Các prostaglandin được các nhà khoa học nghiên cứu tổng hợp hay tìm kiếm từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên, đặc biệt là nguồn sinh vật biển và đã được phát hiện trong một số loài rong Đỏ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
…… ….***…………
LÊ TẤT THÀNH
NGHIÊN CỨU SÀNG LỌC, PHÂN LẬP VÀ NHẬN DẠNG CÁC HOẠT CHẤT AXIT BÉO, AXIT ARACHIDONIC VÀ PROSTAGLANDIN TỪ RONG ĐỎ BIỂN
Chuyên ngành: Hóa học các hợp chất thiên nhiên
Mã số: 62 44 01 17
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ -
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS Phạm Quốc Long
Người hướng dẫn khoa học 2: TSKH Andrey B Imbs
Phản biện 1: PGS.TS Hoàng Thanh Hương
Phản biện 2: GS.TS Lã Đình Mỡi
Phản biện 3: PGS.TS Trần Thu Hương
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ tại Phòng họp tầng 2, Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Vào hồi …… giờ ……, ngày …… tháng … năm 2016
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3I GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1 Tính cấp thiết
Nhóm các axit béo C20 đa nối đôi, điển hình là axit arachidonic (AA) và axit eicosapentaenoic (EPA), có vai trò quan trọng nhất trong nhóm chất lipit của cơ thể động vật bậc cao vì chúng là tiền chất để sinh tổng hợp ra các eicosanoid là nhóm các phân tử dẫn truyền tín hiệu sinh học (còn gọi là các hoocmon tổ chức) như các prostaglandin, prostacyclin, leukotrien, và thromboxan
Axit arachidonic là thành phần chính của các phospholipit cấu tạo nên màng của tế bào não, cơ bắp và gan và thường được phân lập từ lipit của gan, trứng của các loài cá biển AA cũng là thành phần chính trong lipit của một số loài rong biển Axit arachidonic có tác dụng kích hoạt hệ enzyme NADPH oxygenase giúp hoạt hoá quá trình trao đổi oxi, kích hoạt các kênh ion K+, Ca2+…
Các prostaglandin (PG) được hình thành từ các các axit béo C20 đa nối đôi qua quá trình chuyển hoá bằng enzym trong cơ thể và có chức năng sinh học quan trọng đối với động vật Chúng là một mắt xích quan trọng trong chuỗi phản ứng miễn dịch của cơ thể, liên quan đến các hiện tượng quan trọng như viêm tấy và ung thư Chúng cũng tác động lên khả năng chịu đựng của hệ cơ phẳng, hệ bài tiết, hệ tiêu hóa và hệ tuần hoàn trong cơ thể sống Chính vì vậy, chúng cũng được sử dụng làm thuốc để điều tiết các quá trình thụ thai, mang thai và sinh đẻ và vì thế được coi như một chất hormon Các prostaglandin được các nhà khoa học nghiên cứu tổng hợp hay tìm kiếm từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên, đặc biệt là nguồn sinh vật biển và đã được phát hiện trong một số loài rong Đỏ biển cùng với hàm lượng cao các axit béo không no đa nối đôi Vì thế rong đỏ biển được đánh giá là nguồn nguyên liệu tự nhiên tiềm năng để khai thác các hoạt chất này Trên cơ sở các phân tích nêu trên, chúng tôi đã lựa chọn rong Đỏ là
đối tượng nghiên cứu với đề tài: “Nghiên cứu sàng lọc, phân lập và nhận
dạng các hoạt chất axit béo, axit arachidonic và prostaglandin từ rong
Đỏ biển”
2 Mục tiêu của luận án
Mục tiêu rộng của luận án là điều tra, khai thác tài nguyên lipit trong các loài rong đỏ biển đỏ của Việt Nam Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
Trang 4Sàng lọc hóa học, xây dựng ngân hàng dữ liệu về hàm lượng lipit, thành phần axit béo và prostaglandin trong các mẫu rong đỏ biển đại diện cho các loài, các địa phương, các điều kiện sinh trưởng, nuôi trồng và thời
kỳ thu hoạch khác nhau Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tích lũy lipit và các thành phần nêu trên
- Tìm kiếm các loài rong Đỏ biển của Việt Nam có tiềm năng thu nhận các thành phần lipit có giá trị, đặc biệt là các axit béo C20 đa nối đôi và các prostaglandin
- Thử nghiệm nuôi trồng một số loài rong đỏ chọn lọc, trong đó có: một loài rong Đỏ có giá trị di thực từ LB Nga; một loài rong Đỏ của Việt Nam Xác định động thái hình thành, tích luỹ axit béo và PG của nó trong quá trình nuôi trồng
- Xây dựng phương pháp phân lập các hoạt chất AA, PG từ các loài rong Đỏ biển
3 Nội dung nghiên cứu của luận án
- Phân tích hàm lượng lipit và thành phần axit béo của 68 mẫu rong đỏ Việt Nam và 01 mẫu rong đỏ LB Nga
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và tích luỹ lipit
và các axit béo của rong Đỏ
- Sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính PCA và phương pháp phân tích chùm để xử lý tập dữ liệu về thành phần axit béo của các mẫu rong đỏ, tìm các mối quan hệ giữa các mẫu với nhau và với các thành phần axit béo
- Sàng lọc các hoạt chất prostaglandin và axit arachidonic trong các mẫu rong Đỏ biển thu thập được
- Khảo sát một số điều kiện sinh trưởng và phát triển của loài rong câu
Gracilaria vermiculophylla thu từ vùng biển Viễn Đông - Liên bang Nga
trong điều kiện PTN để theo dõi sự biến động hàm lượng các axit béo và prostaglandin trong quá trình nuôi trồng
- Phân lập, nhận dạng và chứng minh cấu trúc PGE2, PGE3 và axit arachidonic từ loài rong Đỏ có tiềm năng thu ở biển Việt Nam và biển Viễn Đông – Liên Bang Nga
Trang 54 Những đóng góp mới của luận án
1 Tập dữ liệu về hàm lượng lipit, thành phần axit béo và prostaglandin của 69 mẫu đại diện cho 25 loài thuộc 9 họ rong đỏ biển của Việt Nam thu ở các địa phương, các điều kiện sinh trưởng, nuôi trồng và thời kỳ thu hoạch khác nhau cùng với 01 mẫu rong đỏ Liên bang Nga; Kết quả xác định và đánh giá các nhóm axit béo có giá trị cao thuộc các dãy omega-3, omega-6, các axit béo không no thiết yếu PUFA và HUFA, trong đó lần đầu tiên xác định được axit C22:6n-3 (DHA) có trong 5 mẫu rong đỏ
2 Kết quả sử dụng phương pháp phân tích PCA và phân tích chùm xử
lý tập số liệu 12 thành phần axit béo chính yếu của 69 mẫu rong đỏ thu được cho phép phân biệt khá rõ ràng các mẫu thuộc 3 họ Gracilariaceae, Hypneaeceae và Ceraminaceae và mối liên hệ của chúng với nhau
3 Phương pháp xác định định tính và định lượng PGE2 từ các loài rong
Đỏ biển Từ đó đã sàng lọc tìm PGE2 trong 69 mẫu nghiên cứu và xác định được 3 loài rong Câu có hàm lượng PGE2 cao và có khả năng khai thác hoạt chất này
4 Kết quả khảo sát sự biến động và tích luỹ hàm lượng các axit béo và
prostaglandin của loài rong Gracilaria vermiculophylla LB Nga
trong quá trình nuôi trong phòng thí nghiệm ở Việt Nam
5 Phân lập, nhận dạng và chứng minh được cấu trúc của hoạt chất PGE2, PGE3 và AA từ nguyên liệu rong Đỏ biển
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Luận án đã bổ sung cho kho dữ liệu điều tra cơ bản tài nguyên HCTN biển của Việt Nam các số liệu về hàm lượng lipit, thành phần các axit béo và hàm lượng prostaglandin của 70 mẫu đại diện cho 25 loài thuộc
9 họ rong Đỏ biển của Việt Nam, có so sánh với 1 mẫu rong biển có giá trị kinh tế của LB Nga
- phương pháp phân lập, nhận dạng PGE2, PGE3 và axit arachidonic trong rong đỏ biển cùng với kết quả nghiên cứu động thái tích luỹ các hoạt chất này là cơ sở khoa học cho việc sàng lọc và định hướng khai thác nguồn hoạt chất này từ các nguồn rong biển Việt Nam
Trang 66 Bố cục của luận án
Luận án gồm 133 trang, trong đó có 37 hình, 15 bảng, 4 biểu đồ Bố cục của luận án: Mở đầu (3 trang); Chương 1: Tổng quan (36 trang); Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (13 trang), Chương 3: Thực nghiệm (8 trang); Chương 4: Kết quả và thảo luận (60 trang); Kết luận và kiến nghị (3 trang); Tài liệu tham khảo (9 trang); Ngoài ra còn có
51 trang phụ lục với các hình phổ, kết quả phân tích TLC, GC và GC-MS, HPLC, NMR
II NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
MỞ ĐẦU
Phần mở đầu đề cập đến ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn, đối tượng
và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Việc đánh giá tổng quan tài liệu cho thấy, nguồn hoạt chất axit béo, đặc biệt là các eicosanoit như prostaglandin có hoạt tính mạnh ở nồng độ thấp và đã có nhiều ứng dụng làm thuốc Việc tìm kiếm nguồn hoạt chất này từ nguồn nguyên liệu có khả năng tái tạo cao như rong biển có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đây cũng là vấn đề mới trên thế giới và Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu sẽ đóng góp thêm các số liệu điều tra cơ bản về lớp chất lipit và các hoạt chất sinh học từ lớp chất này của đối tượng rong Đỏ biển Nghiên cứu cũng có giá trị thực tiễn cao mở ra triển vọng nuôi trồng, khai thác phát triển nguồn nguồn lợi rong biển phục vụ phát triển kinh tế vùng ven biển
Trang 7CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là 69 mẫu của 9 họ thuộc ngành rong đỏ Rhodophyta trong đó họ: Gracilariaceae (47 mẫu của 8 loài), Hypneaceae (10 mẫu của 7 loài), Ceramiaceae (4 mẫu của 3 loài), Bangiaceae (2 mẫu của 2 loài), Hylamaniaceae (2 mẫu của 1 loài), Bonnemaisioniaceae (1 mẫu), Phyllophoraceae (1 mẫu), Rhodymeniaceae (1 mẫu), Halymeniaceae (1 mẫu)
Vị trí thu mẫu: 68 mẫu thu ở biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Ninh Thuận; 01 mẫu thu tại vùng biễn Viễn Đông – Liên bang Nga
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu và bảo quản mẫu
Việc thu mẫu ở vùng triều dựa vào quy phạm tạm thời điều tra tổng hợp biển (phần rong biển) của Uỷ ban KHKT Nhà nước ban hành năm
1981 Khảo sát vùng dưới triều dựa vào tài liệu hướng dẫn của Wilkinson
& Baker 1997 bằng thiết bị lặn SCUBA
Mẫu rong biển sau khi thu (khoảng 2 kg tươi) được rửa sạch bằng nước mặn sau đó rửa bằng nước ngọt và bảo quản ngay trong nhiệt độ≤
4OC, sau đó chia đôi và bảo quản bằng tủ lạnh sâu ở -20OC và -47OC
2.2.2 Phương pháp phân lập, tách chiết lipit, axit béo, AA, PG
2.2.2.1 Phương pháp chiết lipit tổng
Chiết lipit tổng bằng phương pháp đặc hiệu Bligh&Dyer, 1959, sử dụng hệ dung môi CHCl3 : CH3OH với tỉ lệ 1/2 (v/v)
2.2.2.2 Phương pháp phân lập các axit béo, AA, PG
Để phân lập các axit béo, axit arachidonic, prostaglandin từ rong đỏ
sử dụng các phương pháp sắc kí lớp mỏng (TLC), sắc kí lớp mỏng điều chế, sắc kí cột áp xuất thường (CC), sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Trang 82.2.3 Phương pháp xác định thành phần, hàm lượng và cấu trúc các axit béo, AA, PG
2.2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc các hợp chất
Sử dụng phương pháp phổ khối lượng ion hoá phun mù điện tử
ESI-MS, phổ khối bắn phá điện tử EI-ESI-MS, phổ khối phân giải cao TOF, các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1 chiều 1H-NMR, 13C-NMR, DEPT và các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều
LCMS-IT-1H-1H COSY, HSQC, HMBC, NOESY
2.2.4 Phương pháp phân tích cấu tử chính
Phương pháp phân tích cấu tử chính (PCA, Principle Component
Analysis) và phân tích chùm (cluster analysis) được sử dụng để xử lý các
số liệu đa biến về thành phần các axit béo của các mẫu rong đỏ nhằm tìm ra các mối tương quan của chúng với nhau Phần mềm Statistica-PCA 69 được sử dụng để thực hiện phép phân tích cấu tử chính và phần mềm Surfer
32 được sử dụng để thực hiện phép phân tích chùm Các số liệu được xử lý trước khi phân tích bằng phần mềm Microsof Excel
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM
Các mẫu được tiến hành nghiên cứu theo sơ đồ chung như sau:
Trang 9
3.1 Chiết tách và xác định hàm lượng lipit tổng
Cân 100 gam mẫu rong biển tươi, nghiền nhỏ bằng máy xay, chiết bằng hệ dung môi CHCl3:CH3OH tỉ lệ 1:2 (100ml CHCl3: 200ml CH3OH), siêu âm trong 6 giờ Bổ sung 100ml CHCl3, thêm 100ml nước cất, lắc đều, đợi phân lớp lấy phần dung dịch ở phía dưới, rửa lại bằng nước cất thêm 2 lần sau đó làm khan bằng Na2SO4 Cô cất loại dung môi thu lipit tổng (phương pháp chiết được lặp lại 3 lần lấy giá trị trung bình)
3.2 Xác định thành phần và hàm lượng các axít béo
Lấy 10mg lipit tổng được hòa tan với 1ml n-hexan trong lọ nhỏ nút kín, bổ
sung 25ml dung dịch CH3ONa 30% và lắc kĩ trong 1 phút Thêm vào 20mg
Na2SO4 loại sạch, lắc kĩ và đem ly tâm ở chế độ 5000 vòng/phút trong 1 phút Dịch trong, sạch ở pha trên được tách riêng, kiểm tra trên sắc kí bản mỏng (TLC) Tiến hành phân tích trên máy sắc kí khí GC, nhận dạng axit béo bằng phần mềm chuyên dụng, tính toán chuyển đổi qua giá trị thời gian lưu tương đương ECL (Equivalent Chain Length) có sử dụng hệ chất chuẩn là các axit béo C16:0 và C18:0 Kết quả được tính theo công thức:
3.3.2 Phân tích định lượng PGE 2 trong các mẫu rong Đỏ
Dịch chiết etyl axetat được metyl và silyl hoá và xác định hàm lượng PGE2 bằng GC-MS Nhận dạng prostaglandin bằng phần mềm chuyên dụng, tính toán chuyển đổi qua giá trị thời gian lưu tương đương ECL, sử dụng hệ chất
Trang 10chuẩn là PGB2 và PGE2 Tính toán hàm lượng PGE2 có trong 1 g rong tươi (µg/g rong tươi)
3.3.3 Khảo sát sự biến động và tích luỹ prostaglandin và axit béo trong quá trình sinh trưởng và phát triển của loài rong câu Gracilaria vermiculophylla của Nga nuôi trong PTN ở Việt Nam
Mô tả chi tiết cách bố trí thí nghiệm theo dõi sự sinh trưởng và phát
triển của loài rong G vermiculophylla nuôi trong phòng thí nghiệm Thu
mẫu và phân tích đánh giá biến động hàm lượng PG, các axit béo
3.4 Phân lập prsotaglandin từ rong Đỏ
3.4.1 Phân lập PGE 2 từ loài rong câu Gracilaria vermiculophylla
Sơ đồ phân lập PGE2 gồm các bước: Xử lí mẫu; Chiết dịch tổng bằng etyl axetat; Phân lập và tinh chế PGE2 bằng HPLC điều chế
• Các dữ liệu phổ của PGE 2 phân lập được:
Hợp chất phân lập được dạng bột, màu vàng Điểm nóng chảy 65,5 – 660C
Rf = 0,5 (TLC, silica-gel, C6H6 : EtOAc 1:1, màu vàng, H2SO4 10%/ MeOH) Phổ khối ESI-MS: m/z = 375 [M+Na]+
Phổ 1H-NMR (500 MHz, CDCl3 & CD3OD), δ ppm: 5,62 (1H, m,
H-14); 5.58 (1H, m, H-13); 5,43 (1H, m, H-5); 5,34 (1H, m, H-6); 4,06 (2H,
m, H-11, H-15); 2,70 (1H, ddd, J = 1.5, 7.5, 18.0 Hz, H-10a); 2,42 (1H, m, H-12); 2,35 (2H, m, H-7); 2,29 (2H, t, J = 7,5 Hz, H-2); 2,18 (1H, m, H-8);
2,17 (1H, m, 10b); 2,09 (2H, m, 4); 1,67 (2H, qd, J = 2,0; 7,5 Hz, 3); 1,58 (1H, m, H-16a); 1,48 (1H, m, H-16b); 1,30-1,40 (6H, m, H-17, H-
H-18, H-19) và 0,91 (3H, t, J = 7.0 Hz, H-20)
Phổ 13C-NMR (125 MHz, CDCl3 & CD3OD), δ ppm: 216,7 (C-9); 177,0 (C-1); 137,4 (C-14); 131,8 (C-13); 131,6 (C-5); 127,3 (C-6); 73,4 (C-15); 72,5 (C-11); 55,3 (C-8); 53,9 (C-12); 47,1 (C-10); 37,9 (C-16); 34,1 (C-2); 32,5 (C-18); 27,4 (C-4); 26,0 (C-17); 25,6 (C-3); 25,5 (C-7); 23,3 (C-19) và 14,3 (C-20)
3.4.2 Nhận biết PGE 3 từ loài rong câu Gracilaria vermiculophylla
Dịch chiết etyl axetat của loài rong câu Liên bang Nga Gracilaria
tenuistipitata được tách thành các phân đoạn trên cột thường Phân đoạn 5
giàu PGE3 (phát hiện bằng TLC) được phân tích bằng phương pháp HPLC
Trang 11liên kết với MS/MS phân giải cao trên máy LCMS-IT-TOF của hãng Shimadzu Chế độ HPLC: cột C18 (100mm x 2,1mm, ID 3 µm, Supelco, USA), hệ dung môi MeOH:AcOH:H2O biến đổi gradient, tốc độ dòng 2ml/phút Chế độ MS: Mẫu đo được ion hóa bằng phương pháp APCI (positive-ion mode), quá trình phân mảnh của các ion giả phân tử được xác
• Các dữ liệu phổ của hợp chất phân lập được (etyl arachidonat)
Phổ khối EI-MS: m/z = 332 [M]+
Phổ 1H NMR (500 MHz, CDCl3), δ ppm: 5,37 (8H, m, 5, 6,
H-8, H-9, H-11, H-12, H-14, và H-15); 4,12 (2H, q, J = 7,0; 14.0 Hz, H-21); 2,81 (6H, m, H-7, H-10, H-13); 2,30 (2H, t, J = 7,5 Hz, H-2); 2,10 (2H, m, H-4); 2.06 (2H, m, H-16); 1,70 (2H, q, J = 7.5 Hz, H-3); 1.36 (2H, m, H- 19); 1,30 (4H, m, H-17, H-18); 1.27 (3H, t, J = 7.0 Hz, H-22); 0,90 (3H, t, J
= 7,0 Hz, H-20)
Phổ 13C NMR (125 MHz, CDCl3,), δ ppm: 173,6 1); 130,4
(C-15); 129.0 (C-8); 128,8 (C-9); 128,5 (C-11); 128,2 (C-12 và C-14); 127,9 (C-5); 127,5 (C-6); 60,2 (C-21); 33,7 (C-2); 31,5 (C-18); 29,3 (C-17); 27,2 (C-16); 26,5 (C-4); 25,6 (C-3, C-7, và C-10); 24,8 (C-3); 22,5 (C-19); 14,2 (C-22); 14,0 (C-20)
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Nghiên cứu sàng lọc lipit và axit béo của rong Đỏ
4.1.1 Khảo sát hàm lượng lipit tổng
Kết quả xác định hàm lượng lipit tổng của 69 mẫu rong Đỏ, chúng tôi chia thành 4 nhóm: Nhóm I có hàm lượng lipit ≤0,2% (nhóm có hàm lượng lipit thấp); Nhóm II từ >0,2 đến ≤0,4% (nhóm có hàm lượng lipit trung bình); Nhóm III từ >0,4 đến ≤0,6% (nhóm có hàm lượng lipit cao);
Trang 12Nhóm IV >0,6% (nhóm có hàm lượng lipit rất cao) Hàm lượng lipit tổng của 68 mẫu rong Đỏ ở Việt Nam dao động từ 0,118 đến 0,734% khối lượng tươi trong đó có 14 mẫu thuộc nhóm I, 45 mẫu thuộc nhóm II, 5 mẫu thuộc nhóm III và 4 mẫu ở họ rong Đông thuộc nhóm IV có 4 mẫu có hàm lượng lipit tổng đạt 0,604-0,734% Riêng mẫu rong câu của LB Nga có hàm lượng lipit cao nhất, đạt 1,39% khối lượng tươi
4.1.2 Khảo sát thành phần và hàm lượng các axit béo
4.1.2.1 Thành phần và hàm lượng axit béo của rong câu
Đã xác định được 55 loại axit béo có mạch cacbon từ C12 đến C25
Axit béo no SFA: hàm lượng SFA trung bình là 69,886%, dao động
từ 34,68% (mẫu TAX) đến 84,8% (mẫu N15) 50% số mẫu có hàm lượng SFA trong khoảng từ 66,025% đến 75,455%.
PUFA: hàm lượng trung bình là 9,807% dao động từ 1,06 đến
49,41% 50% số mẫu có hàm lượng PUFA trong khoảng từ 4,9 đến 12,43% Trong số mẫu có hàm lượng PUFA cao phải kể đến mẫu TAX hàm lượng cao nhất đạt 49,41%, mẫu A3 là 22,52%, mẫu A5 là 21,33%,
mẫu A16 là 17,86%
Chỉ trừ mẫu N15, tất cả các mẫu đều chứa HUFA, một số mẫu có hàm lượng HUFA rất cao như TAX là 35,53%, T28 là 19,47%, A5 là 18,76%,
A16 là 15,51%, A3 là 14,93%
Omega-3: hàm lượng chỉ đạt 1,501%, dao động từ 0 đến 18,44%
Thành phần omega-3 chủ yếu là 2 axit béo C20:5n-3 (eicosapentaenoic axit
- EPA) và axit C22:5n-3 (Docosapentaenoic acid, DPA) Tuy nhiên, EPA xuất hiện ở nhiều mẫu hơn và có hàm lượng cao hơn, cá biệt có mẫu T29 hàm lượng EPA là 8,17% tổng axit béo
Omega-6: hàm lượng trung bình là 8,174%, dao động từ 0,61% đến
46,34% Omega-6 cao nhất là mẫu rong Câu Nga đạt 46,34%, gấp > 2 lần mẫu có hàm lượng cao nhất của Việt Nam (mẫu A5), đạt 21,08%
Thành phần omega-6 chủ yếu là 3 axit: C18:2n-6, C20:3n-6,
C20:4n-6, trong đó axit chiếm hàm lượng cao nhất trong tất cả các mẫu là C20:4n-6 (axit arachidonic)
Trang 13Omega-9: Hàm lượng nhóm omega-9 trung bình đạt 10,389%, dao
động trong khoảng 3,17 đến 19,79% Trong đó chủ yếu là axit C18:1n-9 (axit oleic), trung bình đạt 9,39%
Về chỉ số PUFA/SFA: Giá trị trung bình đạt 2,454, dao động từ 0
đến 16,12 Theo khuyến cáo của WHO, yêu cầu cho thực phẩm lành là chỉ
số PUFA/SFA >0,4 thì có đến 45/47 mẫu (chiếm 95,7%) đạt yêu cầu
Về chỉ số n3/n6: Giá trị trung bình đạt 0,176, dao động từ 0 đến
4,64 Theo khuyến cáo của WHO, thực phẩm có chỉ số n3/n6 >0,1 là tốt cho sức khoẻ con người Kết quả phân tích cho thấy có 24 mẫu đạt yêu cầu, trong đó có một số mẫu có chỉ số n3/n6 cao như: T29 (2,17), A3 (2,11), A16 (1,3), T28 (0,93)
4.1.2.2 Thành phần và hàm lượng các axit béo của các loài thuộc chi
Hypnea họ rong Đông
Axit béo no: chiếm hàm lượng cao, trung bình là 67,53%, dao động
từ 53,52% đến 78,44%
PUFA: Hàm lượng PUFA của họ rong Đông tương đương với họ
rong Câu Hàm lượng PUFA trung bình đạt 9,07%, dao động từ 3,88% đến 29,13%
HUFA: Hàm lượng HUFA của họ rong Đông thấp hơn họ rong Câu
Hàm lượng trung bình là 6,02%, doa động từ 1,57% đến 22,35%
Omega-3: Hàm lượng omega-3 của họ rong Đông cao hơn họ rong
Câu xong hàm lượng vẫn thấp, đạt trung bình là 3,1%, dao động từ 0 đến 6,78%
Tiếp tục phát hiện 02 mẫu có DHA là N2 và N11 với hàm lượng tương ứng là 1,07% và 2,61%
Omega-6: Hàm lượng omega-6 của họ rong Đông thấp hơn họ rong
Câu, đạt giá trị trung bình là 5,87%, dao động từ 1,38% đến 22,35% Hai axit béo omega-6 xuất hiện phổ biến ở các mẫu là C18:2n-6 (9/10 mẫu), C20:4n-6 ( 8/10 mẫu)
Khác với chi Gracilaria, họ rong Câu (Gracilariaceae), thành phần axit béo của các mẫu thuộc chi Hypnea, họ rong Đông (Hypneaceae) có sự
khác biệt rõ rệt giữa các loài thậm chí cả trong quần chủng loài như các
mẫu N6, N10 và N11 của loài H flegilliformis hoặc ở các mẫu N12 và T11
Trang 14của loài H japonica Ví dụ như đối với AA ở các mẫu N10 và N11 của loài
H flegelliformis hàm lượng chỉ đạt 0,33 và 0,1% thì ở cùng loài là N6 lại
lên tới 22,35%
4.1.2.3 Thành phần và hàm lượng các axit béo của 12 mẫu thuộc 7 họ rong
Đỏ Ceramiaceae, Bangiaceae, Hylamaniaceae, Bonnemaisoniaceae, Phyllophoraceae, Rhodymeniaceae, Halymeniaceae
Biểu đồ 4.2 Hàm lượng các họ axit béo của 12 mẫu thuộc 7 họ rong Đỏ
Đã xác định được 47 axit béo C12 đến C24.
Axit béo no: Hàm lượng SFA trung bình là 65,05%, dao động từ
40,18% đến 76,92%.
PUFA: hàm lượng trung bình là 13,47%, dao động từ 3,35% đến
36,12% 50% số mẫu trong khoảng 7,51% đến 12,78%
HUFA: hàm lượng trung bình là 9,48%, dao động từ 0 đến 30,8%
50% số mẫu nằm trong khoảng từ 2,88% đến 11,67%
có hàm lượng trung bình là 3,84%, dao động từ 0 đến 17,67%
Tiếp tục phát hiện 2 mẫu rong Đỏ có chứa DHA là mẫu N4, loài
Liagora sp1, hàm lượng đạt 1,82% và mẫu T2, loài Grateloupia lithophila,
hàm lượng đạt 0,6% tổng axit béo
có hàm lượng trung bình là 9,6%%, dao động từ 2,1% đến 18,89% Thành phần omega-6 quan trọng nhất là AA (11/12) mẫu, điển hình là mẫu T2, và
N9 (loài Grateloupia lithophila) hàm lượng AA đạt lần lượt là 16,1% là
14,45%