1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNGTHƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008

11 1,6K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 51,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những nữ nội trợ đã từng khám phụ khoa kiểm tra, chỉ có 19,3% biết mình có được làm xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung.. Bảng 3: Kiến thức của các nữ nội trợ về đối tượng cần làm

Trang 1

KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008

Nguyễn Thanh Hiệp*, Lê Minh Nguyệt*, Trương Thị Bích Hà*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Ung thư cổ tử cung là một trong hai loại ung thư thường gặp nhất ở phụ

thế giới.

Mục tiêu: Khảo sát kiến thức – thái độ – hành vi về việc tầm soát ung thư cổ tử cung

của nữ nội trợ từ 18-65 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên đối tượng là nữ nội trợ

sống tại thành phố Hồ Chí Minh từ 25/02/2008 đến 11/05/2008 Số liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn từ 768 nữ nội trợ.

Kết quả: Kết quả cho thấy tỷ lệ nữ nội trợ có kiến thức khá-tốt về ung thư cổ tử cung và

tầm soát bệnh là 27,7% Có 75,7% nữ nội trợ cho rằng tầm soát ung thư cổ tử cung là cần thiết Trong số những nữ nội trợ đã có quan hệ tình dục, tỷ lệ người có đi khám phụ khoa kiểm tra trong vòng 3 năm qua là 23,3% và chỉ có 12% là có chủ động đi khám phụ khoa định kỳ 6-12 tháng Trong số những nữ nội trợ đã từng khám phụ khoa kiểm tra, chỉ có 19,3% biết mình có được làm xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung.

Kết luận: Cần có những kế hoạch nâng cao kiến thức và sự quan tâm đúng mức về

chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung cho các nữ nội trợ.

Từ khóa: Ung thư cổ tử cung, Phết tế bào âm đạo – Cổ tử cung,…

ABSTRACT

KNOWLEDGE – ATTITUDE - PRACTICE OF CERVICAL CANCER SCREENING AMONG THE HOUSEWIVES AT THE AGE OF 18-65 IN HO CHI MINH CITY

FROM 25/2/2008 TO 11/5/2008

Nguyen Thanh Hiep, Le Minh Nguyet, Truong Thi Bich Ha

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 2 - 2010: 80 - 85

Background: Cervical cancer is one of the two popular kinds of cancer in women

worldwide.

Objective: To evaluate knowledge - attitude - practice of cervical cancer screening

among the housewives in Ho Chi Minh City.

Method: Cross-sectional study among the housewives of Ho Chi Minh City from

02/25/2008 to 05/11/2008 Data were collected by self-answered questionnaires from a total

of 768 women.

Results: The proportion was 27.7% for good knowledge about cervical cancer and

cervical cancer screening 75.7% housewives thought that cervical cancer screening is necessary Among the housewives who had sexual intercourse, the proportion of women having gynaecological examination within the last three years was 23.3% and just only 12%

Trang 2

of them had annual gynaecological examination Among women had gynaecological examination, only 19.3% of them knew that they had been done a Pap test.

Conclusions: we need more projects increasing the knowledge about cervical cancer

screening program, changing women’s awareness, and increasing the proportion of women who have annual gynaecological examination for cervical cancer screening.

Keywords: Cervical cancer, Pap test, gynaecological examination.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư CTC là một trong hai loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ trên thế giới cũng như tại Việt Nam Tại Việt Nam, cùng với ung thư vú, ung thư cổ tử cung là loại ung thư có tần suất gặp cao nhất ở phụ nữ Việt Nam với tỷ suất mới mắc là 17,3/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 11/100.000 dân (năm 2000)(1).Tuy nhiên ung thư CTC có nhiều đặc điểm mà dựa vào đó chúng ta có thể hy vọng đẩy lùi hoàn toàn căn bệnh này Đây là loại ung thư có một giai đoạn diễn tiến lâm sàng khá lâu trước khi bệnh diễn tiến đến ung thư tại chỗ hay xâm lấn Việc phát hiện ung thư CTC ở giai đoạn sớm sẽ cho một kết quả điều trị rất khả quan(2) Chương trình tầm soát ung thư CTC, với công cụ sàng lọc đại trà đầu tiên là phết tế bào CTC hay xét nghiệm Pap và hiệu quả của việc điều trị sớm đã góp phần làm giảm tỷ lệ mắc ung thư CTC tại nhiều quốc gia trên thế giới(2)

Trên thực tế, tại thành phố Hồ Chí Minh, theo nghiên cứu tại bệnh viện Ung Bướu năm 2006 trên 379 bệnh nhân thì có đến 65,4% được chẩn đoán ở giai đoạn muộn(1), cũng như tỷ lệ bệnh ung thư mới mắc hàng năm vẫn chưa giảm đáng kể mặc dù ngành y tế đã

nỗ lực rất nhiều Điều này là do còn một số hạn chế trong công tác tầm soát ung thư hay còn do những yếu tố nào nữa từ phía cộng đồng và đặc biệt là do chính bản thân người phụ nữ? Đối với các nữ nội trợ, nhóm đối tượng không có thu nhập, ít chủ động về kinh

tế có thể gây khó khăn cho họ khi tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản(3) Ngoài ra, các nữ nội trợ do không làm việc trong các đơn vị tổ chức nào nên có thể sẽ ít quan tâm và không bị bắt buộc tham gia các loại hình bảo hiểm, trong đó có bảo hiểm y

tế Đây sẽ là yếu tố thiệt thòi cho họ khi đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang (Cross-sectional)

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Phụ nữ từ 18-65 tuổi

Hiện tại đang là nội trợ: không tham gia vào bất kì loại hình kinh tế nào trong vòng ít nhất 1 năm tính đến thời điểm hiện tại

Đang sống tại các quận/huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh: có hộ khẩu thường trú hoặc

có đăng kí tạm trú dài hạn (> 1 năm) tại các quận/huyện thuộc thành phố Hồ Chi Minh

Có khả năng trả lời bảng câu hỏi: có khả năng nghe, đọc và hiểu tiếng Việt ở mức độ một người bình thường

Đồng ý trả lời bảng câu hỏi

Trang 3

Tiêu chuẩn loại trừ

Không thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu nêu trên

Cỡ mẫu

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu:

Áp dụng vào công thức ta tính được n = 384

Vì áp dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm nhiều giai đoạn nên để loại trừ sai số chọn mẫu do hiệu ứng cụm cần nhân cỡ mẫu với một hệ số ước lượng khoảng bằng 2 Do đó, cỡ mẫu là n x 2 = 384 x 2= 768 người

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu theo cụm nhiều giai đoạn (Multistage cluster sampling)

Các giai đoạn chọn mẫu:

Giai đoạn 1: Bốc thăm ngẫu nhiên để chọn các quận /huyện.

Giai đoạn 2: Bốc thăm ngẫu nhiên để chọn các phường/xã.

Giai đoạn 3: Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống.

Phương pháp thu thập số liệu

Gửi bảng câu hỏi soạn sẵn (với tên và địa chỉ đã được mã hóa) đến đối tượng cần được phỏng vấn thông qua các tổ trưởng tổ dân phố và các trưởng thôn

KẾT QUẢ

Kiến thức về ung thư CTC và tầm soát bệnh của các nữ nội trợ.

Biểu đồ 1: Tỷ lệ nữ nội trợ từng nghe về ung thư CTC và xét nghiệm PAP (n=768 người).

Trang 4

Bảng 1: Kiến thức của các nữ nội trợ về bệnh ung thư CTC (n=768 người).

Tần số Tỷ lệ (%)

(n=768)

Bệnh ung thư CTC có thể được phát

hiện sớm

Bệnh ung thư CTC có thể điều trị tốt

hơn nếu được phát hiện sớm

Bệnh ung thư CTC có thể có dù

không có triệu chứng gì Không biếtBiết 235533 30,669,4

Bảng 2: Kiến thức của các nữ nội trợ về mục đích xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC (n = 768

người).

Từng nghe về XN PAPsmear Tần số Tỷ lệ (%) (n=543) Tỷ lệ cộng dồn Tỷ lệ (%) (n=768)

Đã

từng

nghe

Phát hiện nguyên nhân viêm nhiễm

sinh dục

Phát hiện ung thư nhưng không rõ

Trang 5

Bảng 3: Kiến thức của các nữ nội trợ về đối tượng cần làm xét nghiệm phết tế bào ÂĐ –

CTC (n=768 người).

Từng nghe về XN PAPsmear Tần số Tỷ lệ (%) (n=543) Tỷ lệ cộng dồn Tỷ lệ (%) (n=768)

Đã

từng

nghe

Người có triệu chứng nặng

Người có nguy cơ (giao hợp

Tất cả phụ nữ đã có quan hệ

Bảng 4: Kiến thức của các nữ nội trợ về khoảng cách giữa 2 lần xét nghiệm tầm soát ung

thư CTC (n=768 người).

Từng nghe về XN

Tỷ lệ (%) (n=543) Tỷ lệ cộng dồn

Tỷ lệ (%) (n=768)

Đã

từng

nghe

Không cần kiểm tra

Đến khi có triệu

Định kì mỗi 6 – 12

Trang 6

Biểu đồ 2: Tỷ lệ nữ nội trợ phân bố theo điểm kiến thức về ung thư CTC và tầm soát bệnh

(n=768 người).

Thái độ về việc tầm soát ung thư cổ tử cung của các nữ nội trợ

Bảng 5: Thái độ về việc khám phụ khoa của các nữ nội trợ (n =768 người).

Nghĩ là không cần thiết vì

không có triệu chứng

Bảng 6: Thái độ về bệnh ung thư CTC và tầm soát bệnh của các nữ nội trợ (n=768 người).

Tần số Tỷ lệ (%)

(n=768) Niềm tin bệnh ung thư là số phận

Nghĩ bệnh là số phận, không thể tránh khỏi 44 5,7 Không nghĩ bệnh là số phận, có thể tránh khỏi 582 75,8

Thái độ quan tâm đến việc tầm soát bệnh

Không quan tâm xem mình có bệnh hay không 0 0,0 Cho rằng tầm soát ung thư CTC là cần thiết 581 75,7

Niềm tin về khả năng chữa khỏi bệnh

Tin tưởng sẽ trị được nếu phát hiện sớm 357 46,5

Trang 7

Hành vi tầm soát ung thư cổ tử cung của các nữ nội trợ

Biểu đồ 3: Hành vi đi khám phụ khoa của các nữ nội trợ (n=649 người đã có quan hệ tình

dục).

Bảng 7: Tỷ lệ nữ nội trợ biết mình làm xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC (n=768 người).

Tần số Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)

(n=768)

Từng khám phụ khoa

kiểm tra.

Có được làm xét

Không được làm

XN PAP smear

Trang 8

Bảng 8: Tỷ lệ nữ nội trợ phân bố theo hoàn cảnh đi khám phụ khoa kiểm tra (n=192người

từng đi khám phụ khoa kiểm tra).

Khám sức khỏe cơ quan/Khi có đoàn khám bệnh đến khám 18 9,4

Chủ động đi khám nhưng không theo định kì mỗi 6-12

tháng

Chủ động đi khám định kỳ mỗi 6-12 tháng 116 60,4

Bảng 9: Nơi các nữ nội trợ thường đến để khám phụ khoa kiểm tra (n=172 người chủ động

đi khám phụ khoa).

Tần số Tỷ lệ (%)

Trung tâm bảo vệ sức khỏe bà mẹ –trẻ em 12 7,1

Trung tâm y tế (bệnh viện quận/huyện) 44 25,5

Bảng 10: Lý do các nữ nội trợ không đi khám phụ khoa (n=768 người).

Nghĩ là không cần thiết vì không có triệu chứng 479 62,4

Không hài lòng với thái độ nhân viên y tế 78 10,2

Trang 9

BÀN LUẬN (2 1 3)

Kiến thức về tầm soát ung thư CTC.

Tỷ lệ nữ nội trợ có kiến thức khá-tốt về bệnh ung thư CTC và tầm soát bệnh là 27,7%, trong đó

- Tỷ lệ nữ nội trợ có kiến thức đúng về đặc điểm bệnh ung thư CTC là “bệnh ung thư CTC có thể có dù không có triệu chứng gì” còn thấp Số nữ nội trợ có kiến thức về đặc điểm

trên chưa đạt 1/2 (30,6%) Số nữ nội trợ có kiến thức về đặc điểm bệnh ung thư CTC là

“bệnh ung thư CTC có thể được phát hiện sớm và điều trị cho kết quả tốt hơn nếu được phát hiện sớm” đạt gần ½ Như vậy, mặc dù tỷ lệ nữ nội trợ đã từng nghe về bệnh ung thư CTC

cao (82,2%), nhưng tỷ lệ nữ nội trợ biết rõ và đúng về bệnh thì không cao

- Trong 70,7% nữ nội trợ đã từng nghe về xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC thì chỉ có khoảng 1/2 trong số họ, tức 36,3% là biết rõ mục đích của xét nghiệm Trong số nữ nội trợ

đã từng nghe về xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC thì có 12,5% trong số họ không hề biết mục đích xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC là gì; 28% nghĩ rằng mục đích xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC là phát hiện nguyên nhân viêm nhiễm sinh dục và có 8,1% biết mục đích xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC là để phát hiện ung thư nhưng không rõ là ung thư gì

- Kết quả trên cho thấy tuy số nữ nội trợ có nghe nhiều về xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC nhưng phần lớn trong số họ chưa hiểu rõ xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-ÂĐ-CTC là gì và mục đích của xét nghiệm này

Thái độ về bệnh ung thư CTC và tầm soát bệnh

- Thái độ của nữ nội trợ về việc khám phụ khoa – tầm soát ung thư CTC còn xem nhẹ khi

đa số nghĩ rằng việc khám phụ khoa – tầm soát ung thư CTC là không cần thiết (62,4%) và còn nhiều người cảm thấy ngượng, mắc cỡ nên không muốn đi khám (41%)

- Ngược lại, thái độ-niềm tin về bệnh ung thư CTC rất tích cực 75,7% cho rằng rằng việc tầm soát ung thư CTC là cần thiết, 46,5% tin rằng bệnh ung thư CTC sẽ trị được nếu phát hiện sớm, chỉ có một số rất ích là 5,7% có thái độ tiêu cực khi nghĩ rằng “ung thư là số phận, không thể tránh khỏi”

Hành vi tầm soát ung thư CTC

- Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trong số nữ nội trợ có đi khám phụ khoa kiểm tra thì chỉ có 19,3% trong số đó biết rõ mình từng được làm xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC (37/192 người có đi khám phụ khoa kiểm tra) Đây là một tỷ lệ thấp, nguyên nhân có thể là

do chủ quan của người bệnh hay do yếu tố khách quan từ phía y tế Có thể khi khám cho người bệnh, người khám (bác sĩ, nữ hộ sinh,…) khi thực hiện xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC thì không giải thích, tư vấn cho người bệnh biết Nhất là những người đi khám kiểm tra

ở những nơi quá đông như ở các bệnh viện lớn, thì cơ hội họ được thông tin đầy đủ lại ít hơn nữa

Trang 10

KẾT LUẬN

Qua khảo sát trên 768 nữ nội trợ từ 18-65 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã xác định được:

Tỷ lệ nữ nội trợ có kiến thức khá tốt về việc khám phụ khoa-tầm soát ung thư CTC là 27,7%

Tỷ lệ nữ nội trợ cho rằng việc tầm soát ung thư CTC là cần thiết là75,7%

Trong số những người đã có quan hệ tình dục, tỷ lệ nữ nội trợ đi khám phụ khoa kiểm tra trong vòng 3 năm là 23,3% và tỷ lệ nữ nội trợ chủ động đi khám phụ khoa định kỳ 6-12 tháng là 12%

Trong số những người đã từng đi khám phụ khoa kiểm tra, tỷ lệ nữ nội trợ biết mình được làm xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC là 19,3%

KIẾN NGHỊ

Do sự hiểu biết về việc “Khám phụ khoa-tầm soát ung thư CTC” của nữ nội trợ thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn hạn chế, và thái độ của nữ nội trợ về vấn đề này chưa được tích cực, chúng tôi kiến nghị:

Xây dựng và đưa vào thực hiện chương trình tuyền thông đại chúng về ung thư CTC và tầm soát bệnh với các phương tiện truyền thông đa dạng và lặp lại nhiều lần

Tổ chức các buổi nói chuyện, giáo dục sức khỏe cho nữ nội trợ về ung thư CTC và tầm soát bệnh Có thể lồng ghép trong các buổi họp tổ phụ nữ ở khu phố, tổ dân phố

Ở tất cả những nơi có hoạt động khám phụ khoa, nên có bích chương và phát tờ rơi về ung thư CTC và tầm soát bệnh

Do tỷ lệ nữ nội trợ có hành vi đi khám phụ khoa kiểm tra còn thấp, chúng tôi kiến nghị:

Tổ chức các cuộc vận động các chị em phụ nữ tại địa phương (tổ dân phố, khu phố) đi khám phụ khoa kiểm tra hàng năm

Các cơ quan y tế cũng nên tổ chức các đợt khám phụ khoa miễn phí cho một số quận huyện

xa xôi, còn nghèo (các huyện ngoại thành)

Thiết lập sự quản lý về khám phụ khoa kiểm tra cho tất cả các phụ nữ trong độ tuổi sinh

đẻ tại địa phương

Do tỷ lệ nữ nội trợ biết mình được làm xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC còn thấp, chúng tôi kiến nghị:

Nhân viên y tế cần phải thông báo cho người đến khám phụ khoa các xét nghiệm mà họ được làm, mục đích và giá trị của các xét nghiệm này, khi nào cần phải làm lại…trong đó bao gồm cả xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC

Kết quả các xét nghiệm cần được trả về cho người được làm xét nghiệm Điều này cần được quan tâm thực hiện bằng cách hẹn ngày đến lấy kết quả, gửi thư hoặc điện thoại nhắc nhở đến lấy cho những người được làm xét nghiệm

Trang 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ y tế – Bệnh viện Ung bướu (2000), Tình hình bệnh ung thư ở Việt Nam năm

2000, Thống kê về bệnh ung thư, 3 - 4.

2 Parkin DM, F Bray, J Ferlay and Paola Pisani (2002), “Global Cancer

Statistics-2002“, CA Cancer J Clin 2005, 55:74-108.

3 Phan Thái Hảo, Bùi Châu Tuệ (2006), Khảo sát kiến thức – thái độ – hành vi,

kinh tế xã hội đến giai đoạn lâm sàng của ung thư cổ tử cung lúc chẩn đoán tại bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ y khoa Khóa XII –

TTĐTBDCBYT

Ngày đăng: 16/02/2016, 01:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kiến thức của các nữ nội trợ về mục đích xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC (n = 768 người). - KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNGTHƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008
Bảng 2 Kiến thức của các nữ nội trợ về mục đích xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC (n = 768 người) (Trang 4)
Bảng 4: Kiến thức của các nữ nội trợ về khoảng cách giữa 2 lần xét nghiệm tầm soát ung  thư CTC (n=768 người). - KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNGTHƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008
Bảng 4 Kiến thức của các nữ nội trợ về khoảng cách giữa 2 lần xét nghiệm tầm soát ung thư CTC (n=768 người) (Trang 5)
Bảng 5: Thái độ về việc khám phụ khoa của các nữ nội trợ (n =768 người). - KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNGTHƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008
Bảng 5 Thái độ về việc khám phụ khoa của các nữ nội trợ (n =768 người) (Trang 6)
Bảng 6: Thái độ về bệnh ung thư CTC và tầm soát bệnh của các nữ nội trợ (n=768 người). - KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNGTHƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008
Bảng 6 Thái độ về bệnh ung thư CTC và tầm soát bệnh của các nữ nội trợ (n=768 người) (Trang 6)
Bảng 7: Tỷ lệ nữ nội trợ biết mình làm xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC (n=768 người). - KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNGTHƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008
Bảng 7 Tỷ lệ nữ nội trợ biết mình làm xét nghiệm phết tế bào ÂĐ-CTC (n=768 người) (Trang 7)
Bảng 10: Lý do các nữ nội trợ không đi khám phụ khoa (n=768 người). - KHẢO SÁT KIẾN THỨC – THÁI ĐỘ - HÀNH VI VỀ VIỆC TẦM SOÁT UNGTHƯ CỔ TỬ CUNG CỦA NỮ NỘI TRỢ TỪ 18 - 65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINH TỪ 25/2/2008 ĐẾN 11/5/2008
Bảng 10 Lý do các nữ nội trợ không đi khám phụ khoa (n=768 người) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w