá, cơ cấu hàng hoá có sự đóng góp ngày càng nhiều của nhóm hàng công nghiệp chế biến Hoạt động nhập khẩu, nhất là nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ đầu tư và sản xuất kinh doanh được cải thiện Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 132,135 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012, nhập siêu giảm dần, năm 2010 là 12,6 tỷ USD, chiếm tới 17,4% tổng kim ngạch xuất khẩu, đến năm 2012 đã xuất siêu 749 triệu USD, chiếm 0,7% tổng kim ngạch xuất khẩu3
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2013 đạt 1.091,1 nghìn tỷ đồng, bằng 30,4% GDP, vượt kế hoạch đề ra (khoảng 30% GDP) Trong đó, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân là 410,5 nghìn tỷ đồng Trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và Việt Nam đã là nước có thu nhập trung bình nhưng kết quả vận động, thu hút và giải ngân các nguồn vốn ODA vẫn tăng mạnh đã đóng góp quan trọng làm tăng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội Tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi ký kết năm 2013 đạt 6,431 tỷ USD, tăng 9,07% so với năm 2012 Trong năm 2013, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm vốn FDI là 22,35 tỷ USD, tăng 35,9% so với năm 2012, số vốn giải ngân đạt khoảng 11,5 tỷ USD, tăng 9,9%4
Bước sang năm 2014, mặc dù nền kinh tế duy trì một số dấu hiệu tích cực của năm 2013 nhưng nhìn chung kinh tế nước ta vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức trong ngắn hạn Khó khăn trong sản xuất kinh doanh chưa được giải quyết triệt để và ngày càng tác động rõ hơn đến người dân và doanh nghiệp Thị trường trong nước chưa phát triển mạnh Sức cầu của nền kinh tế tiếp tục duy trì ở mức thấp Tổng cầu của nền kinh tế tuy
có chuyển biến nhưng vẫn chưa có sự cải thiện đáng kể Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ (loại trừ yếu tố giá) chỉ tăng 5,7% năm 2013 và 5,1% Quý I/2014, thấp hơn mức tăng 6,5% của năm 20125 Tốc độ phục hồi sản xuất chậm
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 3 tháng đầu năm 2014 duy trì ở mức tăng thấp 5,2% (cùng kỳ 2013 tăng 5%) Nguồn vốn bị ách tắc trong hệ thống ngân hàng Tốc độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng trong quý
2 Nguồn: Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 và tình hình triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 gửi Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư
3
Nguồn: Như trên
4 Nguồn: Như trên
5 Nguồn: Như trên
Trang 3I/2014 không những chưa có sự cải thiện so với cùng kỳ nằm trước mà còn có dấu hiệu giảm sút cho thấy nền kinh tế chưa phục hồi rõ nét, nhu cầu tín dụng cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và nền kinh tế còn thấp do khó khăn về vấn đề giải quyết nợ xấu, hàng tồn kho và sức cầu thấp của nền kinh tế Tổng phương tiện thanh toán đến 20/3/2014 ước tăng 3,56% so với tháng 12 năm
2013, thấp hơn cùng kỳ năm 2013 (3,85%) Tín dụng đối với nền kinh tế đến 20/3/2014 giảm 0,57% so với tháng 12 năm 2013 (cùng kỳ năm 2013 tăng 0,03%), trong đó dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế bằng VND ước giảm 1,38%6
Số lượng doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động lớn Năm 2013 đã có 60,737 doanh nghiệp phải dừng hoạt động, tăng 11,9% so với 2012 Trong quý I/2014 đã có thêm 16.745 doanh nghiệp phải dừng hoạt động, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2013 Tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc chủ yếu vào khu vực FDI, trong khi tăng trưởng xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế Năm 2013, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước là 3,9%, tuy cao hơn năm 2012 nhưng vẫn thấp hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của cả nước7
Mục tiêu tổng quát Quốc hội đề ra tại Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2014 là: tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh
tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên Đẩy mạnh cải cách hành chính; cải thiện môi trường kinh doanh Trong đó các chỉ tiêu kinh
tế vĩ mô chủ yếu được đề ra là: phấn đấu đạt tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 5,8%; kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 10%; tỷ lệ nhập siêu khoảng 6% kim ngạch xuất khẩu; tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 7%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 30% GDP; tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động; tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước 5,3% GDP8
Năm 2014-2015 là giai đoạn quan trọng đảm bảo thực hiện thành công kế hoạch kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 Việc thực hiện thành công các mục tiêu nêu trên đặt ra thách thức to lớn đối với Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương trong đó có vai trò quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp ở cả 3 khu vực DNNN, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp ngoài nhà nước
Nguồn: Như trên
8 Các chỉ tiêu được qui định tại Nghị quyết số 53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014
Trang 4Để đạt được tốc độ tăng GDP khoảng 5,8%, tức là khoảng 4.221,2 nghìn tỷ đồng năm 2014 đặt ra yêu cầu cho từng khu vực kinh tế như sau: kinh tế nhà nước tạo ra khoảng 1.374,8 nghìn tỷ; kinh tế ngoài nhà nước đóng góp khoảng 2.083,2 nghìn tỷ đồng và khu vực FDI là 763,2 nghìn tỷ đồng9 Với cơ cấu đóng góp khoảng gần 50% trong cơ cấu GDP (năm 2012), khu vực ngoài nhà nước đóng vai trò quan trọng để đảm bảo tốc độ tăng trưởng GDP đề ra, đây là thách thức lớn đối với Chính phủ trong việc tìm ra giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho khu vực đang gặp nhiều khó khăn này
Bên cạnh chỉ tiêu đóng góp GDP, các chỉ tiêu tăng trưởng về xuất khẩu, đầu tư, thu ngân sách cũng đang đặt ra những thách thức lớn đối với khu vực doanh nghiệp Cụ thể, để đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 10% năm 2014, tương đương khoảng 144 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, khu vực doanh nghiệp trong nước (bao gồm DNNN và doanh nghiệp ngoài nhà nước) cần đóng góp khoảng 48,76 tỷ USD trong năm 2014, tạo ra thêm 4,46 tỷ USD doanh thu xuất khẩu so với năm 2013 Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2014 theo kế hoạch của các khu vực kinh tế đặt ra là 1.241,8 nghìn tỷ đồng, trong đó huy động vốn đầu tư của dân cư và tư nhân đạt chỉ tiêu là 522,4 nghìn tỷ đồng, vốn đầu tư của DNNN (vốn tự có) là 45 nghìn tỷ đồng Như vậy, đầu tư của dân cư và khu vực tư nhân phải huy động thêm trong năm 2014 là 115 nghìn tỷ đồng (năm 2013 khu vực này thực hiện 407,4 nghìn tỷ đồng); chiếm 42,1% trong cơ cấu vốn đầu
tư thực hiện toàn xã hội Tương tự như vậy chỉ tiêu thu ngân sách năm 2014 đặt
ra là 782,7 nghìn tỷ đồng, trong đó thu nội địa (chủ yếu từ khu vực doanh nghiệp chiếm tỷ trọng 75%) đạt 539 nghìn tỷ đồng, tăng thêm 9 nghìn tỷ đồng so với số ước thực hiện năm 2013 là 530 nghìn tỷ Ngoài ra, các chỉ tiêu về tổng mức doanh thu bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng trưởng khoảng 15%, tương đương khoảng 3.000 tỷ đồng; vốn tín dụng đầu tư tăng thêm từ 53,4 nghìn tỷ đồng lên 58,7 nghìn tỷ đồng10 v.v cũng đang đặt ra các thách thức không nhỏ trong công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp của Chính phủ
Bối cảnh kinh tế trong nước và nhiệm vụ to lớn đặt ra trong phát triển kinh
tế xã hội năm 2014, năm bản lề đảm bảo việc thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015, đặt ra thách thức cho Chính phủ và các
Bộ ngành, địa phương trong việc nhận diện ra các khó khăn để có giải pháp phù hợp nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi
và phát triển để có thể đạt được mục tiêu kế hoạch đặt ra
9 Tính toán dựa trên các chỉ tiêu được qui định tại Quyết định số 2336/QĐ-TTg ngày 30/11/2013 của Chính phủ
về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014
10 Như trên Riêng tính toán chỉ tiêu về thu ngân sách qui định tại Nghị quyết số 57/2013/QH13 ngày 12/11/2013
về dự toán ngân sách nhà nước năm 2014 và Quyết định số 2336/QĐ-TTg ngày 30/11/2013 của Chính phủ về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế xã - hội năm 2014
Trang 51.2 Tình hình doanh nghiệp gia nhập, rút khỏi thị trường
1.2.1 Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới có dấu hiệu tăng trở lại nhưng quy mô vốn đăng ký giảm
Trong giai đoạn 2011-2013, cả nước có thêm 224.200 doanh nghiệp thành lập mới, chiếm 40,9% tổng số doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 20 năm từ 1991-2010 Xu hướng tăng trưởng liên tục bị ngắt quãng kể từ năm 2012 khi nền kinh tế bước vào giai đoạn khó khăn Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm từ 83.600 doanh nghiệp năm 2010 xuống còn 77.500 doanh nghiệp năm 2011, tiếp đó giảm sâu xuống còn 69.800 doanh nghiệp năm 2012, giảm 13.800 doanh nghiệp trong 2 năm11
Năm 2013, dấu hiệu kinh tế phục hồi và một số khó khăn vĩ mô đã giảm bớt giúp cho số lượng doanh nghiệp thành lập mới có dấu hiệu tăng trở lại, đạt 76.955 doanh nghiệp (tăng 10% so với năm 2012), nhưng không bằng số lượng doanh nghiệp thành lập mới của các năm 2009 và 2010 Trong Quý I/2014, cả nước có hơn 18.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký gần
98 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 17% về số doanh nghiệp và 23% về vốn đăng ký
so với cùng kỳ 2013 Cũng trong Quý I/2014, vẫn còn gần 17.000 doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước12 Nhìn chung, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, phục hồi tăng trưởng ở mức thấp và thiếu bền vững
Biểu 1: Số lượng doanh nghiệp đăng ký mới giai đoạn 1991-1999
và những năm từ 2000-2013
Đơn vị: Nghìn doanh nghiệp
11 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
12 Nguồn: Như trên
Trang 6Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Mặc dù số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới năm 2013 và Quý I/2014 có dấu hiệu tăng trở lại so với năm 2012 nhưng số vốn đăng ký năm 2013 chỉ đạt 398.681 tỷ đồng, giảm 14,7% so với 2012 và giảm sâu so với 513.700 tỷ đồng năm 201113
Tình hình khó khăn những năm gần đây cũng khiến quy mô vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp có xu hướng giảm Năm 2011, bình quân 1 doanh nghiệp đăng ký với 6,63 tỷ đồng, nhưng đã giảm xuống 5,13 tỷ đồng năm 2013 (chưa tính tới yếu tố lạm phát)14
Qua đó có thể thấy rằng trong thời kỳ khó khăn
và môi trường kinh doanh còn nhiều rủi ro, doanh nghiệp đã thận trọng hơn với từng đồng vốn bỏ ra, thể hiện qua việc thu hẹp quy mô vốn để nâng cao hệ số an toàn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
Biểu 2: Quy mô vốn đăng ký thành lập doanh nghiệp giai đoạn 2006-2013
13 Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
14 Nguồn: Như trên
Trang 7Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2.2 Doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường có xu hướng gia tăng
Chất lượng doanh nghiệp đang được sàng lọc trong những năm gần đây
Số lượng doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2013 là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với 2012 và tăng 12,5% so với 201115 Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải rút lui khỏi thị trường ngày càng nhiều cho thấy những thách thức của nền kinh tế trong giai đoạn khó khăn 2011-2012 đã và đang dần loại bỏ khỏi thị trường các doanh nghiệp yếu kém, không đủ sức tồn tại, hoặc không kịp thay đổi để thích nghi với điều kiện mới
Biểu 3: Số DN thành lập mới so với số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động
Số vốn của doanh nghiệp đăng ký thành lập
Số DN đăng ký mới
DN
Trang 8Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2.3 Doanh nghiệp ngoài nhà nước là lực lượng chính trong các khu vực doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế
Về số lượng doanh nghiệp đang hoạt động, doanh nghiệp ngoài nhà nước
là lực lượng chính trong nền kinh tế, luôn chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong giai đoạn 2010-2012 Cùng với số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường, số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước đang hoạt động tăng từ 268.831 doanh nghiệp năm 2010 lên 334.562 doanh nghiệp năm
2012
Tiếp theo là khu vực doanh nghiệp FDI với 7.248 doanh nghiệp đang hoạt động năm 2010 (chiếm 2,59%) tăng lên 8.976 doanh nghiệp năm 2012 (chiếm 2,59%)
DNNN chiếm tỷ trọng ít nhất, với 3.281 doanh nghiệp đang hoạt động năm
2010 (chiếm 1,17%) giảm còn 3.236 doanh nghiệp năm 2012 (chiếm 0,93%) và
sẽ tiếp tục giảm trong giai đoạn tới do Chính phủ đang đẩy mạnh tái cơ cấu, trọng tâm là cổ phần hóa khu vực này
Bảng 1: Số lượng và tỷ trọng doanh nghiệp đang hoạt động
1.3 Đóng góp của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2 Đóng góp của doanh nghiệp trong tăng trưởng GDP và tạo việc làm
Doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể sau khi Luật doanh nghiệp 2005 ra đời Về tỷ trọng trong cơ cấu GDP, doanh nghiệp ngoài nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, ở mức 48-49% tổng GDP toàn xã hội trong giai đoạn 2009-2012 Tỷ trọng của khu vực DNNN chiếm thứ 2 nhưng đang có xu hướng giảm dần theo chương trình cổ phần hóa của Chính phủ Tỷ trọng trong GDP của khu vực DNNN giảm từ 37,72% năm 2009 xuống 32,57% năm 2012
Trang 9Cuối cùng là khu vực doanh nghiệp FDI, chiếm tỷ trọng thấp nhất, tương đối ổn định ở mức 17-18% trong giai đoạn 2009-201216
2012 (chiếm 60,97%) Đứng thứ 2 là khu vực doanh nghiệp FDI, tăng từ 2,16 triệu lao động năm 2010 (chiếm 21,93%) lên 2,72 triệu lao động năm 2012 (chiếm 24,54%) Cuối cùng là khu vực DNNN với 1,69 triệu lao động (chiếm 17,21%) giảm xuống 1,61 triệu lao động năm 2012 (chiếm 14,49%)17 Trong giai đoạn qua, đã có một lực lượng lớn lao động chuyển từ khu vực DNNN sang khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và FDI do quá trình sắp xếp, tái cơ cấu các DNNN
Biểu 5: Lao động tại các khu vực kinh tế
Trang 1020 lao động/DN năm 201218
Sự chênh lệch đáng kể về quy mô giữa 3 khu vực kinh tế cho thấy khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước hoạt động còn manh mún, nhỏ lẻ so với 2 khu vực còn lại
Biểu 6: Quy mô lao động bình quân 1 DN tại các khu vực kinh tế
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
1.3.2 Vốn đầu tư toàn xã hội của các khu vực kinh tế
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện của các khu vực kinh tế tăng qua các năm, từ 830,3 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên 1.091,1 nghìn tỷ đồng năm 2013 Tuy nhiên, tốc độ tăng giai đoạn 2010-2013 thấp hơn tốc độ tăng của giai đoạn trước 2006-2010
Tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội của các khu vực kinh tế có nhiều thay đổi trong giai đoạn 2006- 2013 Khu vực DNNN chiếm tỷ trọng lớn nhưng có xu
Trang 11hướng giảm dần từ 45,7% năm 2006 giảm xuống còn 40,37% năm 2013 Tiếp theo là khu vực doanh nghiệp nhà nước thay đổi không đáng kể, chiếm 38,05% năm 2006 và chiếm 37,62% năm 2013 Chiếm tỷ trọng thấp nhất là khu vực doanh nghiệp FDI Khu vực này chỉ chiếm 16,21% năm 2006 nhưng tăng mạnh lên 30,92% năm 2008 Tuy nhiên, sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội của khu vực này giảm đáng
kể từ 30,92% năm 2008 xuống còn 22% năm 201319
Biểu 7: Thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện phân
theo thành phần kinh tế 2006 – 2013 (%)
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
1.3.3 Đóng góp vào ngân sách nhà nước của các khu vực doanh nghiệp
Trong giai đoạn 2010-2012, đóng góp của doanh nghiệp Việt Nam vào ngân sách nhà nước có tăng nhưng tốc độ tăng thấp hơn nhiều so với các năm trước Cụ thể năm 2011, đóng góp của doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế là 515,8 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với 2010 nhưng năm 2012 thì đóng góp ngân sách của các doanh nghiệp là 556,9 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng 7,9% so với năm
201120
Về tỷ trọng đóng góp của các thành phần kinh tế, khu vực DNNN vẫn giữ
ổn định ở mức khoảng 35%-36% qua các năm từ 2010-2012 Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm đáng kể từ 40,35% năm 2010 xuống 32,76% năm 2012 Ngược với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, khu vực doanh nghiệp FDI tăng đáng kể từ 23,31% lên 31,43% cho thấy khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng kinh tế21
Trang 12Biểu 8: Đóng góp của các khu vực kinh tế vào ngân sách nhà nước
N
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
1.4 Kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.1 Kết quả hoạt động về doanh thu, lợi nhuận
Nhìn chung, tổng doanh thu của các khu vực kinh tế có xu hướng tăng nhưng lợi nhuận của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp FDI giảm đáng kể Cụ thể:
- Doanh thu khu vực DNNN tăng từ 2.167 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên 3.051 nghìn tỷ đồng năm 2012 (tăng 40,7%) , lợi nhuận tăng từ 115,2 nghìn tỷ lên 170,7 nghìn tỷ đồng (tăng 48,2%)22;
- Doanh thu khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng từ 4.271 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên 5.930 nghìn tỷ đồng năm 2012 (tăng 38,8%) nhưng lợi nhuận lại giảm đáng kể từ 115,6 nghìn tỷ đồng năm 2010 xuống 68,1 nghìn tỷ đồng năm 2012 (giảm 41,1%)23
- Doanh thu khu vực FDI tăng từ 1.418 nghìn tỷ đồng năm 2010 lên 2.476 nghìn tỷ đồng năm 2012 (tăng 74,5%) nhưng lợi nhuận giảm từ 125,4 nghìn tỷ đồng năm 2010 xuống 120,0 nghìn tỷ đồng năm 2012 (giảm 4,3%)24
Các số liệu trên cho thấy trình độ và năng lực quản lý của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước thời gian qua bộc lộ nhiều hạn chế Trong điều kiện nền
22
Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán
23 Nguồn: Tổng cục thống kê và tính toán
24 Nguồn: Như trên
Trang 13kinh tế khó khăn, thị trường suy giảm, khả năng quản lý bao gồm quản lý chi phí yếu kém của các chủ doanh nghiệp dẫn tới chi phí sản xuất kinh doanh cao, lợi nhuận sụt giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Biểu 9: Doanh thu, lợi nhuận của các khu vực kinh tế (nghìn tỷ đồng)
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
1.4.2 Tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ gia tăng đáng kể
Từ năm 2010, ảnh hưởng của khó khăn kinh tế trong nước đã khiến tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ tăng đáng kể, từ 25,14% năm 2010 lên 65,8% vào hết tháng
9 năm 2013 Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi cũng giảm từ 64,12% năm
2010 xuống còn 34,2% vào hết tháng 9 năm 201325
Thua lỗ nhiều và kéo dài khiến doanh nghiệp rơi vào phá sản, giải thể và tạm dừng hoạt động Tình trạng này sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng xấu cho kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung trong thời gian tới
Biểu:
Tuy vậy, một số tỉnh có số doanh nghiệp lỗ cao đáng chú ý như Đà Nẵng có 3.424 DN tư nhân có lãi trên tổng số 10.229 DN đang hoạt động (33,5%), trong khi có tới 6.805 DN tư nhân lỗ (66,5%), ước 6 tháng đầu 2013 có 7.164 DN lỗ,
25 Nguồn: Tổng cục thống kê và Bộ Tài chính (Hội nghị đối thoại về thủ tục thuế, hải quan giữa Bộ Tài chính, VCCI, Tổng cục thuế, Hải quan, tháng 10/2013)
Trang 143.119 DN lãi; Bắc Ninh năm 2011 có 70% doanh nghiệp đang hoạt động có lãi (khoảng 2.700 DN), thế như năm 2012, số doanh nghiệp có lãi giảm đáng kể, chỉ còn 850 DN, chiếm 19% số doanh đang hoạt động; Đắk Nông, có 1354 doanh nghiệp lỗ và 342 doanh nghiệp có lãi (80% doanh nghiệp lỗ, 20% doanh
Nguồn: Bộ Kế h Bộ Tài chính Nguồn: Tổng Cục Thống kê và Bộ Tài chính
1.5 Một số vấn đề tồn tại trong phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam
Mặc dù doanh nghiệp Việt Nam có những bước chuyển biến tích cực trong thời gian qua nhưng sự phát triển này còn nhiều hạn chế Chất lượng phát triển của khu vực này vẫn còn ở mức thấp và cần được hỗ trợ để cải thiện
1.5.1 Quy mô doanh nghiệp vẫn chủ yếu là nhỏ và vừa
Mặc dù phát triển nhanh về số lượng doanh nghiệp xét về tổng thể nhưng phần lớn doanh nghiệp Việt Nam đến nay chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa
Bảng 2: Tỷ lệ doanh nghiệp năm 2012 phân theo quy mô lao động
Đơn vị tính: (%) Tổng số
DN đang hoạt động
Tỷ lệ
DN lớn
DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa (DNNVV)
Chia ra Siêu
nhỏ Nhỏ Vừa Tổng số 100,0 2,3 97,7 68,7 27,1 1,9
Phân theo loại hình kinh tế
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
Nếu xét về qui mô lao động, trong tổng số doanh nghiệp đến 2012 của tất
cả các khu vực kinh tế thì DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 97,7% Trong khối doanh nghiệp ngoài nhà nước thì DNNVV cũng chiếm đa số với tỷ lệ lên đến 98,6% Đặc biệt, tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô vừa chỉ chiếm 1,6% trong tổng số các doanh nghiệp ngoài nhà nước
Trang 15Nếu xét về qui mô vốn cũng tương tự với bức tranh về lao động, trong đó
tỷ lệ doanh nghiệp quy mô vốn nhỏ và vừa chiếm đến 94,8% Số doanh nghiệp
có qui mô vốn vừa chỉ đạt 17,6% đối với khối doanh nghiệp ngoài nhà nước
1.5.2 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước còn thấp, cần được cải thiện
Bảng 3 dưới đây so sánh về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh của các khu vực doanh nghiệp Số liệu cho thấy hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp ngoài nhà nước còn rất thấp mặc dù khu vực này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh nghiệp nói chung ở một số chỉ tiêu cơ bản (số lượng doanh nghiệp chiếm 96,5%; số lao động 60,97%; doanh thu 51,6%) Điều đó chứng tỏ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khu vực này còn thấp do các yếu tố như quy mô vốn, năng lực quản lý, điều hành, khả năng công nghệ, khả năng tiếp cận thị trường đều thấp hơn so với DNNN và DN FDI
Bảng 3: Tỷ suất lợi nhuận của các khu vực doanh nghiệp
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 2 tháng đầu năm 2014 tăng thấp, chỉ tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 201326
Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tuy giảm nhưng vẫn ở mức cao: tại thời điểm 12/2013 tăng 10,2% và Quý I/2014 tăng 13,4% Trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho cao như: chế biến sữa, sản xuất đường (tăng 44-46%); sản xuất da và sản phẩm liên quan (tăng 53%); thuốc, hóa dược và dược liệu (tăng 61%) Chỉ số sử dụng
26 Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 16lao động của các doanh nghiệp công nghiệp thời điểm 01/12/2013 chỉ tăng 0,8% phản ánh các hoạt động sản xuất kinh doanh còn đang ở mức cầm chừng, chưa được mở rộng Sức cầu của nền kinh tế tiếp tục duy trì ở mức thấp Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 chỉ tăng 12,6% và là mức tăng thấp nhất trong vòng bốn năm trở lại đây Quý I/2014 chỉ tăng thấp ở mức 10,2% so với cùng kỳ năm trước27
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu năm 2013 đạt 132,17 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 201228 Tuy nhiên thị phần xuất khẩu chủ yếu đóng góp bởi khu vực doanh nghiệp FDI Các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm tỷ trọng 33% với mức tăng trưởng thấp 3,5% so với năm 2012 Trong khi
đó các doanh nghiệp FDI (không kể dầu thô) chiếm tỷ trọng tới 61,4% và tăng 26,8% Xuất khẩu của khu vực này trong những năm gần đây luôn tăng mạnh, mức tăng năm 2011 tăng 41%; năm 2012 tăng 31,1%; năm 2013 tăng 22,4%
Về thị trường bán lẻ, kinh tế ngoài nhà nước hiện tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường trong nước với tỷ trọng cao trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Tuy nhiên, các nhà bán lẻ nước ngoài hiện chiếm tỷ trọng đến 40% với sự có mặt của nhiều tập đoàn phân phối hàng đầu như: Metro (Đức), Casino (Pháp), Lion (Malaysia), Lotte (Hàn Quốc), Aeon (Nhật) cùng nhiều thương nhân Trung Quốc Các doanh nghiệp thương mại có vốn đầu tư nước ngoài này đang phát triển mạnh do có tiềm lực tài chính dồi dào, thương hiệu nổi tiếng và kinh doanh bài bản
Bên cạnh đó, cam kết mở cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ từ 1/1/2015 khi Việt Nam gia nhập WTO cùng với mức thuế quan giảm xuống 0% đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu trong thời gian tới khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ là những áp lực lớn cho các doanh nghiệp trong nước duy trì thị phần và mở rộng thị trường trong thời gian tới Thị trường của doanh nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn manh mún, nhỏ lẻ, thực hiện thương mại theo hình thức truyền thống Thương mại hiện đại như mua bán qua siêu thị, thương mại điện tử, mua hàng trực tuyến… chiếm tỷ trọng nhỏ Nguy cơ mất thị trường ngay trên sân nhà đang hiện hữu với làn sóng “thôn tính” của các doanh nghiệp FDI đối với các doanh nghiệp và thương hiệu Việt Nam
1.5.4 Khả năng hấp thụ vốn thấp, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn
Trong giai đoạn 2011-2013, chính sách tiền tệ về cơ bản được điều hành linh hoạt, chặt chẽ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát Lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại được điều chỉnh giảm dần nhằm tháo gỡ
27 Nguồn: Như trên
28 Nguồn: Như trên
Trang 17khó khăn cho doanh nghiệp Tỷ trọng các khoản dư nợ có lãi suất cao đã được giảm xuống Đến cuối năm 2013, tỷ trọng dư nợ cho vay bằng VNĐ cụ thể có mức lãi suất dưới 10% chiếm tỷ trọng 31,91%; từ 10-13%/năm là 48,37%, từ 13-15%/năm là 13,42%; trên 15%/năm chiếm tỷ trọng 6,3% Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Quốc hội, Chính phủ29
Mặc dù lãi suất giảm nhưng khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp thấp Tăng trưởng tín dụng đến 20/3/2014 ước chỉ tăng 0,61% so với tháng trước và giảm 0,57% so với tháng 12 năm 2013 (cùng kỳ năm 2013 tăng 0,03%) Đặc biệt, tín dụng cho các DNNVV tăng trưởng rất chậm (cả năm 2013 ước chỉ tăng 0,95% so với cuối năm 2012) Như vậy, tốc độ tăng trưởng tín dụng không những chưa có sự cải thiện so với cùng kỳ nằm trước mà còn có dấu hiệu giảm sút
Thực tế này cho thấy nền kinh tế chưa cho thấy dấu hiệu phục hồi rõ nét, nhu cầu tín dụng cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và nền kinh tế còn thấp do khó khăn về vấn đề giải quyết nợ xấu, hàng tồn kho và sức cầu thấp của nền kinh tế Doanh nghiệp có xu hướng co cụm hoặc e ngại vay vốn, mở rộng sản xuất dẫn đến tình trạng dư thừa tín dụng của các ngân hàng
Biểu 11: Tăng trưởng tín dụng hàng năm giai đoạn 2006-2013
2014*: Số liệu tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán tháng 01/2014, tăng trưởng tín dụng Quý 1/2014
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngoài ra, doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng Doanh nghiệp muốn được vay vốn ngân hàng phải có hồ sơ pháp lý; tài chính và hoạt động sản xuất - kinh doanh; vay vốn; tài sản đảm bảo nhưng rào cản vướng nhất là hồ sơ về tài sản đảm bảo
Số lượng DNNVV, đại diện chủ yếu cho khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, còn dư nợ tại các tổ chức tín dụng liên tục giảm trong các năm gần đây:
29 Đến cuối năm 2013, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng khoảng 18%, lĩnh vực xuất khẩu tăng 3,65%; công nghiệp hỗ trợ tăng 12,52%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 26,94% so với cuối năm 2012