1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH NHỮNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ ÁP DỤNG TRONG NĂM 2009

31 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 4,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Nước Mỹ, luôn được xem là đầu tàu trong sự phát triển kinh tế của thế giới, đã chính thức tuyên bố

Trang 1

Bộ phận Nghiên cứu – Phân tích

BÁO CÁO PHÂN TÍCH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2008

VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2009

Trang 2

NỘI DUNG

A TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 1

1 Bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng nợ dưới chuẩn của Mỹ 1

2 Những ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu 1

B NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM TRONG NĂM 2008 2

1 Lạm phát và đình trệ nền kinh tế 2

2 Thị trường tiền tệ - Bức tranh nhiều màu sắc 4

3 Những bất ổn của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá 7

4 Thâm hụt thương mại nghiêm trọng và khả năng mất cân đối trong cán cân thanh toán 9

C PHÂN TÍCH NHỮNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ ÁP DỤNG TRONG NĂM 2009 14

1 Chính sách tiền tệ - Nới lỏng và có kiểm soát 14

2 Chính sách tài khóa - Kích cầu nền kinh tế 16

D NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH CỦA KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NĂM 2009 16

1 Ngăn ngừa lạm phát và đình trệ kinh tế 16

2 Nợ xấu ngân hàng và những khó khăn về phân bổ vốn trong nền kinh tế 17

3 Cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt trầm trọng 17

4 Thâm hụt ngân sách – Lý thuyết đánh đổi 20

E NHẬN ĐỊNH VỀ CHU KỲ KINH TẾ VÀ CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ NĂM 2009 21

1 Những thách thức và cơ hội cho thị trường chứng khoán năm 2009 21

2 Nhận định chu kỳ kinh tế và mối quan hệ với thị trường chứng khoán trong năm 2009 23

3 Nhận định chung về những phân ngành chịu ảnh hưởng trong năm 2009 24

4 Một số khuyến nghị về chiến lược đầu tư trong năm 2009 27

Trang 3

A TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2008 Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Nước Mỹ, luôn được xem là đầu tàu trong sự phát triển kinh tế của thế giới, đã chính thức tuyên bố về sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ Cùng với sự suy thoái của hàng loạt nền kinh tế lớn trên toàn cầu, cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại dự báo sẽ còn tác động mạnh đến kinh tế thế giới trong năm 2009

1 Bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng nợ dưới chuẩn của Mỹ

Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu trong những năm gần đây

Trong khi nguồn vốn tín dụng gia tăng từ các chính sách tiền tệ mở thì nhu cầu huy động vốn của các doanh nghiệp lại suy giảm sau các bê bối tài chính tại Mỹ như Enron, Worldcom và khủng hoảng các công ty công nghệ thông tin từ năm 2001 Đồng thời, các chính phủ cũng ngày càng kiểm soát chặt chẽ thâm hụt ngân sách quốc gia nhằm tránh việc vay nguồn vốn bên ngoài Những điều này đã dẫn đến việc dư thừa các nguồn vốn mà thị trường không sử dụng hiệu quả

Cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp hữu hiệu để giải quyết bài toán thừa vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, việc ngày càng lạm dụng công cụ cho vay nợ dưới chuẩn cùng với sự bất cân xứng thông tin vì tính chất phức tạp tinh vi của các công cụ tài chính (được tạo ra bởi các định chế tài chính Mỹ, trong sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan quản lý kinh tế) đã gây ra cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn vào cuối năm 2007 và năm 2008

2 Những ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu

Mỹ là một cường quốc kinh tế, một trong những quốc gia tiêu thụ hàng hóa nhiều nhất trên thế giới, đồng thời cũng là con nợ lớn nhất thế giới Việc kinh tế Mỹ suy thoái do vậy có tác động rất to lớn đến toàn bộ nền kinh tế toàn cầu Trong những tháng cuối năm 2008, hàng loạt các nền kinh tế lớn của thế giới như Thụy Sỹ, Đức, Anh, Iceland, Singapore, Nhật Bản, 15 nước châu Âu EU, … đã thừa nhận suy thoái kinh tế, các cuộc họp cấp cao Châu Âu, Châu Á, các nước G7, … liên tiếp diễn ra nhưng vẫn chưa

có kết quả khả quan, các quốc gia châu Âu, châu Á liên tục cắt giảm lãi suất và công

bố các gói kích thích kinh tế, giá vàng và dầu giảm liên tiếp, các chỉ số chứng khoán châu Á, châu Âu, châu Mỹ sụt giảm trầm trọng khi các thông tin bi quan của các quốc

Trang 4

gia liên tục được công bố (tăng trưởng kinh tế âm, thất nghiệp gia tăng, doanh số bán

lẻ và giá trị công nghiệp tăng trưởng âm, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng sụt giảm…), và các dự báo lạc quan về cơn lốc suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ còn tiếp diễn theo chiều hướng xấu, ít nhất là đến giữa năm 2009

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11/2008 thành công với thắng lợi thuộc về đảng Dân chủ, dấy lên niềm hy vọng về một kỷ nguyên mới của nước Mỹ dưới sự lãnh đạo của một tổng thống da màu đầu tiên, năng động và tiến bộ Những chính sách được ông hoạch định trong thời gian qua (như ban hành gói kích thích kinh tế trị giá dự kiến lên tới 7,000 tỷ USD; cam kết tạo thêm 2,5 triệu việc làm cho người dân Mỹ; xây dựng bộ máy chính quyền gồm những nhà lãnh đạo có chuyên môn, có kinh nghiệm

và được dư luận ủng hộ) đang được dân Mỹ và cộng đồng quốc tế đánh giá cao và kỳ vọng sẽ giúp nước Mỹ sớm thoát khỏi khủng hoảng, nhưng thực tế sẽ còn rất nhiều vấn đề cho tân tổng thống Barack Obama và bộ máy chính quyền của ông để có thể giải quyết cơn khủng hoảng kinh tế đang lan rộng một cách mạnh mẽ và ngày càng khó lường

B NHỮNG ĐIỂM NỔI BẬT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM TRONG NĂM 2008

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, lạm phát của năm 2008 nằm ở mức 20% Tuy nhiên, như đã đề cập ở báo cáo trước đây, nguyên nhân căn bản của vấn đề lạm phát tại Việt Nam là sự lãng phí, kém hiệu quả trong đầu tư công và chi tiêu công vẫn còn hiện hữu, mặc dù chính phủ đã thực hiện các biện pháp rà soát, cắt giảm chi phí ở một

số dự án kém hiệu quả Cụ thể, khi xem xét chỉ số ICOR – một chỉ báo khá chính xác

Trang 5

về mức độ hiệu quả trong việc gia tăng GDP từ đầu tư công, thì chỉ số ICOR của Việt Nam luôn ở mức cao, cụ thể là trong giai đoạn phát triển của Việt Nam từ năm 1991 –

2006, chỉ số ICOR bình quân là 4,86 lần, và theo báo cáo trong kỳ họp Quốc hội phiên cuối năm ngày 18/10/2008 đánh giá thì chỉ số ICOR năm nay còn có thể cao hơn những năm trước Đây là mức khá cao so với các quốc gia trong khu vực, thể hiện việc

sử dụng vốn đầu tư không đạt hiệu quả, và điều này có thể tiếp tục gây cản trở cho quá trình hoạch định và thực thi các chính sách kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế chậm lại

Sau một thời gian dài liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng bình quân 7.4% trong giai đoạn 1990 – 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm 2008 đã giảm xuống còn 6,23% so với mức kế hoạch tăng trưởng 8.5% mà Quốc hội đã đề ra Nguyên nhân chính xuất phát từ những bất ổn trong chính sách tăng trưởng kinh tế sẽ được phân tích

cụ thể ở những phần dưới đây, và những tác động mạnh mẽ từ sự suy thoái kinh tế

toàn cầu

Để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng, chính phủ Việt Nam đã nới lỏng quá mức các chính sách tài khóa, tiền tệ và thu hút mạnh lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Kết quả là lạm phát tăng mạnh, và bộc phát những yếu kém vốn tiềm ẩn trong nền kinh tế ngay trong những tháng đầu năm 2008 Sau đó, chính phủ đã phải thực hiện một loạt các biện pháp nhằm thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm đảm bảo cho sự tăng trưởng bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô Thực tế quyết tâm của chính phủ đã phát huy tác dụng tốt khi phần nào kìm hãm tốc độ tăng giá tiêu dùng và

hạn chế tình trạng bong bóng bất động sản

Bên cạnh nỗi lo về lạm phát, chúng ta phải tiếp tục đối mặt với một thách thức mới về khả năng đình trệ nền kinh tế do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu Tại thời điểm cuối năm 2008 đã định hình những nhân tố thể hiện khả năng đình trệ của nền kinh tế Đó là sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP của năm 2008 1, sự suy giảm tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, doanh thu bán lẻ hàng hóa dịch vụ, và

sự sụt giảm về đầu tư của khu vực dân doanh của những tháng cuối năm 2008

Một nhân tố rất quan trọng khác chính là việc kim ngạch xuất khẩu ngày càng giảm do

sự mất giá chung của hàng hóa thế giới, và do các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản là những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của suy

1

GDP năm 2008 chỉ đạt khoảng 6.23%, và tăng trưởng GDP của năm 2009 theo dự báo của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF, EIU sẽ chỉ khoảng 5%, khá thấp nếu so với tốc độ tăng trưởng bình quân 8% trong 5 năm qua và tiềm năng tăng trưởng kinh tế 9 – 10% của một nền kinh tế mới nổi đang trong giai đoạn tăng trưởng nhanh như Việt Nam

Trang 6

thoái nền kinh tế, và điều này càng có khả năng ảnh hưởng trầm trọng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam khi giá trị xuất khẩu xấp xỉ 80% GDP của nước ta

3.0 2.7

3.7

4.6 4.1 4.0

y-Quốc Việt Na m

Thống kê chỉ số ICOR các quốc gia trong khu vực

Tă ng trưởng GDP (%/nă m) ∑ đầ u tư (% của GDP/nă m) ICOR

Nguồn: Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

40% 50% 60% 70% 80%

200,000 400,000 600,000 800,000 1,000,000 1,200,000

-1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

tỷ đồng Mối quan hệ giữa Xuất khẩu và GDP

Tổng sả n phẩ m quốc dâ n (GDP) % Giá trị xuấ t khẩ u / GDP

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục thống kê

và ORS tổng hợp

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, trong năm 2008 có khoảng 30,000 lao động mất việc do tác động của sự suy giảm kinh tế, và dự báo có khoảng 150,000 lao động sẽ thất nghiệp trong năm 2009 2 Đây là một dấu hiệu đáng

lo ngại về tình trạng đình trệ nền kinh tế và những bất ổn đang tiềm ẩn trong xã hội

2 Thị trường tiền tệ - Bức tranh nhiều màu sắc

Những thay đổi trong chính sách tiền tệ

Như đã phân tích trong báo cáo vĩ mô 6 tháng đầu năm 2008, sự gia tăng nhanh chóng luồng vốn ngoại vào Việt Nam cộng với khuynh hướng duy trì giá đồng Việt Nam thấp và ổn định gây áp lực khiến NHNN liên tục tăng cung tiền Cung tiền tăng trưởng nhanh chóng trong nhiều năm và tăng trưởng tín dụng nóng là một trong các nguyên nhân quan trọng gây lạm phát cao giai đoạn cuối năm 2007 và quý đầu năm 2008 Báo cáo của ADB và World Bank cho thấy trong năm 2007 cung tiền của Việt Nam (M2) tăng 46.12%, chiếm 118% GDP, tín dụng tăng trên 54% vào cuối năm 2007; và đỉnh

điểm là mức tăng trưởng tín dụng trên 63% vào cuối quý I năm 2008

Để kiềm chế lạm phát và ổn định nền kinh tế, chính phủ đã ban hành và thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt Lãi suất cơ bản được tăng liên tục từ 8.25% lên đến 14%, tỷ lệ

dự trữ bắt buộc tăng từ 5% lên đến 12%, các NHTM buộc mua vào 20.300 tỷ đồng tín

Trang 7

phiếu bắt buộc Ước tính NHNN rút khỏi lưu thông một lượng tiền khoảng 60.000 tỷ

đồng

Chính sách tiền tệ thắt chặt đã làm bộc lộ rõ những yếu kém hiện hữu trong hệ thống ngân hàng Các NHTM rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản trầm trọng (đặc biệt là các ngân hàng cổ phần tư nhân hình thành nhanh chóng trong suốt giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng năm 2007), thị trường vốn trở nên rất hạn hẹp khiến các chủ thể trong nền kinh tế rất khó tiếp cận Các NHTM bước vào cuộc đua lãi suất và ngày càng gay gắt, đỉnh điểm của tình trạng này là lãi suất huy động có lúc lên đến 19.56%, lãi suất cho vay VND qua đêm tăng đến 43% Ngay sau đó, NHNN buộc phải đưa vào nền kinh tế khoảng 30.000 tỷ đồng để hỗ trợ tính thanh khoản cho hệ thống ngân hàng

Lãi suất cơ bản và tăng trưởng GDP

Lãi suất cơ bản Tăng trưởng GDP

Nguồn: Ngân hàng nhà nước, Tổng cục thống kê và ORS tổng hợp

Tác dụng của chính sách thắt chặt tiền tệ đã phát huy tác dụng ngay trong quý 3/2008, lạm phát suy giảm, tỷ giá hối đoái bình ổn hơn, nhưng đồng thời nền kinh

tế lại có dấu hiệu suy thoái do ảnh hưởng mới từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới Để ổn định nền kinh tế và đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, NHNN đã thực hiện nới lỏng dần chính sách tiền tệ Lãi suất cơ bản giảm dần từ 14% xuống chỉ còn 8,5%/năm, tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm còn 5%, các NHTM cũng được phép sử dụng trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, lãi suất tín phiếu bắt buộc cũng giảm mạnh xuống 4,5%/năm,… Chính sách nới lỏng đã thúc đẩy lượng vốn khả dụng của các NHTM tăng cao (theo thống kê đến tháng 10/2008 đạt 50.000 tỷ đồng và có khả năng lên đến 100.000 tỷ đồng vào cuối năm), nhưng lại gây khó khăn trong vấn đề

Trang 8

phân bổ và giải ngân lượng vốn này, khi các ngân hàng vẫn siết chặt điều kiện cho vay nhằm ngăn ngừa rủi ro trong điều kiện bất ổn của kinh tế vĩ mô, còn các doanh nghiệp lại không có nhiều nhu cầu vay vốn do sản xuất đình trệ Đồng thời, những ngân hàng hiện đang nắm giữ lượng vốn khả dụng với lãi suất cao lại càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm khách hàng có nhu cầu vay vốn với lãi suất tương ứng để đảm bảo lợi nhuận

Nguồn: ADB, ORS tổng hợp

Tăng trưởng cung tiền (M2) thời gian qua

tế, sự lúng túng trong việc giải quyết các mục tiêu của bộ ba bất khả thi (đã được phân tích ở báo cáo trước đây, bao gồm mục tiêu ổn định giá, tự do dòng vốn và chính sách tiền tệ độc lập), từ đó làm giảm tính hiệu quả của chính sách tiền tệ và sự chủ động trong điều hành

Nợ xấu ngân hàng

Cơ cấu tín dụng cũng là một vấn đề đáng lo ngại của nền kinh tế Hiện chưa thể thống

kê chính xác lượng tín dụng dành cho các doanh nghiệp nhà nước – vốn dĩ không đạt hiệu quả kinh tế cao so với các thành phần kinh tế khác, tuy nhiên theo ước tính lượng tín dụng dành cho 70 tập đoàn, tổng công ty nhà nước khoảng 28 tỷ USD (40% GDP) vào cuối năm 2007 Đây thực sự là một gánh nặng khá lớn đối với hệ thống ngân hàng

và làm cản trở cơ hội tiếp cận vốn của các thành phần kinh tế khác

Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản suy thoái trong năm 2008 cũng trở thành nỗi lo của hệ thống ngân hàng Theo báo cáo của NHNN, tính đến tháng 10 năm

Trang 9

2008, lượng tín dụng cho bất động sản khoảng 115.000 tỷ đồng, chiếm 9.5% tổng dư

nợ tín dụng; nợ xấu khoảng 35.000 tỷ đồng, chiếm 2.95% tổng dư nợ tín dụng Đến cuối năm 2008, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam ở khoảng 43.500 tỷ đồng, chiếm 3,5% tổng dư nợ tín dụng Đặc biệt, đối với các khoản vay bằng tài sản đảm bảo là bất động sản, tuy việc xác định giá trị của các tài sản đảm bảo là bất động sản với một tỷ lệ chiết khấu thấp hơn nhiều so với giá trị thị trường của tài sản, nhưng trong thời gian qua mức giá đất đai cũng đã giảm

đi rất nhiều, do đó những khoản tín dụng này cũng ẩn chứa nhiều rủi ro cho các ngân hàng khi việc thanh toán lãi vay dần trở nên khó khăn

Tr đồng

Biến động giá đất 1 số khu đô thị phía Nam

Nguồn: Khảo sát của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulright

Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu được tài trợ bằng vốn vay ngân hàng, tình hình khó khăn trong thanh toán đơn hàng cũng ảnh hưởng mạnh đến năng lực thanh toán của các doanh nghiệp này, kéo theo những khó khăn mới dành cho ngân hàng cấp vốn

3 Những bất ổn của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá

Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn duy trì chính sách tỷ giá hối đoái có kiểm soát nhằm ổn định tỷ giá và đảm bảo hiệu quả thực thi mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu Nhưng những biến động bất thường của nền kinh tế trong năm vừa qua (lạm phát tăng cao, dự trữ ngoại hối mỏng và lo ngại về nguy cơ khủng hoảng cán cân thanh toán), cùng với những hạn chế trong tính minh bạch thông tin của Chính phủ về dự trữ ngoại hối đã gây nên những áp lực nặng nề lên tỷ giá hối đoái Giai đoạn giữa năm 2008,

Trang 10

trong khi tỷ giá hối đoái niêm yết của ngân hàng nhà nước không có nhiều biến động thì trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND liên tục tăng, có lúc lên đến 20.000 đồng Tuy nhiên, ngay sau đó Chính phủ đã có những biện pháp kịp thời, như là công bố thông tin về mức dự trữ ngoại hối, tình hình cán cân thanh toán, khả năng trả nợ nước ngoài của chính phủ, NHNN liên tục nâng biên độ giao động tỷ giá từ 0.75% lên 1%, sau đó là 2% và đến ngày 06 tháng 11 NHNN nâng lên đến 3%, liên tục tăng tỷ giá hối đoái VND/USD để cân đối cung cầu thị trường ngoại tệ Những động thái này được đánh giá là khá linh hoạt và kịp thời với những biến động của thị trường

15,500 16,000 16,500 17,000 17,500

Diễn biến tỷ giá USD trong năm 2008 (eop)

Nguồn:VNBA, ORS tổng hợp

Trong những tháng cuối năm 2008, tỷ giá thị trường tự do tiếp tục tăng cao hơn so với

tỷ giá niêm yết do ngân hàng nhà nước công bố, tuy mức độ chênh lệch không biến động mạnh so với những tháng giữa năm, một phần nhờ vào chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt chính phủ đang thực hiện Nhưng những lo ngại về tình hình suy thoái kinh tế trong nước và thế giới, thâm hụt cán cân thanh toán, tình hình dự trữ ngoại hối, cùng với nhu cầu về ngoại tệ của các tổ chức nước ngoài nhằm đảm bảo thanh khoản cho công ty mẹ và tâm lý kỳ vọng về sự tăng giá của đồng USD tiếp tục sẽ vẫn là những yếu tố then chốt tạo nên những biến động khó lường về tỷ giá hối đoái trên thị trường tự do trong thời gian tới

Ngoài ra, xu hướng tích lũy và nắm giữ vàng và ngoại tệ của người dân cũng góp phần khiến NHNN khó có thể kiểm soát chặt chẽ lượng tiền trong nền kinh tế do không thể ước lượng chính xác lượng tiền cần tăng hoặc giảm cho phù hợp với sức chịu đựng của nền kinh tế

Trang 11

4 Thâm hụt thương mại nghiêm trọng và khả năng mất cân đối trong cán cân thanh toán

Xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhưng không bền vững

Xuất khẩu chính là điểm sáng trong bức tranh kinh tế vĩ mô của năm 2008, với giá trị kim ngạch xuất khẩu của 11 tháng đầu năm đạt 58,5 tỷ USD, tương đương với mức tăng trưởng 34% so với cùng kỳ năm 2007 Ước tính giá trị kim ngạch xuất khẩu cả năm có thể đạt từ 63,5 - 64 tỷ USD, tức tăng gần 31% so với cùng kỳ năm 2007, tương đương gần 80% GDP cả năm Trong đó, 30% cơ cấu tăng trưởng là do tăng giá hàng xuất khẩu (đặc biệt trong những tháng đầu năm), 70% tăng trưởng nhờ tăng lượng hàng xuất khẩu Đây là mức tăng trưởng ấn tượng, và là mức tăng cao nhất trong vòng mười năm qua

Tuy nhiên, xu hướng giảm kim ngạch xuất khẩu từ tháng 8 đến nay cho thấy rõ tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Giá một

số mặt hàng giảm đáng kể (dầu thô giảm 29%, gạo giảm 10%, than đá giảm 7%,… so với mức giá ở thời điểm đầu năm), đồng thời nhu cầu ở các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản và cả thị trường ở châu Á, châu Đại Dương cũng đang có chiều hướng sụt giảm do những khó khăn chung về kinh tế và suy thoái toàn cầu

10.5 9.1 4.7

4.56 2.9 2.78 2.7 2 1.6 1.44 1

Dầu thô Dệt may Giày dép Thủy sản Gạo

Đồ gỗ Điện tử và linh kiện máy tính

Cà phê

Ca o su Than đá Dây điện và cáp điện

Cơ cấu hàng Xuất khẩu (tỷ USD)

Nguồn: Bộ Công thương

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Thâm hụt thương mại nghiêm trọng

Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam, như đã đề cập trong báo cáo vĩ

mô trước đây, đang ở mức báo động, khi nhập siêu của 6 tháng đầu năm tăng mạnh do

Trang 12

nhập khẩu, gây thâm hụt thương mại ở mức khoảng 14,8 tỷ USD, tăng 184,6% so với mức thâm hụt cùng kỳ năm 2007 Trong 6 tháng cuối năm, giá trị kim ngạch nhập khẩu có xu hướng giảm dần, nguyên nhân do nhu cầu trong nước sụt giảm bởi tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, và sự giảm giá chung của hàng hóa thế giới

Theo ước tính, giá trị kim ngạch nhập khẩu của cả năm 2008 đạt khoảng 79,91 tỷ USD, gần bằng 100% GDP cả năm Như vậy, nhập siêu của năm 2008 có thể lên đến

17 tỷ USD, tức là hơn 20% GDP của năm 2008, và tăng hơn 160% so với mức thâm hụt năm 2007 Sự gia tăng nhanh chóng mức thâm hụt thương mại sẽ tác động mạnh

và trực tiếp vào cán cân thanh toán của Việt Nam vốn đang mất cân bằng, kéo theo những áp lực lớn lên tỷ giá hối đoái, hạn chế tính hiệu quả trong thực thi các chính sách tỷ giá đang thực hiện

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn là máy móc thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất Đây cũng là nguyên nhân chính gây nên những thâm hụt thương mại nghiêm trọng trong năm 2008, khi giá nguyên liệu trên thế giới trong những tháng đầu năm liên tục tăng cao, cùng lúc với sự gia tăng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa trong nước cho các dự án đầu tư ồ ạt trong năm để đáp ứng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế liên tục của các nhà hoạch định chính sách kinh tế Việt Nam

10.5 9.8 5.7

3.3 2.7 2.3 2.0 1.8 1.4 1.4 1.3

Máy móc thiết bị

Xăng dầu

Sắt thép

Vải Máy tính, linh kiện …

(20) (10) -

Tình hình cán cân thương mại qua các năm (tỷ USD)

Kim ngạ ch xuấ t khẩ u (FOB) Kim ngạ ch nhậ p khẩ u (FOB)

Cá n câ n thương mạ i

Nguồn: Ngân hàng nhà nước, IMF

Thâm hụt thương mại của năm 2008 rất trầm trọng, nhưng được bù đắp bởi sự gia tăng đột biến của các nguồn thu ngoại tệ từ đầu tư nước ngoài và kiều hối, nên cán cân thanh toán hiện tại vẫn trong tình trạng cân bằng

Trong năm 2009, những lợi thế về sự gia tăng xuất khẩu, nguồn thu từ vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối không còn do cuộc khủng hoảng toàn cầu tiếp tục ảnh hưởng mạnh, do đó cán cân thanh toán có thể nằm trong tình trạng hết sức nghiêm trọng, có

Trang 13

khả năng tạo ra những bất ổn trong kinh tế vĩ mô của năm 2009

Sự bất thường của các dòng vốn đầu tư nước ngoài

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một động lực quan trọng cho chiến

lược thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và góp phần không nhỏ trong việc tạo ra ngoại tệ cho quốc gia Mặt khác, việc thu hút một lượng FDI lớn phần nào thể hiện niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài về môi trường kinh tế và tính hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam trong dài hạn

Cùng với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO và được đánh giá là một trong “Ba ngôi sao Châu Á năm 2007” (bên cạnh Trung Quốc và Ấn Độ) đã làm Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các luồng vốn đầu tư nước ngoài Vốn FDI đăng ký liên tục tăng những năm gần đây Năm 2007, Việt Nam thu hút được 20,3 tỷ USD cam kết đầu tư Vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đến cuối tháng 12/2008 đã vượt con số 64 tỷ USD Trong đó có 1.171 dự án với hơn 60 tỷ USD vốn cấp mới, tăng gấp 7 lần so với cùng

kỳ năm trước

Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục hành chính phức tạp và thiếu hụt nhân lực

có trình độ lại là những nguyên nhân gây cản trở, làm chậm tiến độ thực hiện và giải ngân vốn FDI Khi những vấn đề này chưa được cải thiện rõ rệt thì sẽ tiếp tục gây lãng phí những cơ hội kinh doanh hiệu quả và rất dễ làm nản lòng nhà đầu tư Năm

2007, có 4,6 tỷ USD được giải ngân trong số 20,7 tỷ USD vốn FDI cam kết, và trong năm 2008, chỉ có 12 tỷ USD được thực hiện trong tổng số vốn FDI cam kết là hơn 64

tỷ USD Và những vấn đề này sẽ tiếp tục là nguyên kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian tới

Cơ cấu vốn FDI đăng ký năm 2008 cũng có nhiều vấn đề cần xem xét Với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp thì tỷ trọng vốn FDI đầu tư vào các

dự án thuộc ngành thâm dụng lao động như các ngành công nghiệp nhẹ, dự án ngành nông, lâm, ngư nghiệp còn rất thấp Trong khi theo số liệu thống kê của năm 2008, số vốn FDI đăng ký đầu tư vào các dự án bất động sản (bao gồm các dự án khách sạn, khu đô thị, hạ tầng Khu công nghiệp – Khu chế xuất, văn phòng và căn hộ) đạt 23,7 tỷ USD, chiếm 39% tổng số vốn FDI đăng ký, các dự án về công nghiệp nặng chiếm 32%, và công nghiệp dầu khí chiếm 18% Đây là các dự án thâm dụng vốn, không tạo

ra được nhiều việc làm cho xã hội, và có nguy cơ chậm trễ hoặc trì hoãn tiến độ giải ngân trong tình hình khó khăn về vốn thời điểm hiện tại và sắp tới Ngoài ra, có cơ sở cho những hoài nghi về tính khả thi thực hiện của các dự án vốn FDI, đặc biệt là các

dự án bất động sản chủ yếu tập trung vào phân khúc thị trường cao cấp, vốn chỉ dành cho một bộ phận người có thu nhập cao và giới đầu cơ đang dần thu hẹp nhu cầu do

Trang 14

những khó khăn về kinh tế thời gian vừa qua, và các dự án đầu tư vào ngành công nghiệp nặng (chủ yếu đầu tư vào ngành thép) bởi những tập đoàn nước ngoài chưa có kinh nghiệm trong ngành và tiềm lực tài chính chưa được kiểm chứng.

Thống kê FDI của Việt Nam từ 1991 - 2008

FDI ca m kết % FDI thực hiện

19%

35%

42%

4%

Cơ cấu FDI năm 2008

Công nghiệp dầu khí

Công nghiệp nặng

Dự á n bấ t động sản

Công nghiệp nhẹ, thực phẩm

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Dòng vốn đầu tư gián tiếp FII tính từ đầu năm 2008 đã sụt giảm mạnh, có xu hướng

nhà đầu tư nước ngoài rút vốn ra khỏi thị trường và đảo chiều luồng vốn ngoại ra khỏi Việt Nam, khi các nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ròng trên thị trường chứng khoán những tháng cuối năm 2008 Nguy cơ này ngày càng rõ nét hơn khi tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu ngày càng trầm trọng, buộc các tổ chức tài chính và quỹ đầu tư nước ngoài rút vốn để hỗ trợ và đảm bảo thanh khoản vốn cho công ty mẹ đang có nhu cầu rất lớn về ngoại tệ Một nguyên nhân khác là xu thế chuyển vốn sang những thị trường được đánh giá là có mức giá đầu tư rẻ hơn, khi xuất hiện những lo ngại về triển vọng lợi nhuận không mấy sáng sủa của các doanh nghiệp Việt Nam và khả năng nền kinh tế có thể đình trệ trong năm tới Theo ước tính, lượng vốn gián tiếp các quỹ đầu tư đã đưa vào Việt Nam trong năm 2007 đạt khoảng 6,2 tỉ USD Đến cuối năm 2008, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài ước tính chỉ còn khoảng 2,5 tỷ USD, và có khả năng tiếp tục giảm trong năm tới

Lượng kiều hối chuyển về nước trong năm 2008 tăng mạnh Theo ước tính, lượng kiều hối cả năm sẽ đạt khoảng 8 tỷ USD, tăng 45% so với năm 2007 Nguyên nhân là

do thời gian qua nước ta đã có nhiều chính sách thông thoáng hơn về quản lý ngoại hối, cũng như ưu đãi, khuyến khích Việt kiều về nước đầu tư và cho phép mua nhà tại Việt Nam Đây là nguồn ngoại tệ rất quan trọng trong cân đối cán cân thương mại thường xuyên thâm hụt thời gian qua

Trang 15

Nguồn vốn Đầu tư gián tiếp FII (tỷ USD)

Nguồn: Ngân hàng nhà nước, ước tính của ORS

2.6

5.5

8

0 2 4 6 8

Nă m 2003 Nă m 2007 Nă m 2008

Nguồn: Ngân hàng nhà nước, ORS tổng hợp

Cam kết và giải ngân vốn ODA của Việt Nam trong những năm gần đây không

ngừng tăng lên và đạt mức kỷ lục khi mức cam kết tài trợ ODA cho năm 2008 đạt 5,4

tỷ USD Tuy nhiên, tiến độ giải ngân vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch – Đầu tư, tỷ lệ giải ngân của Việt Nam đối với vốn của Ngân hàng Thế giới chỉ đạt 11,6% so với mức 19,4% của khu vực; đối với vốn của JBIC chỉ đạt 13,6% so với mức bình quân 16,6% của quốc tế Nguyên nhân chủ yếu do vấn đề thủ tục hành chính phức tạp và cơ sở hạ tầng kém phát triển gây cản trở tiến độ giải ngân, đặc biệt trong năm 2008 biến động giá cả nguyên vật liệu rất mạnh cũng đã gây ảnh hưởng đến hầu hết các dự án đã ký kết với nhà tài trợ

Đối với năm 2009, phiên họp Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) diễn ra trong

2 ngày 4 – 5/12/2008 đã thu hút được số vốn ODA cam kết tài trợ khoảng 5,014 tỷ USD, thấp hơn năm 2008 khoảng 400 triệu USD, nhưng là con số khá ấn tượng trong tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu như hiện nay

Vấn đề đối với Việt Nam hiện tại chính là hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA Đây cũng là nguyên nhân làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài trong năm vừa qua, đặc biệt đối với nhà đầu tư Nhật Bản, xuất phát từ những sự cố vốn ODA thời gian gần đây Do vậy, nếu tình hình không được cải thiện rõ rệt trong thời gian tới khi nguồn vốn đầu tư trên thế giới vẫn đang có xu hướng giảm sút, có cơ sở cho những

lo ngại về hiệu ứng domino của các quốc gia khác đang có dự định tài trợ vốn hoặc đầu tư vốn vào Việt Nam, đồng nghĩa với việc giảm sút các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Ngày đăng: 17/02/2016, 01:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w