Các báo cáo ứng dụng TVT cho các BN phức tạp hơn như trường hợp điểm dò nước tiểu ở áp lực thấp hơn, độ di động niệu đạo kém hơn, tiểu không kiểm soát do nguyên nhân hỗn hợp[3], các kết
Trang 1Chuyên đề Sản Phụ Khoa – Nhi Sơ Sinh
HỘI NGHỊ VIỆT PHÁP CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
Trang 2CÁC PHƯƠNG PHÁP NGOẠI KHOA THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ XỬ TRÍ
TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT DO GẮNG SỨC Ở NỮ
PHẪU THUẬT Ở ÂM ĐẠO ĐỂ ĐIỀU TRỊ TKKSDGS
Các phương pháp sử dụng võng treo(sling) Các võng treo được thiết kế chuyên biệt để
đáp ứng yêu cầu di động quá mức và sự khiếm khuyết nội tại của cơ thắt trong TKKSDGS Tỷ lệ thành công lâu dài 83% với các biến chứng nội ngoại khoa của kỹ thuật sử dụng võng treo tương đương với các kỹ thuật treo cổ bàng quang qua đường sau xương mu hay xuyên âm đạo Các kỹ thuật sử dụng võng treo kinh điển được thực hiện qua ngả bụng-tầng sinh môn và gần đây hơn qua các phương pháp nội soi Sự sử dụng các mỏ neo bằng xương ở mặt dưới cành xương mu hay khớp mu để may các mối chỉ cố định võng treo có thể thực hiện xuyên qua âm đạo[12]
Võng treo mu-âm đạo bằng cân cơ thẳng Kỹ thuật này được McGuire và cộng sự[7] giới
thiệu vào năm 1978 Cân cơ tự thân có ưu điểm là sử dụng được lâu dài và giảm tỷ lệ phải lấy bỏ vì nhiễm trùng và gây loét niệu đạo
Các vật liệu đồng loại và tổng hợp Các vật liệu này được xem như các võng treo được
ưu tiên lựa chọn do dễ có và do phẫu thuật viên ưa thích để có thể thực hiện phẫu thuật nhanh hơn[1]
Võng treo sử dụng thành âm đạo tại chỗ Loại võng này được Raz[9] giới thiệu và được
chấp nhận sử dụng cho bệnh nhân do tính chất và cấu trúc của thành âm đạo, đặc biệt cho các BN có đồng thời chức năng cơ chóp bàng quang xấu Tuy nhiên , theo thời gian, thành âm đạo tỏ ra ngày càng kém hiệu quả và thất bại thường xảy ra ở những thời điểm sớm hơn mặc dù cổ bàng quang vẫn ổn định Sự hài lòng của bệnh nhân trong nhóm này chưa được biết, nhưng được tin là thấp
VÕNG TREO ĐẶT GIỮA NIỆU ĐẠO[12]
Dải treo âm đạo không căng(Tension Free Vaginal Tape - TVT) Do Ulmsten[11] giới
thiệu, tác giả này đă sử dụng võng treo tổng hợp đặt xuyên qua âm đạo, đi ngược chiều, hướng ra phía sau xương mu để đặt bộ phận nâng đỡ của võng neo vào ở vị trí của cân cơ thẳng bụng Do hệ số cọ sát giữa chất liệu của võng với tất cả các mô, tổ chức xung quanh nên không cần thiết phải buộc chặc chất liệu của võng vào cân cơ thẳng bụng nhờ
đó giảm nguy cơ gây tắt niệu đạo do treo võng quá cao Đã có rất nhiều báo cáo cho thấy
tỷ lệ thành công cao và chủ yếu là các biến chứng tối thiểu Cho đến nay, sau khoảng 10 năm ứng dụng ở Mỹ và châu Âu, các kết quả đạt được với phương pháp này rất khích lệ Nilson và cộng sự[12] đã báo cáo tại hội nghị niệu học quốc tế năm 2004, tỷ lệ thành
Trang 3công trong dài hạn đạt được 84%, có vẻ như tốt hơn tỷ lệ thành công chung của nghiên cứu phương pháp Burch treo cùng đồ qua nội soi thực hiện ở Cleveland Clinic ở Mỹ[14] Các báo cáo ứng dụng TVT cho các BN phức tạp hơn như trường hợp điểm dò nước tiểu ở áp lực thấp hơn, độ di động niệu đạo kém hơn, tiểu không kiểm soát do nguyên nhân hỗn hợp[3], các kết quả cũng khích lệ kể cả ở những dưới nhóm BN có nhiều vấn
Dải treo âm đạo xuyên qua da(Percutaneous Vaginal Tape- FVT) Đây là chất liệu tổng
hợp polypropylen không tan, được đặt giữa niệu đạo, sử dụng kim Stamey mang chỉ cột , đưa thuận chiều xuyên qua da ngay phía trên xương mu, từ trước ra sau[9] Phương pháp này có lợi là thời gian phẫu thuật ngắn, dễ thực hiện, ít gây khó chiụ cho BN, và có tỷ lệ thành công cao trong tái lập lại chức năng đi tiểu bình thường Do đi từ trước ra sau, nên phẫu thuật viên cảm thấy thoải mái hơn so với đi ngược chiều tứ sau ra trước trong TVT Các kết quả sớm ở Cleveland Clinic cho thấy phương pháp FVT cũng an toàn và hiệu quả
so sánh được với TVT với tỷ lệ thành công không thấp hơn TVT[12]
Hiện nay đã có nhiều loại mẫu trên thị trường Mỹ như SPARC(American Medical System), Urotek(Bark), Advantage(Boston Scientific) Các nguy cơ biến chứng của FVT tương tự như các phương pháp khác như có bế tắt khi tiểu, bàng quang bất ổn định và bí tiểu Những dữ liệu khá lý thú từ một số trung tâm đã chứng minh dù cho đưa võng treo vào sau xương mu theo hướng ngược từ sau ngược từ sau ra trước có tỹ lệ biến chứng cao hơn, nhưng đặt võng treo ngay phía trên xương mu, thuận chiều từ trước ra sau không phài là không có biến chứng(thủng ruột non, bế tắt khi tiểu )[6](hinh 2)
Trang 4Võng treo xuyên lỗ bịt(Transobturator Slings/Tape-TOT) Đây là lỹ thuật mổ đặt võng
treo mới được áp dụng, võng treo được đặt ngay dưới niệu đạo[5] tương tự như SPARC, TVT và các kỹ thuật khác Tuy nhiên, vị trí treo hơi ra phía ngoài hơn xuyên qua giữa màng chắn lỗ bịt Lỗ ra của võng treo nằm ở mặt trong đùi, song song với âm vật(clitoris) Các kết quả sớm ở châu Âu rất khích lệ Tuy nhiên , cho đến nay, các nghiên cứu đều có thời gian theo dõi ngắn Kỹ thuật được công nhận ở Mỹ năm 2003 Ưu điểm của phương pháp này được cho là ít có nguy cơ tổn thương mạch máu, ruột Trên lý thuyết kỹ thuật này cũng ít có nguy cơ tổn thương bàng quang và có thể giảm yêu cầu cần soi bàng quang Các biến chứng co nguy cơ gồm máu tụ, tổn thương thần kinh, mạch máu (hinh 3)
Một nghiên cứu tiến cứu có kiểm chứng và ngẫu nhiên so sánh TOT và TVT chủ yếu về các biến chứng hơn là về hiệu quả đã và đang được de Tayrac và cộng sự[4] thực hiện từ
2004
Trang 5Nghiên cứu sẽ báo cáo khi đủ số BN và thời gian theo dõi đủ dài, các kết quả của tác giả này sau 1 năm theo dõi như sau:
Thời gian mổ trung bình 15± 4 phút 27± 8 phút < 0.001
KẾT LUẬN
Nhiều loại võng treo vẫn đang được nghiên cứu và đưa vào thị trường cần được đánh giá
về độ bền vững trong ngắn cũng như dài hạn Giá cả cũng là yếu tố cần xem xét khi lựa chọn và đôi khi là yếu tố quan trọng hơn về mặt hiệu quả giá thành Nguyên tác chung vẫn là rẻ nhất mà hiệu quả nhất
TÀI LIỆU THAM KHẢO;
1 Birch C, MM Fyne(2002): The role of synthetic and biological prostheses in reconstructive pelvic floor surgery Curr Opin Obstet Gynecol 14(5): 527-536
2 Chaikin DC, A Groutz, , and JG Blaivas(2004): Predicting the need for incontinence surgery for incontinent women undergoing repair severe urogenital prolapse J Urol , 167(2): 531 -534
anti-3 Chou EC et al(2003) Effective treatment for mixed urinary incontinence with pubovaginal sling 170(2 Pt 1): 494 -497
4 De Tayrac R, Deffieux X, Droupy S, Chauveaud – Lambling A, Calvanese – Benamour L, Fernandez H(2004) A prospective randomized trial comparing tension – free vaginal tape and transobturator suburethral tape for surgical treatment of stress urinary incontinence Am J Obstet Gynecol 190(3): 602-608
5 Fritel X et al(2002) Predictive value of urethral mobility before suburethral tape procedure for urinary stress incontinence in women J Urol 168(6): 2472 –
2475
6 Hodroff MA, Sutherland SE, Kesha JB, Siegel SW(2005) Treatment of stress incontinence with the SPARC sling: Intraoperative and early complications of 445 patients Urology 66(4):760 – 762
7 Morgan, T.O, Jr O.L Westney, and E.J McGuire(2000) Pubovaginal sling: year outcome analysis and quality of life assessment J Urol 153(6): 1845 – 1848
4-8 PartollLM (2002): Efficacy of tension-free vaginal tape with other pelvic reconstructive surgery Am J Obstet Gynecol 186(6): 1292 – 1294, discussion
1295 – 1298
Trang 69 Rodiguez LV and S Raz(2003) Prospective analysis of patients treated with distal urethral polypropylene sling for symptoms of stress urinary incontinence: surgical outcome and satisfaction determined by question driven questionnaires Urol, 170(3): 857-863; discussion 863
10 Segall JL, Vassallo BJ, Kleeman SD, Hungler M, Karram MM(2005): The efficacy of the tension – free vaginal tape in the treatment of five subtypes of stress urinary incontinence Int Urogyneco J Pelvic Floor Dysfunc 18: 179 – 184
11 Ulmsten U, P Johnson, and M Rezapour(1999): A three-year follow up of tension-free vaginal tape for surgical treatment of female stress urinary incontinence, Br J Obstet Gynaecol/ 106(4): 345 – 350
12 Vasavada SP(2006) Mid urethral sling in the management of stress urinary incontinence CME course Annual AUA Meeting, Atlanta, Georgia
13 Wang AC and TS Lo(1998) Tension –free vaginal tape A minimally invasive solution to stress urinary incontinence in women J Reprod Med 43(5): 429 – 434
14 Ward K and P Hilton(2002) Prospective multicentre randomized trial of tension-free vaginal tape and colposuspension as primary treatment for stress incontinence Bmj 325(7355): 67
Trang 7TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ XỬ TRÍ BẾ TẮT ĐƯỜNG TỐNG XUẤT NƯỚC TIỂU SAU PHẪU THUẬT CHỐNG TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT Ở NỮ
Phạm Văn Bùi*
*: Bệnh viện Nguyễn Tri Phương Tác giả liên lạc: Ts Bs Phạm Văn Bùi – 0913670965 – buimy55@yahoo.com ESTIMATION AND TREATMENT FOR POTENTIAL POSTOPERATIVE BLADDER-OUTLET OBSTRUCTION AFTER ANTI-INCONTINENCE SURGERY
ĐẠI CƯƠNG
Tiểu không kiểm soát do gắng sức là vấn đề khá thường gặp ở phụ nữ và trong nhiều trường hợp cần phải điều trị bằng phẫu thuật Đã có rất nhiều kỹ thuật như Marchall-Marchetti, Raz, Burch, TVT, TOT…được ứng dụng để điều trị loại bệnh lý này, tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng lại gây phiền phức không ít và ảnh hưởng đến chất lượng đời sống bệnh nhân Tuy kết quả điều trị ngày càng tốt hơn, nhưng các biến chứng do bản thân phẫu thuật gây ra cũng gây phiền phức không ít cho bệnh nhân, trong
đó biến chứng sau phẫu thuật mổ chống tiểu không kiểm soát thường gặp nhất là bế tắt đường tống xuất nước tiểu mà điều trị cũng không kém phần phức tạp Chẩn đoán đòi hỏi những tiếp cận hợp lý để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp
BỆNH SỬ
Bế tắt đường tống xuất nước tiểu cò thể biểu hiệu rõ rệt với bí tiểu hoàn tòan sau mổ, nhưng hầu hết bệnh nhân(BN) mô tả một mức độ bế tắt khi đi tiểu như tia nước tiểu yếu hay chậm, tiểu gián đoạn, ngắt quãng hay rặn tiểu.Các triệu chứng kích thích kéo dài hoặc gây phiền phức, tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu không kiểm soát do gấp tiểu cũng có thể là những biểu hiện của bế tắt đường tống xuất nước tiểu.Một trong các phương diện quan trọng hơn trong đánh giá BN nghi ngờ bị bế tắt đường tống xuất nước tiểu là đánh giá chức năng đi tiểu trước mổ Các BN than phiền về triệu chứng kích thích đi tiểu trước
mổ có thể có nguy cơ tiếp tục có các triệu chứng đó ngay cả sau mổ, nên không cần đánh gia thêm[1] Tuy nhiên nếu cùng những triệu chứng này lại nặng thêm sau mổ thì có thể cần đánh giá lại Car và Webster[2] đã chứng minh trong 51 BN cần giải phóng niệu đạo(urethrolysis): phần lớn(75%) than phiền vế các triệu chứng kích thích đi tiểu, trong khi 61% than phiền về các triệu chứng bế tắt và 55% có biểu hiện tiểu gấp mới xuất hiện sau mổ Hiếm hơnBN than phiền về bí tiểu đơn thuần(24%), có hay không tự thông tiểu cách quãng(40%)
Loét niệu đạo không thường gặp và có thể biểu hiện bằng tiểu ra máu kết hợp với tiểu gắt hay bế tắt khi tiểu[3] Những triệu chứng khác gợi ý loét niệu đạo là đau dữ dội khi đi tiểu, nhiễm trùng niệu tái phát và ngay cả giao hợp đau
Tiểu bế tắt biểu hiện bằng tia nước tiểu yếu và chậm, đôi khi BN phải thay đổi tư thế để
đi tiểu Nhiều BN không thể tiểu hết và vẫn còn lượng nước tiểu tồn lưu sau đi tiểu
Trang 8KHÁM THỰC THỂ
Các phát hiện khi khám thực thể có thể thay đổi từ “bình thường” đến niệu đạo bị treo cao quá mức Cần luôn luôn nhớ các loại võng treo(sling) sử dụng(giữa niệu đạo hay cổ bàng quang) để xác định yếu tố di động Điển hình, các võng giữa niệu đạo không thể gây nên sự điều chỉnh quá mức góc niệu đạo-bàng quang Tuy nhiên võng treo giữa niệu đạo vẫn gây bế tắt do kéo cao niệu đạo đến mức độ nào đó và thử đặt thông Q-tip vào niệu đạo có thể gặp trở lực Mặt khác, võng treo cổ bàng quang có thể kéo đè niệu đạo sát vào xương mu và tạo góc niệu đạo-bàng quang âm tính Điều quan trọng cần biết là có thể gặp những bế tắt do điều trị trong khi niệu đạo/cổ bàng quang không bị treo hay kéo cao quá mức Nơi BN có cơ chóp bàng quang giảm co bóp, chỉ một trở lực nhẹ thêm vào niệu đạo có thể đủ để gây bí tiểu hay các triệu chứng bế tắt
Cần khám những phần còn lại của âm đạo để xem có sa bàng quang hay các dạng sa khác
có thể tạo ra một điểm tựa hay hay điểm bế tắt dù cho niệu tạo đã được phục hồi tốt BN cũng cần được đánh giá xem có tiểu không kiểm soát do gắng sức(stress incontinence) hay niệu đạo di động quá mức
Với sự gia tăng các chất liệu tổng hợp trong điều trị chống tiểu không kiểm soát, loét chợt niệu đạo hay âm đạo hay sa niêm mạc có thể xảy ra cùng lúc với bế tắt; cũng cần nhớ rằng loét niệu đạo, nếu có, thường bắt buộc phải sử dụng phẫu thuật Thường loét âm đạo
có thể phát hiện dễ dàng qua thăm khám, nhưng soi thêm âm đạo sẽ giúp nhìn chỗ loét dễ dàng hơn[4]
ĐÁNH GIÁ NIỆU ĐỘNG HỌC
Thường chúng ta nghĩ rằng niệu động học là tiêu chuẩn vàng để đánh giá BN nghi ngờ có
bế tắt đường tống xuất nước tiểu sau phẫu thuật, nhưng hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy ít có sự tương quan giữa các phát hiện trên niệu động học và các kết quả sau mổ giải phóng niệu đạo Hơn nữa những tiêu chí tuyệt đối để chẩn đoán bế tắt ở nữ chưa được xác định dù có vài trị số đã được đề nghị
Chassagne và cộng sự(cs) đã chứng minh, ở trị số ≤ 15ml/giây, dòng tiểu với áp lực cơ chóp bàng quang ≥ 20 cmH2 O có thể xác định là có bế tắt đường tống xuất nước tiểu ở
nữ với độ nhạy 74% và độ chuyên 91,1%[5] Tuy nhiên, có sự trùng lấp rất lớn các BN giữa hai nhóm có bế tắt và không có bế tắt Blaicas và Groutz[6] đã đánh giá các dữ liệu của gần 600 BN để xác định biểu đồ bình thường và cũng sử dụng ”niệu dòng tự do” (“free uroflow”) là thông số để cung cấp một số lợi ích nơi các BN không thể đi tiểu trong lúc khảo sát Các tác giả cũng thêm vào định nghĩa là bế tắt có thể được phân loại dựa trên aP cơ chóp > 20 cmH2 O dù cho không có dòng tiểu hay không đi tiểu được do
có thông tiểu tại chỗ
Nitti và cs[7] đã sữ dụng kết hợp niệu động học nhìều kênh và quay phim soi niệu dòng
đồ (videoflouroscopy) để bổ sung thêm vào chẩn đoán bế tắt đường tống xuất nước tiểu Định nghĩa của họ đã lồng ghép luôn sự co bóp liên tục của cơ chóp với sự giảm dòng nước tiểu và hình ảnh bế tắt trên x-quang giữa cổ bàng quang và niệu đạo.Các tác giả đã cho thấy, không cần dùng tiêu chuẩn áp lực-lưu lượng, họ có thể chứng minh một cách
Trang 9chắc chắn là có bế tắt đường tống xuất nước tiểu hay không chỉ bằng videoflouroscopy Giới hạn của tiếp cận này, giống như trong nghiên cứu của Chassagne, là nếu BN không chứng minh có co bóp bàng quang suốt trong giai đoạn đi tiểu cùng với dòng tiểu thì nó
sẽ không còn có ích lợi Hơn nữa, chúng ta cũng biết rằng không có thông số niệu động học nào có thể tiên đoán chắc chắn sự thành công của phẫu thuật giải phóng niệu đạo Cormier và cs[1] sử dụng diện tích dưới đường cong áp lực- lưu lượng để xác định tốt hơn định nghĩa về bế tắt Các tác giả thấy rằng khi kiểm soát thể tích đi tiểu kết hợp với diện tích dưới đường cong, có thể tiến đoán chắc chắn hơn có bế tắt bàng quang hay không
Như vậy, chúng ta có thể hỏi ích lợi của khảo sát niệu động học trong bế tắt đường tống xuất nước tiểu là gì Khi khảo sát xác định có bế tắt, chắc chắn sẽ giúp phẫu thuật viên tự tin hơn trong quyết định mổ giai phóng niệu đạo Ngoài ra, niệu động học có thể cung cấp thông tin về dung tích bàng quang , tiểu không kiểm soát do gắng sức, giảm tính thư giãn bàng quang, chóp bàng quang bất ổn định hay rối loạn chức năng đi tiểu
SOI BÀNG QUANG
Nội soi niệu đạo có thể thấy niệu đạo bị treo cao quá mức Nội soi cũng có thể giúp phát hiện dấu tích lệch hướng của niệu đạo và ngay cả sự hiện diện của lỗ dò hay các mối chỉ may Cần quan sát xem có loét niệu đạo hay không vì sự hiện diện của vấn đề này có thể ảnh hưởng đến cách tiếp cận phẫu thuật
CAN THIỆP PHẪU THUẬT
Một trong các vấn đề chính không phải là giải phóng niệu đạo như thế nào mà là có mổ hay không và khi nào mổ Một khi đã xác định là BN có nguy cơ có bế tắt, câu hỏi kế tiếp
là bế tắt đã có từ lúc nào, bao nhiêu tuần/bao nhiêu tháng sau mổ Các yếu tố kế tiếp giữ vai trò trong thực hiện phẫu thuật gồm loạivòng hay phương pháp chống tiểu không kiểm soát sử dụng, bệnh cảnh của tình trạng đi tiểu hiện tại(như bí tiểu hay các triệu chứng kích thích đi tiểu) và quan trọng nhất là kết quả BN mong muốn
Nếu BN hài lòng và chấp nhận tình trạng bí tiểu, thì không nên chấp nhận nguy cơ, dù nhỏ, tiểu không kiểm soát do gắng sức tái phát sau mổ giải phóng niệu đạo Khi đó BN
và thầy thuốc cần trao đổi để quyết định nên làm như thế nào Trường hợp này có thể nảy sinh khi BN bị tiểu không kiệm soát nặng trước mổ và sau mổ lại bị bí tiểu và có thể
xử trí bằng tự thông tiểu cách quãng sau mổ Nếu BN cảm thấy chất lượng cuộc sống hiện tại tốt hơn là nguy cơ tái phát tiểu không kiểm soát do gắng sức sau mổ, thì BN có thể rất thỏa mãn với tiếp tục tự thông tiểu
THỜI ĐIỂM CAN THIỆP
Theo kinh điển, ba tháng là thời điểm để quyết định khi nào tiếp tục theo dõi, khi nào can thiệp Hầu hết tác giả tin rằng, thời điểm này sinh ra từ các dữ kiện liên quan đến sử dụng võng treo được chuyển vị từ cân cơ tự thân nên có thể trở nên bị lỏng lẻo theo thời gian,
do vậy giúp BN tống xuất được hoàn toàn nước tiểu Nhiều câu hỏi được đặt ra là ở ba tháng BNcó thật sự tống xuất nước tiểu với áp lực cơ chóp thấp hay không(tức không có
bế tắt) Do vậy, nhiều thầy thuốc thăm hỏi BN ở những thời điểm sớm hơn trước kia
Trang 10KỸ THUẬT NGOẠI KHOA
Có nhiều kỹ thuật ngoại khoa tùy theo chất liệu đã sử dụng trong phẫu thuật chống tiểu không kiểm soát lần trước, thời gian có các triệu chứng từ lúc nào sau mổ và những phẫu thuật kết hợp đã làm(như tạo hình sa bàng quang) Tiếp cận phẫu thuật gồm cắt võng treo, giải phóng niệu đạo xuyên âm đạo, giải phóng niệu đạo sau xương mu, giải phóng niệu đạo trên miệng niệu đạo và đặt chèn mảnh ghép Phẫu thuật phổ biến thường được
sử dụng là George Webster[8]
Trước tiên bàng quang được bơm phồng lên và bảo đảm không bi rò rỉ bằng nghiệm pháp Credé Trong trường hợp vòng giữa niệu đạo và không bị loét, điều trị đầu tiên là cắt vòng Chỉ thủ thuật này đủ để cải thiện hầu hết bế tắt Nếu không sẽ đi vào vùng sau xương mu để giải phóng võng treo Thủ thuật Credé lại được thực hiện cho đến khi rò rỉ dịch qua niệu đạo được ghi nhận Nếu thất bại sẽ giải phóng niệu đạo xuyên âm đạo hay trên miệng niệu đạo Quyết định đặt mảnh Martius hay không tùy thuộc đánh giá chủ quan, nhưng trong trường hợp bế tắt lâu ngày và có sẹo xơ, bóc tách cẩn thận vào mặt bên, đặt mảnh Martius để phòng ngừa niệu đạo dính lại vảo xương mu
Kỹ thuật này giúp giải phóng bế tắt thành công với tỷ lệ rất cao và tỷ lệ tái phát tiểu không kiểm soát gắng sức thấp phù hợp với các tỷ lệ của các phương pháp khác trong y văn Trong số ít trường hợp vẫn còn bế tắt Sandip P.Vasavada[1] khuyến cáo giải phóng niệu đạo qua đường sau xương mu, vì ngày càng có nhiều số liệu trong y văn cổ vũ sử dụng đường này trong trường hợp bế tắt kháng trị
Đôi khi, rối loạn chức năng sàn chậu góp phần làm phức tạp thêm vấn đề và cần đặt vấn
đề điều hòa thần kinh(neuromodulation)
Tỷ lệ thành công nói chung của giải phóng niệu đạo tương đối tốt(Bảng 1) Hơn nữa, các
dữ liệu thu thập được đều cổ vũ nên can thiệp sớm hơn mà không nên kéo dài sự không hài lòng và chờ cho đến khi lành sẹo hậu phẫu Những dữ liệu trước đây cho thấy có thể can thiệp sớm cắt vòng nơi BN làm TVT trong thời gian hậu phẫu mà chưa thấy có tác động bất lợi nào ghi nhận trong theo dõi ngắn hạn[9]
Kinh nghiệm của Sandip P.Vasavada[1] cho thấy tỷ lệ tái phát tiểu không kiểm soát gắng sức sau mổ giải phóng niệu đạo là 10 – 15%( chỉ cắt võng treo trong trường hợp võng tổng hợp đặt giữa niệu đạo) Tuy nhiên, sự thành công của giải phóng niệu đạo không chỉ
là vấn đề bế tắt mà còn phải phòng ngừa sự mới phát triển hay sự tồn tại các triệu chứng kích thích đi tiểu hay tiểu không kiểm soát do gấp tiểu Các kết quả dài hạn sau giải phóng bế tắt tỏ ra khá thất vọng và chỉ số chất lượng cuộc sống suy giảm[10]
Trang 11Bảng 1
Số BN Loại phẫu thuật Tỷ lệ thành
công (%)
Tiểu không kiểm soát(%)
KẾT LUẬN
Bế tắt đường tống xuất nước tiểu sau phẫu thuật chống tiểu không kiểm soát ở nữ là một tiêu đề khá mơ hồ do thiếu các tiêu chí đánh giá chuẩn Trong khi đó, các xử trí nhằm đạt các kết quả lâu dài không tốt như chúng ta thường nghĩ Để đạt các mục tiêu này, cần có các nghiên cứu đánh giá một cách hiệu quả các kết quả trước và sau mổ trong dài hạn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vasavada S P.(2006): Evaluation and management of postoperative bladder outlet obstruction in women AUA annual meeting Atlanta, Georgia, CME Course
2 Carr LK, Webster GD, (1997) Voiding dysfunction following incontinence
surgery Diagnosis and treatment with transvaginal urethrolysis J Urol; 157: 821
3 Kobashi KC, Dmochowski R, Mee SL, et al(2002) Erosion of women
polyester pubovaginal sling J Urol; 162(2): 2070-2072
4 Chai TC, Sklar GN(1999) Use of the flexible cystoscope as a vaginoscope to
add in the diagnosis of artificial sling erosion Urology; 53(3): 617-618
5 Chassagne S, BernierPA, Haab F, et al(2004) Proposed cutoff values to
determine bladder outlet obstruction in females Urology;51: 408-411
6 Blaivas JG, Groutz A (2000) Bladder outlet obstruction nomogram for women
with lower urinary tract symptomatology Neurourol Urodyn; 19(5): 553-564/
7 Nitti VW, Tu LM, Gitlin J(1999) Diagnosing bladder outlet obstruction in
women J Urol; 161: 1535-1540
Trang 128 Amundsen CL, Guralnic ML, Webster GD.(2000) Variation in strategy for the
treatment of urethral obstruction after a pubovaginal sling procedure J
Urol;164(2): 434-437
9 Abousasally R, Steinberg JR, Corcos J.(2002) Complications of tension free vaginal tape surgery, a multi- institutional review of 242 cases AUA annual
meeting Orlando, Fl, abs# 416
10 Aspera AM, Vasavada SP, Appell RA, et al.(2002) Long term follow up of patients after urethrolysis: quality of life outcomes Society for femaleUro;ogy and Urodynamics, Orlando, Fl
*: Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Trang 13PHÁ THAI Ở NỮ VỊ THÀNH NIÊN
Adolescent’s abortion
Phạm Thanh Hải*,Huỳnh Thị Thu Thủy*
*: Bệnh viện Từ Dũ Tác giả liên lạc: Bs CK1 Phạm Thanh Hải – 0918449869 – haiphamtd@gmail.com
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vị thành niên là giai đoạn chuyển đổi quan trọng từ thiếu niên sang người lớn Chất lượng của cuộc sống tương lai vị thành niên phụ thuộc nhiều vào những cơ hội được tận dụng để phát triển nhân cách cá nhân như học tập, có công ǎn việc làm để có thể tránh được những vấn đề phát sinh ra do quan hệ tình dục như mang thai ngoài ý muốn, bắt buộc phải nghỉ học hoặc các tác động nghiêm trọng đến sức khỏe (4)
Giai đoạn hình thành và phát triển vị thành niên chịu tác động rất lớn bởi những yếu tố kinh tế, vǎn hóa, xã hội đặc trưng Do phong tục tập quán ở những môi trường vǎn hóa xã hội khác nhau rất khác nhau nên rất khó đánh giá vị thành niên theo khía cạnh vǎn hóa của các quốc gia Tuy nhiên, vị thành niên cũng có những đặc tính chung như tính tò mò, ảnh hưởng của bạn đồng lứa đối với các vấn đề tình dục, sự thiếu hiểu biết về thụ thai và sinh sản cũng như tránh thai Theo các nhà nhà nghiên cứu thì đây là những yếu tố ảnh hưởng đến mang thai vị thành niên Tuy nhiên, trong những xã hội khác nhau thì sự ảnh hưởng của những yếu tố này đến vị thành niên cũng khác nhau (12)
Hiện nay, quan hệ tình dục tuổi vị thành niên và tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi này đang là một vấn đề xã hội của mọi quốc gia trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Bài viết này sử dụng kết quả của một số nghiên cứu và tạp chí để tổng hợp một các khái quát thực trạng phá thai ở nữ VTN và các vấn đề liên quan
THỰC TRẠNG PHÁ THAI Ở NỮ VỊ THÀNH NIÊN
Hiện nay trên thế giới, phá thai ở phụ nữ VTN rất khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố như qui định của pháp luật, tôn giáo, phong tục tập quán của từng nước Tỷ suất phá thai ở nữ VTN rất cao như ở Cu Ba (91%), Mỹ (30% – 44%) hoặc rất thấp như ở Đức và
Hà Lan (dưới 10‰) Có một thống kê cho rằng trong số 500 triệu thanh thiếu niên tuổi từ
15 – 19 trên thế giới có quan hệ tình dục có khoảng 1,1 triệu có thai ngoài ý muốn, hậu quả có 38% nạo phá thai, 13% sẩy thai và khoảng 554800 bé gái sanh con(9)
Tại Việt Nam, từ năm 1989 luật pháp cho phép phụ nữ được nạo hút thai theo yêu cầu mà không phải qua các thủ tục phiền hà Việt Nam hiện nằm trong danh sách 10 nước có tỷ
lệ phá thai cao nhất thế giới (khoảng 20%) Tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết khảo sát tại Thái Bình nhận thấy 1/3 các trường hợp phá thai to tại bệnh viện Tỉnh ở lứa tuổi VTN, tỷ lệ này tại Hải Phòng là 17,3% (5) Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo số liệu thống kê của bệnh viện Từ Dũ cho thấy tỷ lệ phá thai ở tuổ VTN không ngừng gia tăng theo thời gian:
Trang 14Bảng 1: Tình hình phá thai VTN tại bệnh viện Từ Dũ(1)
Trước năm 1994, hoạt động tình dục trước hôn nhân hoàn toàn bị bỏ qua trong các nghiên cứu về sứ khỏe sinh sản Cho đến nay, ở Việt Nam các cuộc điều tra qui mô để khảo sát quan hệ tình dục tuổi VTN chưa nhiều vì đây là vấn đề nhạy cảm khó khảo sát Điều tra của Ủy ban quốc gia Dân số - KHHGĐ năm 1994 tại Hà Nội và Tp.HCM cho thấy 15% nam sinh viên và 2,5% nữ sinh viên đã từng quan hệ tình dục Hiện tượng quan
hệ tình dục trong học sinh là một vấn đề có thật, dù rằng gia đình, nhà trường và xã hội điều không muốn hiện tượng này xảy ra Tại Tp.HCM một cuộc khảo sát trên 1464 học sinh tuổi từ 15 – 19 ghi nhận có 2,5% đã có quan hệ tình dục Đến năm 2004, tác giả Huỳnh Nguyễn Khánh Trang trong luận án tiến sĩ y học đã nêu lên hồi chuông báo động khi thấy tỷ lệ quan hệ tình dục trong học sinh gia tăng, trong nghiên cứu này tỷ lệ học sinh có quan hệ tình dục tính chung cho nam và nữ là 8,17% trong đó nam gấp 2,6 lần nữ Nghiên cứu cũng ghi nhận có sự gia tăng về tần số và tỷ lệ cho từng cấp lớp(13)
Bảng 2: Tỷ lệ quan hệ tình dục ở học sinh Tp.HCM qua các nghiên cứu
Bùi Công Thành Học sinh cấp 3 ngoại thành 5,9%
Huỳnh Nguyễn Khánh Trang Học sinh cấp 3 toàn thành 8,17%
Trên phạm vi toàn quốc, Viện xã hội học và hội đồng dân số khảo sát tại 6 tỉnh Việt Nam (Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tây, Quảng Nam – Đà Nẵng, Tp.HCM và Kiên Giang) ghi nhận có 6% nam và 4% nữ có quan hệ tình dục lần đầu trước 18 tuổi, tỷ lệ có quan hệ tình dục chung trong toàn nghiên cứu là 10% đối với nam và 5% đối với nữ(3)
Thiếu kiến thức về SKSS
Tác giả Khánh Trang cũng so sánh tỷ lệ quan hệ tình dục của VTN Tp.HCM với các nước khác nhận thấy rằng tỷ lệ nữ VTN có quan hệ tình dục chúng ta thấp hơn so với các nước trong khu vực, nhưng tại sao phá thai ở tuổi VTN cũng là một thực trạng phổ biến
Trang 15tại Tp.HCM; điều này chúng tôi nghĩ rằng do thiếu các kiến thức về SKSS đặt biệt là về tránh thai và tình dục an toàn(13)
Bảng 3: Tỷ lệ quan hệ tình dục tuổi VTN ở một số nước Châu Á
Trong một nghiên cứu ơ 1100 VTN tại Hải Phòng năm 1999, chỉ có 41,6% biết thời điểm
dễ có thai theo chu kỳ kinh nguyệt; trong số có quan hệ tình dục có chưa đến 19% áp dụng các biện pháp tránh thai(4)
Thanh niên chưa lập gia đình nhìn chung đã không được giúp đỡ cũng như hướng dẫn về các vấn đề liên quan đến tình dục và sinh sản hoặc việc cung cấp kiến thức và các tiếp cận các dịch vụ là chưa đầy đủ Thanh niên cảm thấy các thông điệp và các dịch vụ sức khỏe sinh sản là dành cho các cặp vợ chồng hơn là bao hàm thanh niên chưa lập gia đình, dẫn đến sự miễn cưỡng hoặc khó khăn khi tiếp cận các biện pháp tránh thai
Nghiên cứu của Phạm Gia Đức (6) khảo sát học sinh sinh viên tại Tp.HCM thấy trên 70% đối tượng nghiên cứu cần được cung cấp kiến thức về SKSS, nơi cung cấp nên là nhà trường còn các cơ sở y tế chỉ là thứ yếu Khảo sát của Nguyễn Đức Trí Dũng(7), Diệp Từ
Mỹ (10) cũng cho kết quả tương tự khi khảo sát trên các học sinh cấp 3
Các lý do sau khi có thai
Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Hương (9) trên các nữ VTN phá thai to tại bệnh viện Từ
Dũ cho thấy các lý do xin phá thai chính: do bạn tình ép buộc (30%), do gia đình ép buộc (80%), chưa có điều kiện nuôi con (76%), còn đi học (37%) Không biết thời điểm dễ mang thai nhất (61%), không biết về biện pháp tránh thai (50%), không biết tuổi có thai phù hợp (90%)
Nữ VTN trẻ tuổi, độc thân, có chí hướng học tập, có nghề nghiệp, có cơ hội thăng tiến mà
có thai ngoài ý muốn sẽ chọn biện pháp phá thai Một nghiên cứu tại Tp.HCM khảo sát học sinh cấp 3 cho thấy 48,3% học sinh đồng ý với quan điểm nếu lỡ co thai thì sẽ phá thai, các VTN dường như xem phá thai là một biện pháp tránh thai ở lứa tuổi mình (5) Nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Khánh Trang chỉ ra rằng giải pháp mà chính bản thân các
em học sinh và gia đình chọn lựa khi biết có thai là phá thai Các lý do đưa ra là: thứ nhất các em còn quá trẻ, còn lệ thuộc kinh tế gia đình chưa có khả năng nuôi con; thứ hai thường sau khi biết các em có thai bạn tình của các em thường không có ý định tiến đến hôn nhân và yếu tố pháp luật cũng không tán thành những cuộc hôn nhân ở tuổi VTN (14)
Trang 16Bên cạnh đó cũng không thể bỏ qua một yếu tố: luật y tế của chúng ta hiện nay rất dễ dàng trong việc thực hiện thủ thuật bỏ thai ở nữ, điều này mặc dù không phải là sự khuyến khích nhưng rõ ràng không có tính ngăn chặn và răn đe
YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA PHÁ THAI TUỔI VỊ THÀNH NIÊN
Tỷ lệ phá thai ở phụ nữ từ 15 – 19 tuổi, nhất là những phụ nữ đã lập gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất là những phụ nữ có học vấn cao
Ở Mỹ, nữ VTN sớm có khuynh hướng phá thai cao hơn nữ VTN muộn Nhưng cũng có ý kiến ngược lại, phá thai thường là biện pháp của nữ VTN lớn tuổi, có tình trạng kinh tế
xã hội cao và không có tôn giáo
Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Hương (9) tại bệnh viện Từ Dũ cho kết quả: nữ VTN nông thôn có nguy cơ phá thai cao gấp 5,7 lần nữ VTN thành thị Nữ VTN chưa lập gia đình có nguy cơ phá thai cao gấp 17 lần nữ VTN đã lập gia đình Nữ VTN chưa có nghề nghiệp
có nguy cơ phá thai cao gấp 10,3 lần nữ VTN có nghề nghiệp ổn định Nữ VTN không biết thời điểm dễ mang thai có nguy cơ phá thai cao gấp 2,3 lần nữ VTN biết thời điểm
dễ mang thai
Môi trường mà VTN trưởng thành có tác động rất lớn đến nguy cơ mang thai VTN, những đứa trẻ thường xuyên sống trong đói nghèo, có trình độ học vấn thấp, thường xuyên phải thay đổi chỗ ở và gia đình tan vỡ thì có nguy cơ tham gia hoạt động tình dục sớm hơn và mang thai cao hơn những đứa trẻ khác (4)
Khi một gia đình không hạnh phúc thì điều đó đặc biệt ảnh hưởng đến tâm trạng của VTN và môi trường xã hội không tốt sẽ là nhân tố tác động đến mang thai VTN
Đói nghèo cũng là nhân tố quyết định đến có thai VTN vì các em phải đi làm và bị lạm dụng tình dục
VTN vì lý do nào đó phải bỏ học có tỷ lệ mang thai cao hơn các em đang đi học
Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (14) trong một nghiên cứu tại Tp.HCM đã tìm ra các yếu tố nguy cơ của phá thai VTN sau: ít tuổi, chưa lập gia đình, không xem chương trình giáo dục giới tính trên truyền hình (OR=2,23), không biết tai biến và tác hại của phá thai (OR=10,26)
NHỮNG NGUY HẠI SAU KHI PHÁ THAI Ỏ NỮ VTN
Những ảnh hưởng về sức khỏe
Biến chứng của phá thai phụ thuộc vào tuổi thai và phương thức lấy thai Nếu tuổi thai <
8 tuần tỷ lệ biến chứng < 1%; tuổi thai 8 – 12 tuần tỷ lệ biến chứng 1,5 – 2%; tuổi thai 12
- 13 tuần tỷ lệ biến chứng 3 - 6%; phá thai ở tam cá nguyệt 2 tỷ lệ biến chứng có thể tăng đến 50%
Gần như nữ VTN thiếu hụt về kiến thức sinh sản nên không biết có thai lúc nào, hoặc do
lo sợ lúng túng không biết các giải quyết nên khi tuổi thai rất lớn mới quyết định bỏ thai
do đó có rất nhiều tai biến
Trang 17- Rối loạn kinh nguyệt: chiếm tỷ lệ 10 – 14% trong các nghiên cứu tại Việt Nam (13)
- Sót nhau: chiếm tỷ lệ 2,5 – 3,7% trong các nghiên cứu tại Việt Nam (13)
- Sang chấn ở tử cung: thủng tử cung, tổn thương cổ tử cung, tổn thương niêm mạc tử cung gây chảy máu tử cung sau phá thai
- Nhiễm trùng: có thể xuất hiện 18,5% sau phá thai, thường nhất là viêm vùng chậu (PID), viêm vùng chậu rất khó chẩn đoán và quản lý và đây là nguyên nhân dẫn đến vô sinh ở người phụ nữ Một nghiên cứu tại Mỹ báo cáo rằng, phụ nữ sau 1 lần có PID tỷ lệ vô sinh là 10%, nếu có 2 lần PID tỷ lệ vô sinh là 30% và sau 3 lần PID tỷ lệ vô sinh tăng đến 60% (32,34)
- Vô sinh thứ phát sau phá thai có thể xuất hiện khoảng 25% và cao gấp 3 – 4 lần so với phụ nữ không phá thai
- Sẩy thai: do tỷ lệ sang chấn cổ tử cung trong phá thai nhất là ở nữ VTN (cơ quan sinh dục chưa hoàn chỉnh) là nguyên nhân gia tăng tỷ lệ sầy thai ở lần có thai tiếp theo, một báo cáo tại Mỹ cho thấy tỷ lệ này có thể là 30 – 40%
- Thai ngoài tử cung: có thể do PID kết hợp làm gia tăng tỷ lệ thai ngoài tử cung, theo Parazzini tỷ lệ này có thể tăng gấp 2,9 lần ở phụ nữ phá thai (31)
- Một số khảo sát cho thấy có mối liên quan giữa tiền sử nạo phá thai và tiền sản giật cũng như gia tăng nguy cơ ung thư vú (21)
- Tử vong: tử suất liên quan với tuổi thai Nếu tuổi thai < 8 tuần tỷ lệ tử vong 0,5/100.000; tuổi thai 11 – 12 tuần tỷ lệ tử vong 2,2/100.000; tuổi thai 16 – 20 tuần tỷ lệ tử vong 14/100.000 và tuổi thai > 21 tuần tỷ lệ tử vong 18/100.000 Tuy nhiên, nếu phá thai không an toàn và tuổi thai khi phá quá lớn tỷ lệ tử vong có thể là rất lớn (32)
Những ảnh hưởng về tâm lý
Tại những nước phát triển hiện nay người ta tập trung khảo sát ảnh hưởng của phá thai, nhất là phá thai ở tuổi VTN đến tình trạng tâm sinh lý sau này của nữ VTN và có nhiều kết quả rất đáng báo động
- David M khảo sát các rối loạn sức khỏe tâm thần thường gặp trên 543 phụ
nữ nạo phá thai nhận thấy có nguy cơ gia tăng các rối loạn tâm thần phổ biến như: trầm cảm nặng, lo lắng, có ý tưởng tự tử, nghiện rượu và chất gây nghiện Các dấu hiệu trầm cảm thường nặng nề hơn nếu phá thai ở tuổi VTN Một nghiên cứu tại Phần Lan cũng cho thấy co sự gia tăng tự tử ở phụ nữ sau phá thai (22)
- Một khảo sát so sánh rối loạn tâm thần ở nữ VTN so với nữ thành niên cho thấy tư tưởng bị ép buộc, ý nghĩ tự vẫn trước khi phá thai và các cơn ác mộng sau khi phá thai, tư tưởng chống đối xã hội, rối loạn nhân cách, nghiện ngập xuất hiện nhiều ở nhóm VTN
Trang 18- Franz W cho rằng, so với người trưởng thành trẻ VTN thường không hài lòng với quyết định phá thai của mình Họ cũng cho rằng mình không được thông báo đầy đủ về tình hình sức khỏe chi tiết tại lúc phá thai và họ có những nguy cơ bị những căng thẳng thần kinh nặng(24)
- Tại Tp.HCM sang chấn tâm lý sau bỏ thai ở nữ VTN thường biểu hiện dưới dạng suy nhược tinh thần chiếm tỷ lệ 27,5% trong các trường hợp phá thai Trong đó mức độ nhẹ chiếm 63,64%, trung bình 27,27% và nặng 9,09% Các trường hợp nặng thường do có liên quan đến biến chứng và không được sự hỗ trợ tinh thần bởi gia đình
Những hưởng của xã hội
- Có thai sớm sẽ giới hạn cơ hội học tập và làm việc của phụ nữ trẻ, điều này có khuynh hướng làm cho họ và con cái của họ sẽ nghèo Bên cạnh đó là gánh nặng trực tiếp mà xã hội phải gánh chịu: gia tăng chăm sóc y tế, trợ cấp nghèo khó và gián tiếp tạo ra một lực lượng lao động có trình độ thấp
GIÁO DỤC GIỚI TÍNH Ở NỮ VTN
Hiệu quả của giáo dục giới tính ớ các nước phát triển(13)
Một nghiên cứu ghi nhận các trẻ VTN thường thảo luận các vấn đề liên quan đến giới tính và tình dục với mẹ sẽ ít có xu hướng có hoạt động tình dục sớm và có quan điểm chính chắn hơn về quan hệ tình dục so với trẻ không có thảo luận với mẹ Kết quả này đặt
ra vai trò quan trọng giữa việc trao đổi của cha mẹ với con cái về vấn đề giới tính ở trẻ VTN
Tại Mỹ chương trình sức khỏe tình dục và tuổi VTN nhằm đưa giáo dục giới tính đến các trường phổ thông trung học kết hợp với việc thành lập phòng y tế học đường ngay tại các trường để kịp thời cung cấp thông tin và các dịch vụ y tế thích hợp cho học sinh Ngoài ra còn rất nhiều chương trình giáo dục giới tính khác nhau ở những tiểu bang khác nhau đều cho kết quả rất khả quan Các hoạt động chính trong những chương trình bao gồm: các tiết học tại trường, các lớp tập huấn cho giáo viên về lĩnh vực giáo dục giới tính cho tuổi trẻ, các buổi hội thảo cho cha mẹ học sinh, tập huấn cho các học sinh trở thành chuyên gia tư vấn cho các bạn cùng giới tính và thực hiện truyền thông đại chúng Kết quả của các chương trình trên khắp nước Mỹ là rất đáng thích lệ: làm gia tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai cho nữ VTN có sinh hoạt tình dục; giảm tỷ lệ có thai ngoài ý muốn; nâng cao kiến thức về các nguy cơ về hoạt động tình dục không bảo vệ; trì hoãn thời điểm quan hệ tình dục lần đầu; tăng kiến thức về sức khỏe sinh sản ở học sinh và cải thiện hơn việc trao đổi thông tin giữa cha mẹ và con cái quan niệm về trinh tiết và giới tính
Nghiên cứu tại Vancouver, Canada khẳng định nhu cầu giáo dục cho các bác sĩ tương lai những kiến thức sâu hơn liên quan đến nạo phá thai
Hầu hết ở các nước đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của truyền hình trong vấn đề giáo dục giới tính
Trang 19Tình hình giáo dục giới tính tại Việt Nam
Ở nước ta, giáo dục dân số bắt đầu đưa vào thử nghiệm giảng dạy từ năm 1984 (Dự án VIE/88/P10), giáo dục giới tính và giáo dục đời sống gia đình (dự án VIE/88/P09) Chương trình được hoàn chỉnh trong thời gian 1994 – 1996 (dự án VIE/94/P10) Mục tiêu của chương trình giáo dục đó là: Giáo dục tình dục an toàn không làm cho có thai và mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nữ VTN có sinh hoạt tình dục sớm; giáo dục giới tính nhằm trì hoãn sinh hoạt tình dục ở nữ VTN Tuy nhiên hiệu quả chương trình thì chưa có khảo sát rộng để đánh giá
Theo một cuộc khảo sát của Viện chiến lược và chương trình giáo dục về tình hình thực hiện chương trình này thì GD sức khỏe sinh sản mới chỉ dừng ở mức dạy cho học sinh những bài học thuộc lòng và vô cảm Vì thế, nên mới có hiện tượng khi được hỏi đều biết biện pháp tránh thai hữu hiệu nhất, nhưng chỉ có gần 30% trong số đó hiểu thế nào là quan hệ tình dục an toàn và chỉ 58,7% biết phân biệt hành vi quấy rối tình dục với các trò đùa nghịch khác giới thông thường… Hơn nữa, trên thực tế hiện mới chỉ có khoảng 50% học sinh THPT được tiếp cận kiến thức này và quá nửa số các em khi học kiến thức về giáo dục giới tính đều trả lời rằng không thích học bộ môn này, vì phương pháp dạy của thầy cô không phù hợp
Nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Khánh Trang ghi nhận nguồn cung cấp các thông tin về giới tính, tình dục ở học sinhtheo thư tự là: bạn bè gần 90%, phim ảnh gần 70%, sách báo 60%, internet gần 40% Trong khi từ cha mẹ chỉ chiếm khoảng 20% và thầy cô khoảng 10% Các lý do khiến sự hạn chế trong việc trao đổi giữa cha mẹ, thầy cô và học sinh bao gồm:
- Ngần ngại hay lẫn tránh giáo dục giới tính cho con/trò ở lứa tuổi học cấp 3 lý do hàng đầu là không biết bắt đầu khi nào và như thế nào
- Cha mẹ cho rằng con còn nhỏ chưa cần biết
- Thầy cô cho rằng trò sẽ thử nghiệm khi được biết
- Thái độ tiêu cực không quan tâm đến vấn đề này ở cha mẹ và thầy cô
- Thái độ chủ quan khi cho rằng con/trò sẽ tự biết vấn đề giới tính khi trưởng thành
Các mô hình giáo dục giới tính hiện có Việt Nam
- Chương trình “Tăng cường chất lượng giáo dục dân số- sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong trường THPT” (thuộc tiểu dự án giáo dục dân số, nằm trong dự án dân
số- sức khoẻ gia đình) do Bộ GD-ĐT phối hợp cùng Uỷ ban quốc gia Dân số- gia đình- trẻ em (UB DS-GĐ- TE) bắt đầu thực hiện từ tháng 6/2001
- Mô hình phòng tư vấn sức khoẻ sinh sản tại Trường phổ thông Trung học Marie Curie và Đại học Sư phạm TP.HCM Theo đó, dự án sẽ thành lập hai phòng tư
vấn sức khoẻ sinh sản tại trường Trung học phổ thông Marie Curie và Đại học Sư phạm TP.HCM nhằm mục đích tư vấn, tuyên truyền cho học sinh, sinh viên những kiến thức về giới tính, sức khoẻ sinh sản, an toàn tình dục… Đội đồng đẳng gồm 40 thành viên là học
Trang 20sinh, sinh viên tình nguyện của hai trường cũng được hình thành Các chuyên viên tư vấn
và bác sĩ sẽ đào tạo, hỗ trợ về kỹ năng và kiến thức để lực lượng đồng đẳng có thể trực tiếp tư vấn, truyền thông cho các bạn cùng độ tuổi những thắc mắc xung quanh sức khỏe sinh sản Được biết, đầu tháng 7/2004, hai phòng tư vấn này sẽ chính thức hoạt động Tất
cả học sinh, sinh viên các trường khác đều có thể tham gia để được tư vấn và cung cấp miễn phí những thông tin liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe bản thân, sức khỏe sinh sản,
an toàn tình dục Thời gian qua, có khá nhiều hoạt động tư vấn về lĩnh vực nhạy cảm và cần thiết này cho đối tượng học sinh, sinh viên Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn chưa được "sát cánh" cùng các em trong đời sống hàng ngày Với việc thành lập hai phòng tư vấn trên, mục đích của Dự án giáo dục sức khỏe sinh sản mong muốn sẽ hỗ trợ tối đa cho các em những kiến thức cần thiết để phòng tránh các rủi ro liên quan
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIẢM PHÁ THAI Ỏ NỮ VTN
- Tăng cường đào tạo kiến thức sức khỏe sinh sản cho nữ VTN nhất là những nữ VTN ngoài học đường
- Thành lập tổ chuyên trách về sức khỏe sinh sản cho VTN ngay tại y tê cơ sở nhằm giáo dục về SKSS/KHHGĐ, tư vấn, giáo dục tránh thai khẩn cấp cho các đối tượng đã có sinh hoạt tình dục
- Kêu gọi sự tham gia của cha mẹ, thầy cô giáo vào chương trình giáo dục giới tính
- Tổ chức các buổi tập huấn về giáo dục giới tính cho cha mẹ và thầy cô cấp 3 trên toàn thành phố
- Tăng cường cung cấp các thông tin về sức khỏe sinh sản vị thành niên trên các phương tiện truyền thông đại chúng để mọi người trong xã hội hiểu đúng vai trò của giáo dục giới tính cho tuổi VTN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bệnh viện Từ Dũ (2008) Báo cáo tổng kết hoạt động bệnh viện
2 UNFPA (2007) Nghiên cứu về SKSS tại Việt Nam: Báo cáo rà soát các
nghiên cứu giai đoạn 2000-2005, Hà Nội
3 Đặng Nguyên Anh (2000) Vị thành niên và biến đổ xã hội Viện xã hội học và
hội đồng dân số
4 Nguyển Quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, Daniel Weitranb & Meredith Caplan
(1999) Khảo sát kiến thức thái độ hành vi của thiếu niên Hải Phòng với các
vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản Ủy Ban quốc gia dân số và kế hoạch
hóa gia đình
5 Hồ Ngọc Điệp (2001) Nghiên cứu dịch tễ học về các yếu tồ ảnh hưởng đến
quyết định giữ thai của phụ nữ vi thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh năm
1998 Đại học Y Dược TP.HCM, TP HCM
6 Phạm Gia Đức & Tạ Thị Thanh Thủy (1997) Kiến thức thai độ hành vi sinh
sản ở tuổi thiếu niên học sinh Tp.HCM Thời sự y dược học, II(8), 45 - 47
Trang 217 Nguyễn Đức Trí Dũng (1999) Nghiên cứu kiến thức thái độ hành vi tính dục
của học sinh phổ thông trung học tại Tp.HCM Đại học Y dược Tp.HCM, Hồ
Chí Minh
8 Lê Huỳnh Thị Cẩm Hồng (2008) Kiến thức, thái độ và nhu cầu giáo dục về
giới tính của học sinh trường Ngô Tất Tố, Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008, Đại học Y dược TPHCM
9 Huỳnh Thanh Hương (2005) Các yếu tố nguy cơ của phá thai to ở tuổi vị
thành niên Đại Học Y Dược Tp.HCM, Hồ Chí Minh
10 Diệp Từ Mỹ & Nguyễn Văn Lơ (2004) Kiến thức, thái độ, thực hành về sức
khỏe sinh sản của học sinh PTTH TPHCM năm 2004 Tap chí Y học TPHCM,
9(1), 69 - 71
11 Nguyễn Xuân Nghĩa (1997) Sơ bộ tìm hiểu trẻ em bị lạm dụng tình dục tại
Tp.HCM Bộ Y tế và Hội đồng dân số
12 Bộ Y tế & SIDA (2006) Điều tra quốc gia về vị thành niên, thanh niên
Việt Nam Báo cáo chuyên đề: Một số vấn đề sức khỏe tình dục và sinh sản của vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY)
13 Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2004) Một số yếu tố ảnh hưởng hành vi quan hệ
tình dục của học sinh cấp 3 tại Tp.HCM Đại học Y dược Tp.HCM, Hồ Chí
Minh
14 Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2004) Một số yếu tố liên quan đến nạo phá thai
ở phụ nữ có thai lần đầu tại TP Hồ Chí Minh Tạp chí y Tế Công Cộng, 8(2)
15 Abortion: Adolescent‟ attitudes Am.J.Public Health, 61(4), 730 - 738
16 Bacci A, Manhica GM, Machun go F, Bugalho A & Cuttini M (1993)
Outcome of teenage pregnancy in Maputo, Mozambique Int-
Gynaecol-Obste(40), 19 - 23
17 Bluestein D & Rutledge CM (1993) Mối quan hệ gia đình và triệu chứng trầm
cảm trước phá thai Fam Pract Res J, 13, 149 - 156
18 Burkman RT, Atienza MF & King TM (1984) Nguy cơ mắc bệnh trong trẻ vị
thành niên trải qua phá thai Contraception, 30, 99 - 105
19 Campbell NB, Franco K & Jurs S (1988) Nạo thai ở trẻ vị thành
niên Adolescence, 23, 813 - 823
20 Chilman S.C (1990) Social and psychological concerning adoslescent bearing:
1970-1980 Journal of Marriage and family(42), 793 - 805
21 Daling JR, Malone KE, Voigt LF, White E & Weiss NS (1994) Nguy cơ ung
thư vú ở phụ nữ trẻ: mối liên quan với phá thai J Natl Cancer Inst, 86, 1584 -
1592
Trang 2222 David M Fergusson, L John Horwood & Joseph M Boden (2008) Phá thai và
những rối lọan về sức khỏe tâm thần: những bằng chứng của nghiên cứu dọc
trong 30 năm The British Journal of Psychiatry, 193, 444 - 451
23 Eskenazi B, Fenster L & Sidney S (1991) Phân tích đa biến các yếu tố nguy cơ
của tiền sản giật JAMA, 266, 237 - 241
24 Franz W & Reardon D (1992) Những ảnh hưởng khác nhau của phá thai trên
trẻ vị thành niên và người trưởng thành Adolescence, 27, 161 - 172
25 Gissler M, Hemminki E & Lönnqvist J (1996) Tự tử sau mang thai ở Phần
Lan, 1987 - 1994 BMJ, 313, 1431 - 1434
26 Hofferth S.L & Hayes C.D (1987) Risking the future: Adolescent Sexuality,
Pregnancy and Childbearing 1, Washington DC: National Academy of Science
27 Ineichen B (1986) Contraceptive experience and attitude to motherhood of
teenage mother Juornal of Biosocial Science(18), 387 - 394
28 Kirby D (1997) No easy answer: Research findings on programs to reduce
teen pregnancy National Campaign to Prevent teen pregnancy
29 Mensch S.B, H.W, C & Anh DN (2003) Adolescent In Vietnam: loking
beyond reproductive health Family plainning Perspectives, 34(4), 249 - 262
30 Moore S & Rosenthal D (1994) Sexual risk I (AIDS and sexually
transmissible diseases), Sexualy risk II (Presnancy and Abortion) In Sexuality
in Aldolescence (pp 124 - 155) London and New York: Ruotledge
31 Parazzini F, Ferraroni M, Tozzi L, Ricci E, Mezzopane R & La Vecchia C
(1995) Phá thai và nguy cơ thai ngoài tử cung Human Reproductive, 10, 1841
- 1844
32 Slava V Gaufberg (2008) Abortion, complication emedicine specialties -
emergency medicine - obstetrics & gynecology
33 Spence M Sexually Transmitted Disease Bulletin John Hopkins University
34 Sykes P (1993) các biến chứng của việc chấm dứt thai kỳ: hồi cứu các trường
hợp nhập viện từ năm 1989 - 1990 New Zealand Medical Journal, 106, 83 -
85
35 Tine Gammeltoft & Nguyen Minh Thang (1999) Tình yêu chúng em không
giới hạn - Our love has no limits NXB Thanh Niên Hà Nội
36 Xiong X, Fraser WD & Demianczuk NN (2002) Tiền sử phá thai, sanh non,
các yếu tố nguy cơ của tiền sản giật: Nghiên cứu trong cộng đồng Am J Obstet
Gynecol, 187, 1013 - 1018
Trang 23
HỘI CHỨNG TRẺ BỊ LẮC SHAKEN BABY SYNDROME
Nguyễn Công Nghĩa*,
*: Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội Tác giả: Ts Bs Nguyễn Công Nghĩa – 0936129696 – ncnghia67@yahoo.com
Có thể bạn chưa bao giờ nghe tới hoặc chưa từng chú ý đến hội chứng này Hội chứng này được mô tả lần đầu tiên vào những năm 1970, nhưng được sự chú ý và nghiên cứu đặc biệt vào khoảng 10 năm gần đây Mang tên là hội chứng trẻ bị lắc (Shaken Baby Syndrome - SBS) hay đôi khi được gọi là chấn thương đầu kiểu ngược đãi (Abusive Head Trauma)
Hội chứng này là gì và tổn thương như thế nào?
Hội chứng này là dạng nặng của chấn thương đầu và não gây ra bởi rung lắc mạnh trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ Hội chứng này thường xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi tuy nhiên có thể tới 5 tuổi, và gặp nhiều nhất ở trẻ dưới 9 tháng Tại Mỹ, ước tính khoảng 1200 đến 1400 trẻ bị chấn thương hoặc chết do lý do rung lắc mỗi năm, theo con số từ Trung tâm quốc gia kiểm soát hội chứng trẻ bị lắc Tuy nhiên, con số này có thể cao hơn nhiều bởi nhiều trường hợp không phát hiện được Thụy sĩ báo cáo một con số thấp hơn rất nhiều: chỉ có
49 trường hợp được báo cáo từ năm 2002-2007, trên phạm vi khoảng 80% dân số nước này
Động tác bế và rung lắc của người lớn đối với trẻ ở các quốc gia có thể khác nhau và tùy theo tập quán sinh hoạt Sự nguy hiểm nhất đề cập trong bài này là những rung lắc khi bế xốc trẻ trong tư thế đứng và không giữ cố định cổ để cho cổ di chuyển theo hướng trước sau Tuy nhiên nguy hiểm vẫn xảy ra khi bế trẻ ở mọi tư thế mà rung lắc mạnh với cường
độ cao hoặc dừng hay va chạm đột ngột Các nghiên cứu cho thấy những tổn thương có thể xảy ra chỉ trong với 5 giây rung lắc Rung lắc mạnh có thể gây ra những tổn thương não vĩnh viễn Trường hợp rất nặng có thể dẫn tới chết
Trẻ sơ sinh có kích thước đầu lớn và nặng khoảng 1 phần tư so với toàn cơ thể Trong đầu, có những khoảng trống giữa não và xương sọ cho phép não tiếp tục lớn và phát triển Não của trẻ thì mềm với màng não mỏng Các cơ và dây chằng vùng cổ thì yếu và chưa phát triển cũng chưa thể chịu đựng được sức nặng của đầu, sự lỏng lẻo này được ví như đầu chiếc roi (vì thế hội chứng này có tên lúc đầu là whiplash shaken baby) Khi bị rung lắc, xương sọ mềm và dẻo của trẻ không chịu được những lực này, sẽ chuyển lực tới não, khi não không có sự di chuyển đồng bộ và gây ra sự va đập trở lại tới xương sọ, làm giập não, tăng áp lực, phù và chảy máu trong não Các tĩnh mạch lớn dọc theo phía ngoài não
Trang 24cũng mỏng manh và dễ rách, gây chảy máu, máu tụ dưới màng cứng, ngoài màng cứng, dưới màng nhện, tăng áp lực nội sọ Những tổn thương này có thể là vĩnh viễn Tuy nhiên những tổn thương này không thể thấy được từ bên ngoài bằng mắt thường Nhiều trường hợp tổn thương trong não nhẹ rất khó phát hiện Ngoài ra, tổn thương khác rất thường gặp
ở mắt, do chảy máu võng mạc, có thể gây nên giảm thị lực hoặc mù Các chấn thương khác có thể gặp ở cổ hay cột sống, hay xương sườn
Hình 1 Tờ rơi để giáo dục cho hội chứng trẻ bị lắc trên trang web của một hội bảo trợ trẻ em (Children without a voice – USA)
Những tổn thương lâu dài bao gồm chậm phát triển trí tuệ, thị lực kém, rối loạn hành vi nói và nghe, động kinh, tổn thương kỹ năng định hướng, và nhận thức, và cũng có thể tử vong Nhiều tổn thương lâu dài chỉ phát hiện được khi trẻ đã lớn, trên 6 tuổi Những điều trị tổn thương này đòi hỏi chi phí tốn kém, với kỹ năng chuyên sâu, và nỗ lực lâu dài
Nguyên nhân và triệu chứng
Các nguyên nhân lại rất thông thường và không bởi tai nạn Hầu hết các trường hợp gây
ra khi đứa trẻ khóc liên tục không ngừng và không dỗ được khiến cho cha mẹ hoặc người chăm sóc nỗ lực làm đứa trẻ ngừng khóc hoặc những người này trong tình trạng bực bội, mất kiên nhẫn và kiểm soát Những nỗ lực này được thể hiện bằng cách rung lắc trẻ với cường độ cao hoặc có các hành vi mạnh hay có tính bạo lực hơn Hiện tượng này rất phổ biến một cách không cố ý và không hề chủ tâm gây nguy hiểm cho trẻ
Trang 25Triệu chứng: Cần lưu ý rằng rất nhiều trẻ không có triệu chứng rõ rệt bên ngoài Các dấu hiệu rõ rệt hơn bao gồm:
- Trẻ bị kích thích mạnh, thay đổi hành vi thông thường, không tiếp xúc
- Đờ đẫn, lơ mơ, hoặc ngủ mê mệt, trương lực cơ giảm (cơ nhẽo)
- Da xanh tái, nhìn thấy rõ nhất vùng trán
- Ăn, bú khó, khó nuốt hoặc nôn không có lý do rõ ràng
Chẩn đoán, sơ cứu và điều trị ban đầu
Chẩn đoán: Thường không nhìn thấy các triệu chứng của tổn thương từ bên ngoài Tuy nhiên bác sĩ nhãn khoa có thể phát hiện các chảy máu võng mạc mắt khi soi đáy mắt Khi nghi ngờ, các bác sĩ nhi khoa có thể tiến hành chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hưởng từ để tìm thương tổn
Sơ cứu ban đầu:
- Hãy gọi cấp cứu, đừng cố vận chuyển trẻ tới bệnh viện trên các phương tiện thông thường
- Đừng bế xốc trẻ lên hay cố gắng lắc thêm làm cho trẻ tỉnh lại
Trang 26- Không cho trẻ ăn lúc này
- Nếu đứa trẻ ngừng thở trước khi có cấp cứu hỗ trợ, cần phải hô hấp nhân tạo để trợ giúp
- Nếu trẻ có nôn và không có nghi ngờ chấn thương cổ, có thể xoay đầu trẻ nhẹ nhàng về 1 phía để tránh sặc và ngừng thở Nếu có nghi ngờ chấn thương cổ, tránh xoay trở trẻ và bảo vệ cẩn thận vùng cổ
Điều trị: Tại bệnh viện, các bác sĩ sẽ phải xem xét các thương tổn và quyết định một số điều trị như phẫu thuật cầm máu, dẫn lưu trong não thất, thuốc chống giật, v v
Các nguyên tắc phòng ngừa
- Không bao giờ lắc trẻ, kể cả khi vui đùa hay giận dữ Khi di chuyển trẻ, hãy giữ
cổ ở tư thế tương đối cố định Không ôm giữ trẻ khi cãi cọ
- Một đứa trẻ khóc trong 2-3 giờ vẫn có thể là bình thường Bạn phải tìm hiểu nhiều nguyên nhân tại sao đứa trẻ khóc quá nhiều Bạn nên có 1 danh sách các việc cần làm khi đứa trẻ khóc, ví dụ như sau: Trước hết, bạn hãy kiểm tra tã hay bỉm để bảo đảm
đã được thay sạch Bạn có thể nới rộng quần áo nếu trẻ mặc quá chật Bạn kiểm tra xem trẻ có đói hay không và cho trẻ ăn Kiểm tra xem trẻ có quá nóng hoặc quá lạnh Hãy thử
sử dụng đầu vú giả Hãy ôm ấp xoa vuốt nhẹ nhàng trên mình của trẻ, tắt bớt đèn và bật nhạc nhẹ nhàng Hãy xem các dấu hiệu bất thường khác về cách đứa trẻ thở, nhiệt độ cơ thể Nếu không có bất kỳ điều gì đặc biệt, bạn có thể an tâm rằng đôi khi đứa trẻ khóc không có nguyên nhân, và khóc cũng không gây nguy hiểm gì cho trẻ Khi bạn cảm thấy hết cách và rất khó chịu, hãy để đứa trẻ một mình an toàn trong cũi, giữ bình tĩnh, có thể
ra ngoài một chút và quay lại kiểm tra mỗi 5-10 phút hoặc yêu cầu người khác trợ giúp
- Giáo dục kỹ lưỡng người giúp việc hay người chăm sóc trẻ, đừng bao giờ giả định rằng họ hiểu hết và biết cách xử thế khi trẻ khóc không thể dỗ được Hãy cho phép
họ được thông báo với bạn khi trẻ khóc, cũng đừng bắt buộc họ phải luôn luôn làm mọi cách để đứa trẻ ngừng khóc Hãy chia sẻ những điều này cả với những người khác trong gia đình hay thường xuyên chăm sóc trẻ Những bậc ông bà của trẻ cũng không nên vì quá yêu trẻ mà rung lắc hay tạo áp lực cho cha mẹ của trẻ khi trẻ khóc nhiều
Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về mức độ và tư thế như thế nào là nguy hiểm cho trẻ Trước tiên phải nói rằng những đung đưa nhẹ nhàng không gây nguy cơ này Nhìn chung, các chuyên gia cho rằng một số động tác như tung trẻ lên không, rung trên đầu gối, đeo hoặc mang khi chạy thể dục, lắc trong võng hay đu ở mức độ thông thường không gây ra hội chứng này
Các nghiên cứu và những nguồn thông tin bổ ích:
Trang 27Tạp chí y học uy tín nổi tiếng BMJ (British Medical Journal) dành hẳn 1 số báo tháng 5 năm 2004 đăng tải những kết quả nghiên cứu, ý kiến, tranh luận và phân tích của những chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này Các nghiên cứu hiện vẫn đang được tiến hành nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ với kinh phí từ Viện sức khỏe Mỹ
Tất cả các bệnh viện sản khoa, trung tâm sinh đẻ nước Mỹ đã có cung cấp băng hình, đào tạo cho cha mẹ về hội chứng này Cả hai cha mẹ được yêu cầu bắt buộc xem băng hình trong gần 1 giờ và ký giấy cam kết là đã được huấn luyện Luật pháp Mỹ cũng quy định buộc tội ngược đãi và hình phạt tù với các cha mẹ gây ra hội chứng này cho trẻ mặc dầu không cố ý
Bạn có thể tìm thấy rất nhiều các thông tin bổ ích khác từ các trang web chính thức của Viện sức khỏe Mỹ hay Trung tâm quốc gia trẻ có hội chứng bị lắc của Mỹ Trung tâm này có chức năng trao đổi thông tin, đào tạo, giáo dục, và tiến hành nghiên cứu về hội chứng này trên toàn nước Mỹ Website của họ là: http://www.dontshake.org/index.php
Bạn cũng có thể xem đoạn phim video rất bổ ích từ tổ chức Quỹ Nhi đồng tin cậy (Children Trust Fund) tại Missouri trên trang web của họ: www.ctf4kids.org Hoặc bạn
YouTube: http://www.youtube.com/watch?v=w6yfvx0ik1M&feature=related
Thông điệp cuối cùng:
Không được, không bao giờ được lắc trẻ nhỏ
Hãy để trẻ luôn luôn bình an trong gia đình và vòng tay bạn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Matschke J, Herrmann B, Sperhake J, Körber F, Bajanowski T, Glatzel M Shaken baby syndrome: a common variant of non-accidental head injury in infants Dtsch Arztebl Int. 2009;106(13):211-7
2 Christian CW, Block R; Committee on Child Abuse and Neglect; American
Trang 285 Carbaugh SF Understanding shaken baby syndrome Adv Neonatal Care. 2004;4(2):105-14
6 Wyszynski ME Shaken baby syndrome: identification, intervention, and prevention Clin Excell Nurse Pract. 1999;3(5):262-7
7 Smith KM, deGuehery KA Shaken baby syndrome education program: nurses making a difference MCN Am J Matern Child Nurs. 2008;33(6):371-5
8 Goulet C, Frappier JY, Fortin S, Déziel L, Lampron A, Boulanger
M Development and evaluation of a shaken baby syndrome prevention program J Obstet Gynecol Neonatal Nurs. 2009;38(1):7-21
9 Deyo G, Skybo T, Carroll A Secondary analysis of the "Love Me Never Shake Me" SBS education program Child Abuse Negl 2008 Nov;32(11):1017-
25
Trang 29
SÀNG LỌC MẤT THÍNH LỰC (GIẢM KHẢ NĂNG NGHE HOẶC ĐIẾC)
BẨM SINH Ở SƠ SINH HEARING LOSS SCREENING FOR NEWBORNS
Nguyễn Huy Bạo*, Nguyễn Công Nghĩa**
*: Đại học Y Hà Nội, **: Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội Tác giả liên lạc: Ts Bs Nguyễn Công Nghĩa – 0936129696 – ncnghia67@yahoo.com
Tầm quan trọng của sàng lọc mất thính lực trên tất cả các trẻ sơ sinh
Các điều tra trên thế giới cho các con số khác nhau, tuy nhiên, mất thính lực (giảm khả năng nghe hoặc điếc) có thể gặp với tỷ lệ từ 3-4 trên 1000 sơ sinh cho đến cao nhất là 1-2 trên 100 sơ sinh Mất thính lực có thể ở một hoặc cả hai tai Đó là một trong những rối loạn thường gặp nhất so với các rối loạn khác đang được sàng lọc rộng rãi như thiếu máu hồng cầu liềm, thiếu men G6PD, phenylketonuria hay suy giáp trạng bẩm sinh Chưa có một con số nào về mất thính lực ở trẻ sơ sinh được công bố ở Việt nam
Nhiều hội đồng khoa học uy tín trên thế giới tại Mỹ, Anh và nhiều nước khác đưa ra khuyến nghị rằng mất thính lực cần phải được xác định và điều trị nếu có thể trước khi trẻ được 6 tháng tuổi Khuyến cáo này dựa trên các nghiên cứu những trẻ mất thính lực được xác định và điều trị trước 6 tháng tuổi thì cũng có khả năng phát triển các kỹ năng tương đương với các trẻ bình thường khi đi nhà trẻ Những trẻ được phát hiện muộn (ví dụ khi trẻ 2-3 tuổi) có thể phải gánh chịu những khuyết tật vĩnh viễn, không thể sửa chữa được
về khả năng phát âm, phát triển ngôn ngữ và nhận thức so với các trẻ bình thường
Hầu hết các trường hợp mất thính lực vĩnh viễn là do sự phá hủy hoặc mất chức năng của thần kinh thính giác dẫn truyền tín hiệu âm thanh từ tai trong tới não Tuy nhiên, chỉ khoảng một nửa các trường hợp mất thính lực là có thể xác định được nguyên nhân Trong số các nguyên nhân xác định được, khoảng một nửa là do các lý do mắc phải trong quá trình mang thai và sinh đẻ và khoảng một nửa còn lại là do các nguyên nhân có yếu
tố di truyền
Trang 30Chương trình sàng lọc mất thính lực cho trẻ sơ sinh được thiết kế để xác định mất thính lực cho trẻ sớm ngay sau khi đẻ, thông thường là trước khi ra viện về nhà Bác sĩ hoặc y
tá điều dưỡng được huấn luyện đặc biệt để sử dụng thiết bị kiểm tra Nếu trẻ vượt qua được thử nghiệm ngay lần đầu, có nghĩa là khả năng thính lực của trẻ là bình thường Nếu không vượt qua, thử nghiệm sẽ được làm lại và có thể sẽ được khuyến cáo chuyển tới bác
sĩ chuyên khoa thính lực cho các thăm dò sâu tiếp theo
Yếu tố nguy cơ cho mất thính lực ở trẻ
Một số trẻ có nguy cơ mất thính lực hơn những trẻ khác Nhóm này bao gồm các trẻ từ:
Những bà mẹ mắc một số bệnh lý khi mang thai: nhiễm cytomegalovirus, rubella (sởi Đức), giang mai, herpes, toxoplasmosis (bệnh mèo cào)
Tiền sử gia đình có người mất thính lực
Các bà mẹ có tiếp xúc hay sử dụng các thuốc, ví dụ các kháng sinh mạnh điều trị nhiễm khuẩn thuộc nhoma aminoglycosides (gentamycin, kanamycin), hóa liệu pháp chống ung thư, hoặc hóa chất độc hại có thể gây ảnh hưởng đến thính lực
Trẻ đẻ non hoặc sinh nhẹ cân, có các dấu hiệu của suy hô hấp sau đẻ, và phải thông khí hỗ trợ kéo dài
Trẻ bị vàng da do tăng bilirubin, viêm màng não
Trẻ có chỉ số Apgar sau đẻ thấp
Bất thường cấu trúc ở đầu, mặt, cấu trúc bất thường của tai ngoài và tai giữa
Tuy nhiên, ngay cả những trẻ không có các yếu tố nguy cơ này, vẫn có khả năng mất thính lực, vì thế chương trình sàng lọc cần áp dụng cho mọi trẻ sơ sinh trước khi ra viện
về nhà
Các phương pháp sàng lọc mất thính lực ở trẻ sơ sinh
Có 2 phương pháp sàng lọc chính hiện áp dụng rộng rãi trên thế giới: 1) Đo lường âm thanh từ ốc tai (otoacoustic emission – OAE), và 2) đánh giá đáp ứng âm của cuống não (auditory brainstem response – ABR) Cả 2 phương pháp đều có độ chính xác cao, không xâm nhập hay đau đớn, tự động và không đòi hỏi sự quan sát chủ quan nào với sự đáp ứng của trẻ Việc sử dụng phương pháp nào tùy theo sự chọn lựa của chương trình sàng lọc và huấn luyện
Đo lường âm thanh từ ốc tai (OAE) đo lường đáp ứng tại ốc tai khi có kích thích bởi âm thanh Người thực hiện sẽ đặt 1 đầu dò chứa đựng 1 microphone và 1 loa rất nhỏ vào tai trong của trẻ Khi trẻ sơ sinh nằm yên lặng, âm thanh rất mềm mại sẽ được phát ra từ đầu
dò Khi ốc tai nhận được âm thanh, tín hiệu sẽ phát đi tới não Thêm vào đó, có 1 âm thanh riêng biệt khác phát ra từ ốc tai quay trở lại ống tai Chính âm thanh này được gọi
là âm thanh kiểu tiếng vọng “thoát ra” từ ốc tai Âm thanh “thoát ra” này được ghi lại qua microphone và trở thành hình ảnh trên màn hình Người đo có thể xác định được âm thanh nào tạo ra được đáp ứng “thoát ra” và độ lớn của đáp ứng Nếu có sự xuất hiện đáp ứng “thoát ra” cho những âm thanh quan trọng nhất cho sự phát triển khả năng nghe nói
Trang 31sau này ở mức độ cho phép, đứa trẻ được đánh giá là đã vượt qua thử nghiệm Thử nghiệm thường kéo dài khoảng 5-8 phút
Đánh giá đáp ứng âm thanh của cuống não (ABR) là một đo lường vật lý, đo lường các xung điện từ tai tới não khi đáp ứng với âm thanh Phương pháp sàng lọc này đo độ gắn
bó của toàn bộ hệ thống nghe từ tai đến não Người thực hiện sẽ đặt 4-5 điện cực trên đầu trẻ, sau đó trẻ sẽ được nghe nhiều loại âm thanh khác nhau qua 1 tai nghe nhỏ Các kích thích âm thanh được truyền tới não và các điện cực sẽ ghi lại thành các sóng trên màn hình Người thực hiện có thể điều chỉnh độ to nhỏ khác nhau của nhiều âm thanh và xác định mức độ nhẹ nhất mà trẻ sơ sinh có thể nghe được Nếu chỉ với mục đích sàng lọc, người thực hiện có thể chỉ dùng 1 âm thanh tương tự như tiếng click nhỏ, và nếu có các dấu hiệu đáp ứng, đứa trẻ được đánh giá là đã vượt qua thử nghiệm Thử nghiệm thường kéo dài khoảng 5-10 phút
Việc sử dụng thử nghiệm nào là tùy thuộc vào chọn lựa của chương trình sàng lọc và huấn luyện Đo lường theo OAE thường đơn giản hơn, ít tốn kém hơn tuy nhiên tỷ lệ dương tính giả (thính lực bình thường nhưng lại không vượt qua được thử nghiệm) của phương pháp này cao hơn so với tỷ lệ dương tính giả của ABR khi được thực hiện trong vòng 3 ngày đầu sau đẻ Sự khác biệt này là do phương pháp OAE nhạy cảm hơn với dịch ối hay chất gây đọng lại trong tai rất thường thấy ở trẻ Nhiều chương trình sàng lọc
sử dụng OAE, sau đó là ABR trên những trẻ không vượt qua được thử nghiệm OAE
Trang 32Hai phương pháp thử nghiệm này là khác nhau về mặt cơ chế, và có thể sử dụng phối hợp
cả hai phương pháp để có đánh giá tốt hơn về thính lực của trẻ
Nếu trẻ không vượt qua được thử nghiệm có nghĩa là gì
Không hẳn tất cả những trẻ sơ sinh không vượt qua thử nghiệm thính lực có nghĩa là mất thính lực Thống kê cho thấy khoảng 2-10% trẻ sơ sinh tại Mỹ không vượt qua thử nghiệm thính lực lần đầu Có nhiều lý do cần phải xem xét Trước tiên, có thể là có nhiều dịch ối trong ống tai, và dịch ối này cản trở các kích thích âm thanh tới được tai trong Tương tự như vậy, dịch ối đọng trong khoang tai giữa, sau màng nhĩ, cũng gây cản trở các kích thích âm thanh dẫn đến kết quả dương tính giả Vì thể, nếu một trẻ không vượt qua thử nghiệm, cần phải chờ ít nhất 1 tuần mới thử nghiệm lại để tai trẻ khô lại Một lý
do khác nữa có thể là do tiếng động bên ngoài quá mạnh, trẻ khóc hay trẻ cử động trong quá trình thử nghiệm Vì thế, đứa trẻ cần yên lặng hay ngủ trong quá trình thử nghiệm Cho trẻ bú trước khi làm thử nghiệm thường sẽ làm trẻ ngủ dễ dàng hơn
Nếu có những bằng chứng rõ ràng về việc mất thính lực thông qua các thử nghiệm này, trẻ cần phải được chuyển đến các chuyên gia thính học để có chẩn đoán tổng thể về dạng
và mức độ mất thính lực Các chuyên gia sẽ tiến hành các đo lường cụ thể và chính xác hơn để xác định liệu tổn thương là vĩnh viễn hay có thể chữa được Thường là kỹ thuật ABR với nhiều kích thích âm thanh khác nhau hơn sẽ được áp dụng
Nói tóm lại, khi một trẻ sơ sinh không vượt qua được thử nghiệm lần đầu tại bệnh viện sau khi sinh, các bác sĩ có thể giới thiệu tới trung tâm tai mũi họng để tiến hành lại thử nghiệm sau 1 tuần Nếu trẻ tiếp tục không vượt qua thử nghiệm lần 2 thì các thử nghiệm chẩn đoán cấp độ cao sẽ được tiến hành Nếu đứa trẻ được chẩn đoán là giảm hoặc mất thính lực, chuyên gia thính học sẽ cho biết loại và mức độ của bệnh Ví dụ như mất thích lực do các nguyên nhân thực thể như viêm tai giữa, đọng dịch, thủng màng nhĩ hay bất thường cấu trúc tai, có thể chữa được bằng thuốc hay phẫu thuật Mất thính lực do lý do thần kinh thì phức tạp hơn, đòi hỏi các thiết bị trợ thính hay cấy ghép ốc tai
Kế hoạch sàng lọc của bệnh viện Phụ sản Hà nội
So sánh với trẻ có thính lực bình thường, các trẻ giảm hoặc mất thính lực có nhiều khó khăn trong giao tiếp, cả bằng lời và ngôn ngữ cử chỉ, gia tăng các rối loạn hành vi, và nhiều khó khăn trong giáo dục Việc phát hiện và điều trị sớm có thể mang lại những lợi ích rất thiết thực cho trẻ và gia đình Thêm vào đó, bởi khoảng một nửa số trẻ giảm hoặc mất thích lực không có các yếu tố nguy cơ sẵn có, chúng tôi quyết định thực hiện sàng lọc thính lực trên toàn bộ trẻ sơ sinh tại bệnh viện thay vì chỉ thực hiện trên nhóm có nguy cơ
Bệnh viện Phụ sản Hà nội sẽ phối hợp với Bệnh viện Tai mũi họng trung ương trong chương trình sàng lọc này bao gồm huấn luyện sử dụng thiết bị, phân tích kết quả, và giới thiệu các chuyên gia khi cần Chương trình sàng lọc thử nghiệm sẽ được tiến hành từ tháng 3 năm 2010, sử dụng phương pháp đo lường âm thanh thoát ra từ ốc tai (OAE), thực hiện khi trẻ đang ngủ Sau một tháng thử nghiệm, sẽ đánh giá lại kết quả và đưa vào thực hiện trên toàn bộ các trẻ sơ sinh tại bệnh viện
Trang 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Thompson DC, McPhillips H, Davis RL, Lieu TL, Homer CJ, Helfand
M Universal newborn hearing screening: summary of evidence JAMA 2001; 16:2000-10
2 Mehl AL, Thomson V The Colorado newborn hearing screening project, 1999: on the threshold of effective population-based universal newborn hearing screening Pediatrics.2002;109(1):E7
1992-3 Stewart DL, Mehl A, Hall JW 3rd, Thomson V, Carroll M, Hamlett J Universal newborn hearing screening with automated auditory brainstem response: a multisite investigation J Perinatol.2000;20(8 Pt 2):S128-31
4 Kezirian EJ, White KR, Yueh B, Sullivan SD Cost and cost-effectiveness of universal screening for hearing loss in newborns Otolaryngol Head Neck Surg. 2001;124(4):359-67
5 Stein LK Factors influencing the efficacy of universal newborn hearing screening Pediatr Clin North Am. 1999;46(1):95-105
6 Bolat H, Bebitoglu FG, Ozbas S, Altunsu AT, Kose MR National newborn hearing screening program in Turkey: struggles and implementations between
2004 and 2008 Int J Pediatr Otorhinolaryngol. 2009;73(12):1621-3
7 Gorga MP, Neely ST Cost-effectiveness and test-performance factors in relation to universal newborn hearing screening Ment Retard Dev Disabil Res Rev. 2003;9(2):103-8
8 Kemp DT, Ryan S Otoacoustic emission tests in neonatal screening programmes Acta Otolaryngol Suppl. 1991;482:73-84
9 Perez-Abalo MC, Gaya JA, Savio G, Ponce de Leon M, Perera M, Reigosa
V Early detection and intervention of hearing impairment in Cuba: outcome after
20 years Rev Neurol. 2005 1-15;41(9):556-63
Trang 34TỈ LỆ NHIỄM HIV CỦA CHỒNG THAI PHỤ CÓ HIV DƯƠNG TÍNH
TẠI BỆNH VIỆN TỪ DŨ 2008-2009
Huỳnh Thị Thu Thủy*, Nguyễn Ban Mai*
*: Bệnh viện Từ Dũ Tác giả liên lạc: Nguyễn Ban Mai – 0918237776 – bsbanmai2008@yahoo.com
TÓM TẮT:
Mục tiêu: M ục đích của nghiên cứu là xác định tỉ lệ nhiễm HIV của chồng thai ph ụ có
HIV dương tính tại bệnh viện Từ Dũ 2008-2009.Thiết kế nghi ên c ứu: Nghiên cứu cắt ngang Kết quả: Từ tháng 5/2008-5/2009: 199 cặp vợ chồng c ó vợ là thai phụ nhiễm HIV thỏa tiêu chí chọn mẫu Tỉ lệ nhiễm HIV của chồng: 68,8%.Các yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV của chồng: tuổi chồng (20-29); thời gian sống chung với vợ từ 2 năm trở lên; chồng có quan hệ tình dục với gái mại dâm; chồng có sử dụng chất gây nghiện Kết luận: tỉ lệ nhiễm HIV của chồng: 68,8%(61,9%-75,2%)
Từ khóa: HIV, chồng thai phụ, yếu tố liên quan
of infected-HIV pregnant women‟s husband in Tu Du hospital 2008-2009 to reexamine the understanding that majority of HIV infected pregnant women got HIV from their HIV The result of this finding will determine if current prevention strategies may need to
be modified or not Methods: A cross sectional study where all HIV infected pregnant women who at the time of study have sex partner(s), who also agreed to HIV test Any other requirements i.e time leave together, …), HIV test for both husbands and wives are done following national guidelines with 3 tests are required Additionally all participants also being interviewed using a questionnaire that collected basic related information (list any special information collected here) Results: Between May 2008 and May 2009 199
Trang 35couple were tested The infection rate among husband was 68.8%-95% KTC 75.2%) By age, the highest HIV infection rate among husband occur with the age group
(61.9%-of 20-29 (44.2%) The average (3_+ 1.9 years) time live with their wife is over 3 years; Have sex with sex-worker; Drug user Conclusions: More than one third of HIV pregnant women participated in the study do not have HIV infected husband Although the mode of infection among these women needs further investigation, the need of a prevention strategy is clearly implicated Next step: Further investigate the route of infection among those HIV infected pregnant women whose husbands are HIV free Key words: HIV, pregnancy‟s husband, risk factor
ĐẠI CƯƠNG
Cả nước tính đến 31/12/2008, cĩ 138.191 người nhiễm HIV, 29.575 người đang ở giai đoạn AIDS, 41.544 người đã chết do AIDS Riêng thành phố Hồ Chí Minh tính đến tháng 12/2008, cĩ 69.269 người nhiễm HIV, 20.073 người ở giai đoạn AIDS, 19.866 người đã chết do AIDS [4] Nam giới cĩ tỉ lệ nhiễm cao do hai hành vi nguy cơ chính là tiêm chích
ma túy hoặc quan hệ tình dục khơng bảo vệ với người nhiễm HIV Những người này là nguồn lây nhiễm cho chính vợ/bạn tình của mình và thậm chí cho trẻ sơ sinh nếu cĩ thai
Tỉ lệ thai phụ nhiễm HIV ở bệnh viện Từ Dũ hiện nay là 0.8% Bên cạnh đĩ, số lượng thai phụ đến sanh tại Bệnh viện Từ Dũ trong 5 năm từ 2003 – 2008 ngày càng tăng do đĩ
số trường hợp nhiễm HIV cũng tăng theo Cụ thể năm 2005 cĩ 400 trường hợp nhiễm trên tổng số 51.133 ca sanh [1] Các thai phụ bị nhiễm HIV/AIDS cĩ thể lây nhiễm cho con của họ nếu khơng được phát hiện và điều trị dự phịng sớm Vấn đề trẻ sơ sinh bị lây nhiễm từ mẹ trở thành một gánh nặng về tâm lý, kinh tế cho cả gia đình cũng như xã hội Tìm giải pháp cho vấn đề này, năm 2002 Bệnh viện Từ Dũ đã tham gia chương trình “Dự phịng lây truyền HIV từ mẹ sang con”, gĩp phần khơng nhỏ trong việc giảm tỉ lệ trẻ sinh
ra bị nhiễm HIV từ mẹ
Ngồi ra, cơng tác dự phịng cĩ nhiều giai đoạn can thiệp khác nhau Để cĩ hướng can
thiệp cụ thể cần phải tìm hiểu các thai phụ bị nhiễm HIV cĩ thể từ chồng hoặc bạn tình
hay chính từ các hành vi nguy cơ của họ?Tỉ lệ nhiễm HIV của chồng và bạn tình của các thai phụ là bao nhiêu? Chồng của những thai phụ này nhiễm HIV từ đâu? Làm sao để cĩ thể phát hiện ai lây cho ai? Làm sao để khống chế sự lây nhiễm chéo trong cặp vợ chồng/bạn tình? tư đĩ tìm ra các giải pháp tư vấn, xét nghiệm tự nguyện, phát hiện sớm,
điều trị sớm cho thai phụ nhiễm HIV nhằm làm giảm sự lây nhiễm chéo giữa cc cặp vợ chồng, giảm sự lây lan rộng ra cộng đồng và gĩp phần giảm lây nhiễm cho trẻ cĩ cha mẹ
bị nhiễm HIV Chính vì lý do này, chng tơi thực hiện nghin cứu: “Tỉ lệ nhiễm HIV của chồng thai phụ cĩ HIV dương tính tại bệnh viện Từ Dũ từ 2008 đến 2009”
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỉ lệ nhiễm HIV của chồng thai phụ cĩ HIV dương tính tại bệnh viện Từ Dũ từ 05/2008 đến 05/2009
Trang 36PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
Dân số nghiên cứu là cặp vợ chồng/ bạn tình (vợ là thai phụ có xét nghiệm HIV dương tính đến khám thai và sinh tại BV Từ Dũ 5/2008 – 5/2009)
Cỡ mẫu nghiên cứu
Đây là nghiên cứu cắt ngang nên chúng tôi chọn công thức ước tính cỡ mẫu theo ước lượng một tỉ lệ trong nghiên cứu với độ chính xác tuyệt đối:
Với =0.05 Z1-/2 = 1,96
d=0,05 (Độ chính xác tuyệt đối)
P=0,90 theo số liệu tham khảo của tc giả Hồ Thị Ngọc(2005)
Như vậy cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 139 người chồng có vợ là thai phụ bị nhiễm HIV
QUY TRÌNH THỰC HIỆN
Các bước thực hiện nghiên cứu được tóm tắt theo sơ đồ sau:
Trang 37
Hình 1.8 Sơ đồ thực hiện nghiên cứu
Trang 38KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm nhân khẩu học của đối tƣợng nghiên cứu
chung
Nhận xét
- Tuổi trung bình của chồng là 29,5 ±4,8 (nhỏ nhất 20, lớn nhất 51); của vợ là 26,5
±4,1 (nhỏ nhất 19, lớn nhất 46) đều nằm trong độ tuổi sinh sản
- Tỉ lệ phụ nữ có thai nhiễm HIV phân bố cao nhất trong nhóm tuổi 20-29 (79,9%) Trong khi đó, tỉ lệ đối tƣợng chồng phân bố trong nhóm tuổi này thấp hơn (56,8%)
Trang 39- Gần 70% các đối tượng: thai phụ nhiễm HIV hoặc chồng có trình độ học vấn từ cấp II trở xuống Trình độ học vấn cao đẳng, đại học và sau đại học đạt chưa đến 8% ở cả
2 giới
- Có chưa đến 2/3 cặp vợ chồng sống chung có hôn thú Tỉ lệ sống chung không có hôn thú khá cao chiếm đến 1/3 Mức độ trả lời phù hợp khi phỏng vấn riêng thai phụ hoặc chồng trong câu hỏi này là 198/199= 99,5%
- Số năm sống chung trung bình là 3,0 ± 1,9 năm Ngắn nhất vài tháng cho đến lâu nhất là 14 năm Mức độ trả lời phù hợp khi phỏng vấn riêng thai phụ hoặc chồng trong câu hỏi này là 199/199= 100%
- Nghề nghiệp chủ yếu của thai phụ bi nhiễm HIV là nội trợ (48,3%), công nhân (21,6%), buôn bán (16,1%) Công chức chiếm tỉ lệ rất nhỏ (1,0%)
- Nghề nghiệp chồng thai phụ chủ yếu là lao động tự do (21,1%), công nhân (13,6%), tài xế (10,1%), thợ hồ (12,0%), buôn bán (11,1%) Công chức chiếm tỉ lệ nhỏ (2,5%)
- Có 2,5% chồng thất nghiệp nhưng ở nhóm thai phụ không có trường hợp nào
Tỉ lệ mhiễm HIV của chồng thai phụ có HIV dương tính
Kết quả xét nghiệm HIV
- Tỉ lệ chồng biết đường lây truyền HIV mẹ con (62,7%) thấp hơn thai phụ biết (83,0%) có ý nghĩa thống kê với p = 0,001 < 0,05
- Tỉ lệ thai phụ nhiễm HIV trả lời đúng cả 2 đường lây nhiễm HIV là 99,5%, cả 3 đường 83,3% Tỉ lệ chồng thai phụ nhiễm HIV trả lời đúng cả 2 đường lây nhiễm HIV là 93,3%, cả 3 đường 61,1%
Trang 40Bảng 3.6 Kiến thức về HIV/AIDS của đối tƣợng nghiên cứu (tt)
Yếu tố khảo sát
Chồng tần số % Chỉ có 1 vợ/bạn tình không nhiễm HIV thì phòng tránh đƣợc HIV/AIDS