1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

30 462 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨUTên đề tài nghiên cứu Phát hiện người lành mang gen đột biến CYP 21 gây bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu enzyme 21 – hydroxylase để tư vấn di truyền và ald

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIấN CỨU SINH KHểA 30, NĂM

2011 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÁC SĨ: NGễ THỊ THU HƯƠNG

BỘ MÔN NHI – TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH NỘI TIẾT – CHUYỂN HÓA

HÀ NỘI THÁNG 7 2011

Trang 2

Arg: arginine Met: methionin Phe: phenylalanineAsn: asparagine Ile: isoleucine Trp: tryptophanGln: glutamine Pro: prolin Val: valine

Lys: lysine Stop: mã kết thúc

ARN acid ribonucleic

CYP cytochrome P450

CYP21 cytochrome P450 21( steroid 21- hydroxylase)

CYP21 gen steroid 21 - hydroxylase

DNA acid deoxyribonucleic

I2g đột biến điểm ở intron 2 ( 656A/C →G)

HLA human leukocyte antigen

KCĐ không cổ điển

NST Nhiễm sắc thể

NHĐT Nam hóa đơn thuần

PCR Polymerase Chain Reaction

TSTTBS tăng sản thượng thận bẩm sinh

Trang 3

4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 14

10 Tài liệu tham khảo

Trang 4

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Tên đề tài nghiên cứu

Phát hiện người lành mang gen đột biến CYP 21 gây bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu enzyme 21 – hydroxylase để tư vấn di truyền

và aldosteron, tăng tổng hợp testosteron dẫn đến hình ảnh lâm sàng suythượng thận, nam hóa ở trẻ gái và dậy thì sớm giả ở trẻ trai Thể thiếuenzyme 21-OH chiếm 90% - 95% các thể bệnh của bệnh TSTTBS.[as]Tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới là 1/14.000 - 1/15.000, trong đó thể thiếuenzym 21-OH chiếm tỷ lệ 1/10.000 trẻ sinh ra [7] Ở Việt Nam, chưa có

đề tài nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ người lành mang gen bệnhbên cạnh đó tại khoa Nội tiết – Chuyển hóa – Di truyền Bệnh viện Nhitrung ương, số lượng bệnh nhân hàng năm mới được chẩn đoán tăng lên,trung bình cứ mỗi năm 40 – 70 trẻ mới mắc và được điều trị tại khoa vàtính tới hết tháng 6 năm 2010 số bệnh nhân lên đến 512 trẻ [24]

Bệnh không được chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp sẽ dẫn đến cơn suythượng thận cấp đe dọa tử vong cho trẻ, nếu không được điều trị haydùng liều thuốc chưa thích hợp sẽ dẫn đến dậy thì sớm giả ở trẻ trai, namhóa ở trẻ gái Bệnh có thể điều trị được bằng liệu pháp hormone thay thếsuốt đời Liệu pháp gen cũng đã được nghiên cứu Bệnh có thể dự phòng

Trang 5

bằng phương pháp tư vấn di truyền như sàng lọc phát hiện người lànhmang gen bệnh để tư vấn di truyền Trên thế giới tỷ lệ người lành manggen ước tính khoảng 1/60 tùy theo từng chủng tộc [19] Từ những năm

1970 -1980 nhờ sự phát triển kỹ thuật khuếch đại gen (PCR) người ta đãxác định được nguyên nhân gây bệnh TSTTBS thiếu enzyme 21-OHP là

do đột biến gen CYP21[6] do vậy, trong trường hợp cả hai bố mẹ đều cómang gen đột biến bệnh thì khả năng sinh con bị bệnh là 25% việc chẩnđoán trước sinh cho các bà mẹ mang gen đột biến trong gia đình khimang thai là thực sự cần thiết để chẩn đoán sớm trước sinh cho con, đặcbiệt khi thai bị bệnh là giới nữ, các bác sĩ có thể điều trị sớm để sau nàytrẻ phát triển bình thường, không bị nam hóa từ trong bào thai, tránh chotrẻ không phải chịu cuộc phẫu thuật chỉnh hình sau sinh Ngoài ra, khibiết bà mẹ mang thai trẻ bị bệnh là giới nam các bác sĩ cần lập kế hoạchchăm sóc điều trị ngay sau sinh để phòng tránh cơn suy thượng thận cấpđem lại sự phát triển bình thường về sau cho trẻ [2] Do vậy chẩn đoántrước sinh có vai trò rất quan trọng Để góp phần điều trị sớm bệnh và tưvấn di truyền cho các gia đình mang gen bệnh chúng tôi tiến hành nghiêncứu đề tài này với hai mục tiêu sau|:

Phát hiện người lành mang gen bệnh cho các thành viên gia đình bệnh nhân bị bệnh TSTTBS thể thiếu enzyme 21 – hydroxylase.

Chẩn đoán trước sinh cho một số phụ nữ mang gen đột biến CYP21 khi họ mang thai và tư vấn di truyền cho gia đình bị bệnh TSTTBS.

2 TỔNG QUAN

2.1 Giới thiệu về bệnh TSTTBS thể thiếu enzym – 21 hydroxylase

2.1.1 Khái niệm về bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh

Tăng sản thượng thận bẩm sinh là một bệnh di truyền gen lặn nằmtrên NST thường, gây ra do giảm hoặc mất hoàn toàn một trong năm enzyme

Trang 6

tham gia vào quá trình tổng hợp corticosteroid, dẫn đến rối loạn quá trìnhtổng hợp hormon vỏ thượng thận Trong đó, thể thiếu enzym 21-OH là thểbệnh hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 90 - 95%, thứ hai là thể 11β- hydroxylase 5 -9%, còn thiếu hụt các enzyme khỏc gõy cỏc thể bệnh: 3β - HSD, 17α-hydroxylase và 20, 22- desmolase ít gặp hơn

Tùy theo loại đột biến dẫn đến mức độ thiếu enzyme 21- hydroxylase

là một phần hay hoàn toàn mà gây ra các thể lâm sàng: MM, NHĐT, không

cổ điển hay thể khởi phát muộn [1][9]

2.1.2 Lịch sử nghiên cứu bệnh

Quy luật di truyền của bệnh TSTTBS đã được nhận biết từ những năm

1930 ( Broster 1934, Jacobziner 1936) và được mô tả chi tiết vào năm 1951,bệnh di truyền đơn gen lặn, nằm trên nhiễm sắc thể thường

Năm 1984, Hite và cs xác định được gen CYP21 và giả gen CYP21P

có kích thước 3,4kb; nằm trờn nhỏnh ngắn nhiễm sắc thể số 6 [17]

Năm 1986, Higashi và cs [22]đã phân tích trình tự nucleotide toàn bộgen CYP 21 và giả gen CYP21 Sau đó các đột biến đặc hiệu của gen CYP

đã được tìm thấy, đây là nguyên nhân chính gây thiếu hụt enzyme 21-OH

2.1.3 Vị trí, cấu trúc, chức năng gen CYP21

Vị trí gen CYP21 nằm trên NST số 6

Hình 1.1: Nhiễm sắc thể số 6 và vị trí gen CYP21[26]

Trang 7

Gen CYP21 gồm có 2 bản sao CYP21A2 và giả gen CYP21A1P, cả haicùng nằm bên trong phức hợp hòa hợp mô chủ yếu MHC trờn cỏnh ngắn củaNST số 6 vùng 6p21.3 Trong vùng này, gen CYP21A2 và CYP21A1P nằmxen kẽ với hai gen mã hóa cho bổ thể C4A và C4B mã hóa cho thành phầncủa C4 bổ thể [18], [27]

Hình 1.2 Cấu trúc phân tủ của gen CYP21[9]

Mỗi gen CYP21 gồm 10exon , chiều dài 3,1kb, trình tự nucleotide của haigen này tương đồng 98% trong các exon và khoảng 96% trong các intron dovậy trong quá trình phân bào giảm nhiễm có thể do sự đột biến mất đoạngiữa hai allen hoặc nhân đoạn một cách hoàn toàn dẫn đến thay đổi cấu trúccủa gen CYP21A2 bị thay thế một đoạn của giả gen CYP21A1P hoặc gâymất đoạn của gen CYP21A1P[11]

Hình 1.3 Vị trí của gen CYP21 trong phức hợp hòa hợp mô chủ yếu MHC Mũi tên chỉ hướng phiờn mó C4A và C4B= các gen mã hóa thành phần C4 bổ thể RP1= gen mã hóa protein nhân tế bào chưa rõ chức năng.RP2= bản sao thu ngắn của gen RP1 TNXB= gen tenascin –X; TNXA= bản sao thu ngắn của TNXB ( Aston C E Serman

S L 1988)

Trang 8

Trên thế giới đã tìm thấy gần 100 đột biến khác nhau gây bệnhTSTTBS do thiếu hụt enzyme 21- OH hay gặp là đột biến điểm, mất đoạn,thêm đoạn hoặc thay đổi cấu trúc gen Trong đó hay gặp nhất là đột biến trêngen CYP21A2, với gen CYP21A1P hay gặp mất đoạn 8bp ở exon 3, dịchkhung exon 7 và đột biến vô nghĩa ở exon 8 [19]

Chức năng gen CYP21

Gen CYP 21 mã hóa cho enzyme 21-OH gồm 494 acid amin, có vai tròphiờn mã tổng hợp ARNm tiền thân Phân tử này trải qua quá trình cắt cácintron nối chính xác các exon với nhau và tạo ra phân tử ARNm hoàn chỉnh.Phân tử này sẽ được sử dụng làm khuôn dịch mã tổng hợp enzyme 21-OH

Hình 1.4 Quá trình tổng hợp enzym 21-OH từ gen CYP21

(Gelehrter T.D, Collins F.S 1990)

2.1.4 Một số đột biến gen CYP21

Hầu hết các đột biến gen gây thiếu enzyme 21-OH là hậu quả của một tronghai kiểu tái tổ hợp giữa 2 gen CYP21A2 và CYP21P

Trang 9

Bảng 1 Các đột biến gen CYP21 thường gặp gây TSTTBS cổ điển [7], [20]

Đột biến Vị trí nucleotide Exon/Intron Tỷ lệ % Kiểu hình

2.1.5 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh

Sơ đồ 1.1: Chi tiết sinh tổng hợp hormon vỏ thượng thận

TSTTBS thể thiếu hụt enzym21-OH chiếm 90-95% các thể bệnh, do thiếuhụt enzym 21-OH nờn gõy thiếu hụt hormon Cortisol và Aldosteron đồngthời gây tăng một tiền chất 17-OHP và androgen điển hình là testosteron Dovậy, ngay từ trong thời kỳ bào thai androgen đã tăng cao ớt gõy biến đổi ởthai nhi nam, nhưng gây nam hóa của thai nhi nữ gây nên tình trạng mơ hồgiới tính sau sinh Biểu hiện lâm sàng của cả trẻ trai và trẻ gái sau sinh bịmắc bệnh TSTTBS thể thiếu enzym 21-OH: âm vật phì đại ở trẻ gái, pháttriển sớm kích thước dương vật ở trẻ trai, có rối loạn điện giải ở thể mất

Trang 10

muối Nếu không được điều trị sớm sẽ gây dậy thì sớm giả ở trẻ trai nhưmọc lông mu, tăng phát triển dương vật, lớn nhanh, rậm lông, mọc trứng cá,đặc biệt là cốt húa cỏc đầu xương dài sớm gõy lựn sau này Đối với trẻ gáinếu không điều trị biểu hiện xạm da, ngoại hình nam, rậm lông, bộ phận sinhdục phì đại, rối loạn kinh nguyệt và vô sinh ở nữ [1]

2.2 Đặc điểm di truyền của bệnh Phát hiện người lành mang gen bệnh 2.2.1 Đặc điểm di truyền của bệnh

TSTTBS thể thiếu enzym 21- OH là một bệnh di truyền đơn gen lặn,nằm trên NST thường số 6 và tuân theo quy luật của Mendel Bệnh chỉ xảy

ra ở người mang đồng hợp tử gen lặn

Sơ đồ 1.2 Phả hệ của một gia đình có con bị bệnh di truyền lặn trên NST thường (Autosome Recessive) Thế hệ I, II, không có người bị bệnh, thế hệ III có người bị bệnh.

Bệnh xảy ra không liên tục, ngắt quãng qua các thế hệ Thường gặpbệnh xuất hiện trong cùng một thế hệ Tỷ lệ nam và nữ bị bệnh là như nhau

+ Nếu cha mẹ là hai dị hợp tử (Aa x Aa) khả năng con bị bệnh (aa) là25%, con dị hợp tử (Aa) mang gen lặn là 50%, con bình thường hoàn toàn(AA) là 25% Trong quần thể trường hợp này hay gặp nhất

+ Nếu cha (hoặc mẹ) là người bình thường (AA) kết hôn với ngườimang gen dị hợp tử (Aa) thì khả năng sinh ra con bình thường (AA) là 50%,con bị dị hợp tử (Aa) là 50%

AA

A A

Trang 11

+ Nếu cha( hoặc mẹ ) là người bình thường kết hôn với người bị bệnh(aa) thì khả năng sinh con mang gen dị hợp tử (Aa)là 100%

Nguy hiểm của bệnh di truyền lặn nhiễm sắc thể thường là có người lànhmang gen bệnh, bề ngoài là người hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh nhưngkhi xây dựng gia đình sinh con thì truyền bệnh cho con theo tỷ lệ phân lygen bệnh của qui luật Mendel

Tần xuất người mang gen bệnh TSTTBS thiếu enzyme 21 – OHP là1/60 tùy thuộc vào chủng tộc Tần số đột biến tự nhiên mới phát sinh cần có

cả hai đột biến về cùng một gen ở cả hai bên bố mẹ nờn xỏc xuất xảy ra vôcùng nhỏ Sự kết hôn trong dòng họ hoặc trong quần thể cô lập làm tăng khảnăng sinh con bị bệnh và tăng tần số người mang gen bệnh lặn trong quầnthể[2]

2.2.2 Biểu hiện lâm sàng của người mang gen dị hợp tử

Mặc dù người ta cho rằng những cá thể mang gen dị hợp tử có thể có cáctriệu chứng của thừa androgen hơn những người không mang gen, nhưngcác nghiên cứu bệnh chứng không ủng hộ quan điểm này

Về mặt xét nghiệm, người mang gen dị hợp tử các đột biến gen CYP21 cótăng nhẹ nồng độ 17-OHP, cortisol sau khi kích thích thượng thận hơnnhững người bình thường không mang gen [7]

Chẩn đoán bệnh dựa vào lâm sàng và xét nghiệm định lượng nồng độ OHP, testosteron, xét nghiệm tìm đột biến gen CYP21 Trong đó, nồng độ17-OHP có giá trị cao trong chẩn đoán bệnh, đây là tiền chất trước chỗ tắc

17-do thiếu hụt enzym 21-OH nên giá trị 17-OHP tăng sớm và tăng cao ở trênbệnh nhân và người mang gen, người ta còn ứng dụng giá trị này để làmsàng lọc chẩn đoán bệnh ở các nước phát triển[a]

*Phát hiện người lành mang gen bệnh

Trang 12

Người mang gen bệnh (dị hợp tử) rất khó phát hiện ở bệnh di truyền lặn vìkhông biểu hiện tính trạng ra ngoài Người mang gen bệnh thường có dấuhiệu về lâm sàng hoặc sinh học nhẹ hoặc hoàn toàn không có dấu hiệu gì.Tuy vậy có thể phát hiện dị hợp tử bằng phương pháp sinh hóa Người tađịnh lượng 17-OHP cho những người là thành viên của gia đình người bệnh,với 17-OHP <300ng/ml thì là bình thường và 17-OHP >300 - 1499ng/ml thì

là dị hợp tử sau nghiệm pháp kích thích bằng corticotropin (Lee HH el al2000) Do thiếu hụt enzym 21-OH có liên quan đến typ HLA, nên có thểxác định đột biến gen CYP21 hoặc phát hiện người lành mang gen bằngcách phân loại typ huyết thanh HLA dựa trên các dấu ấn của bệnh nhân và

tế bào ối thai nhi hoặc đối tượng có nguy cơ cao Nếu kết quả typ HLAgiống nhau, và có thể chẩn đoán thai nhi thiếu 21-OH hoặc người lành manggen với độ tin cậy cao[3,10,23]

Phòng bệnh TSTTBS bằng sàng lọc người mang gen được tiến hành ở giađình, dòng họ của trẻ bị bệnh hoặc trong quần thể tỷ lệ mắc bệnh cao đểquản lý người mang gen và người bệnh Qua sàng lọc này để có thể đưa ralời khuyên di truyền phù hợp nhằm tránh khả năng kết hôn cùng dòng họcũng như tránh kết hôn giữa những người mang gen bệnh (Aa x Aa) hoặcgiữa người mang gen bệnh với người bị bệnh (Aa x aa) Nếu kết hôn phảiquản lý thai nghén về phương diện di truyền [18]

2.3 Chẩn đoán trước sinh

2.3.1 Khái niệm về chẩn đoán trước sinh(Prenatal diagnosis)

Chẩn đoán trước sinh là sử dụng các phương pháp xét nghiệm siêu âm, sinhhóa, di truyền tế bào, di truyền phân tử để xác định xem thai có bị bệnh ditruyền hay các dị tật bẩm sinh hay không khi thai còn trong tử cung trướckhi đứa trẻ sinh ra[5]

Trang 13

Đối với bệnh TSTTBS người ta sử dụng các phương pháp siêu âmthai, di truyền phân tử để phát hiện xem thai có mang gen đột biến CYP21không từ lúc thai tuần thứ 5 đến 14 tuần Nếu thai là giới nữ thì cần điều trịsớm từ tuần thứ 7 – 8 của thai kỳ bằng cách sử dụng dexamethason cho mẹ.Nếu thai là con trai thì ngưng điều trị nhưng phải lập kế hoạch chăm sóc sausinh phòng cơn suy thượng thận cấp ở thể mất muối [15, 19]

Mục đích của chẩn đoán trước sinh với bệnh TSTTBS không phảiphát hiện bệnh để đình sản thai nghén mà mục đích phát hiện sớm để điều trị

vì đây là bệnh di truyền điều trị được bằng phương pháp thay thế hormonesuốt đời

2.3.2 Các phương pháp sử dụng để chẩn đoán trước sinh với bệnh TSTTBS

*Các đối tượng cần chẩn đoán trước sinh với bệnh TSTTBS

Các bà mẹ đã một lần sinh con bị bệnh TSTTBS thể thiếu 21-OH lầnnày có thai cần thiết chẩn đoán trước sinh

Các bà mẹ mang thai mà trong gia đình nội, ngoại cú cụ, chỳ, bỏcruột, cậu ruột, dì ruột, bị bệnh thì cũng cần thiết chẩn đoán trước sinh

Các anh, chị em họ bị bệnh cùng thế hệ với thai nhi

*Các phương pháp sử dụng chẩn đoán trước sinh đối với bệnh TSTTBS

- Phương pháp siêu âm: siêu âm thai được sử dụng trong chẩn đoán trướcsinh từ năm 1972 là phương pháp chẩn đoán thai không xâm phạm, an toàncho thai Do vậy, siêu âm thai là phương pháp can thiệp không thể thiếutrong sàng lọc phát hiện bệnh dị tật của thai nhi Trong bệnh TSTTBS siêu

âm giúp cho định khu thai và gai rau [5]

- Chẩn đoán tế bào gai rau: năm 1960 phương pháp sinh thiết gai rau đãđược sử dụng nhưng đến năm 1983 nhờ có siêu âm chỉ dẫn nên phương phápnày mới được sử dụng rộng rãi giúp cho chẩn đoán thai sớm 3 tháng đầu khi

Trang 14

mà phương pháp chẩn đoán bằng tế bào ối được tiến hành muộn hơn là 3tháng giữa Kỹ thuật sinh thiết gai rau tiến hành qua đường bụng hoặc đường

âm đạo dưới sự hướng dẫn của siêu âm Thường tiến hành thủ thuật vào thaituần thứ 8 đến tuần thứ 11[3]

- Phương pháp di truyền phân tử để phát hiện gen đột biến bằng phươngpháp PCR Từ những năm 1970 -1980 nhờ kỹ thuật khuyếch đại gen (PCR)

mà người ta đã xác định được một số gen đột biến gây dị tật ở thai nhi[6]

- Phương pháp lấy tế bào và AND của thai từ máu mẹ: mặc dù tỷ lệ ANDcon trong máu mẹ thấp, có thể chiết tách AND có nguồn gốc từ thai trongmáu mẹ cho các xét nghiệm phân tử trong chẩn đoán trước sinh Phươngpháp này rất tốt để chẩn đoán trước sinh TSTTBS vì rất cần kết quả sớm từkhi thai 5 – 6 tuần để điều trị cho bé gái so với sinh thiết gai rau và chọc ối,nhưng phương pháp này vẫn còn nhiều hạn chế [5]

Do vậy, để chẩn đoán bệnh trước sinh cho bệnh TSTTBS, có thể sửdụng một số phương pháp giúp chẩn đoán như định lượng nồng độ 17-OHPtrong nước ối, xác định týp HLA của tế bào gai rau và tế bào nước ối, phântích di truyền phân tử của các tế bào gai rau và tế bào nước ối để tìm độtbiến gen CYP21

Năm 1975, người ta đã phát hiện nồng độ 17-OHP nước ối tăng cao ởphụ nữ có con mắc bệnh TSTTBS thể mất muối Khi týp HLA được pháthiện liên quan đến bệnh TSTTBS, phân tích di truyền phân tử bằng cách sửdụng DNA chiết tách từ tế bào gai rau hay tế bào ối đối với gen CYP21, C4

và HLA lớp I, II [11, 13.]

Chẩn đoán trước sinh nhằm mục đích xác định thai bệnh để điều trịtrước sinh Nếu thai nhi là nam bị bệnh thì không phải điều trị trước sinh.Nếu thai nhi là nữ bị bệnh thì cần điều trị trước sinh bắt đầu từ tuần thứ 7 – 8của thai kỳ cho đến lúc sinh bằng cách sử dụng dexamethason cho mẹ với

Trang 15

liều chuẩn là 20μg/kg/ngày, tối đa 1,5mg/ngày chia làm 3 lần để ức chế sảng/kg/ngày, tối đa 1,5mg/ngày chia làm 3 lần để ức chế sảnxuất androgen thượng thận của bào thai và làm giảm hiện tượng nam húagõy phì đại âm vật, tránh cho trẻ phải chịu đựng một cuộc phẫu thuật chỉnhhình bộ phận sinh dục sau này Ngưng điều trị nếu kết quả xét nghiệm gencho biết thai nhi không bị bệnh.

Đồng thời, cần lập kế hoạch điều trị ngay sau sinh để phòng cơn suythượng thận cấp và đem lại sự phát triển bình thường về sau cho trẻ [9], [10]

2.4 Chẩn đoán sau sinh

* Sàng lọc sơ sinh

Mục đích chính của sàng lọc sơ sinh là phát hiện sớm những trẻ bịbệnh để giúp chẩn đoán sớm, ngăn chặn trẻ có nguy cơ xuất hiện cơn suythượng thận cấp đe dọa tính mạng và ngăn ngừa nhận định sai lầm giới tínhnam ở trẻ nữ bị lưỡng giới cơ quan sinh dục ngoài Ngoài ra, sàng lọc sơsinh còn giúp ngăn ngừa nồng độ androgen tăng cao, kèm theo các biểu hiệnlâm sàng, giúp cho sự phát triển và dậy thì bình thường, cải thiện chiều caocuối cùng Vì vậy sàng lọc sơ sinh TSTTBS rất có ích và được khuyến cáocho tất cả trẻ mới ra đời [10,13]

Chẩn đoán nghi ngờ bệnh TSTTBS khi nồng độ 17-OHP trong máubằng giấy thấm máu ở gót chân vào ngày thứ 2 - 3 sau sinh tăng cao Ở trẻ

đẻ non, trẻ mắc bệnh lý hay stress giá trị 17-OHP có xu hướng tăng cao hơnnhững trẻ đủ tháng và thường gặp dương tính giả Ngưỡng cắt của nồng độ 17-OHP được khuyến cáo tùy theo cân nặng, đối với trẻ < 1300 gram là từ

165 ng/ml và đối với trẻ > 2200gram là từ 40ng/ml tại Wisconsin (Miền tâyHoa Kỳ) Tại Thụy Điển, ngưỡng cắt 17-OHP là 400nmol/l đối với trẻ đẻnon trước 35 tuần và 150 nmol/l đối với trẻ 35-36 tuần Kết quả sàng lọcdương tính cần được khẳng định bằng định lượng lần 2 nồng độ 17-OHPmáu, các steroid nước tiểu hay phân tích gen CYP21 [14]

Ngày đăng: 16/02/2016, 00:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Thị Kim Huệ (2000). Góp phần nghiên cứu chẩn đoán và điều trị bệnh TSTTBS thiếu enzyme 21- hydroxylase ở trẻ em. Luận án tiến sĩ khoa học Y học. Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu chẩn đoán và điều trị bệnh TSTTBS thiếu enzyme 21- hydroxylase ở trẻ em
Tác giả: Võ Thị Kim Huệ
Năm: 2000
2. Trần Kiêm Hảo (2007). Xác định một số đột biến CYP21 gây bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thiếu enzym 21- hydroxylase và phát hiện người lành mang gen bệnh. Luận án tiến sỹ y học. Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định một số đột biến CYP21 gây bệnh tăng sản thượng thận bẩm sinh thiếu enzym 21- hydroxylase và phát hiện người lành mang gen bệnh
Tác giả: Trần Kiêm Hảo
Năm: 2007
3. Nguyễn Thị Phương Mai, Lý Thanh Hà, Nguyễn Mai Hương, Ngô Diễm Ngọc, Nguyễn Thị Hoàn, Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Tân Sinh. 2008. Xét nghiệm di truyền trong chẩn đoán trước sinh bệnh TSTTBS. Tạp chí NCYH. 57(4):259-264 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét nghiệm di truyền trong chẩn đoán trước sinh bệnh TSTTBS
4. Thỏi Thiên Nam, Nguyễn Thị Phượng, Võ Thương Lan. Phát hiện đột biến gen CYP21 trong tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu enzyme 21-hydroxylase ở trẻ em và gia đình trẻ bị bệnh tại viện Nhi.Nhi khoa. 2002; tập 10, số đặc biệt chào mừng 100 năm trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện đột biến gen CYP21 trong tăng sản thượng thận bẩm sinh do thiếu enzyme 21-hydroxylase ở trẻ em và gia đình trẻ bị bệnh tại viện Nhi
5. Nguyễn Thanh Thúy ( 2010) Sử dụng kỹ thuật PCR lồng phát hiện AND thai từ huyết thanh mẹ và ứng dụng trong chẩn đoán trước sinh.Tạp chí thông tin Y – Dược. Số đặc biệt chào mừng ngày gặp mặt liên viện hàng năm về giảng dạy và nghiên cứu miễn dịch học lần thứ 20.tr 41-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng kỹ thuật PCR lồng phát hiện AND thai từ huyết thanh mẹ và ứng dụng trong chẩn đoán trước sinh
6. Tạ Thành Văn 2010. PCR và một số kỹ thuật y sinh học phân tử. Nhà xuất bản Y học . tr 28 – 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PCR và một số kỹ thuật y sinh học phân tử
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học . tr 28 – 32
6. Aysha H. Khan, Muniba Aban, Jamal Raza et al (2011). Ethnic disparity in 21 – hydroxylase gene mutations identified in Pakistani congenital adrenal hyperplasia patients. BMC Endocrine Disorders.Biomed central.pp1- 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ethnic disparity in 21 – hydroxylase gene mutations identified in Pakistani congenital adrenal hyperplasia patients
Tác giả: Aysha H. Khan, Muniba Aban, Jamal Raza et al
Năm: 2011
7. Book C. G. D (2000).Antenatal Treatment of a Mother Bearing a Fetus with Congenital Adrenal Hyperplasia. Archive Disease Children Fetal Neonatal Ed, 82, pp. F176 – F181 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antenatal Treatment of a Mother Bearing a Fetus with Congenital Adrenal Hyperplasia
Tác giả: Book C. G. D
Năm: 2000
8. Fernanda B Coeli., Fernanda C Soardi., et al (1010). Novel deletion alleles carrying CYP21A1P/A2 chimeric genes in Brazilian patients with 21-hydroxylase deficiency. BMC medical Genetics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Novel deletion alleles carrying CYP21A1P/A2 chimeric genes in Brazilian patients with 21-hydroxylase deficiency
9. Husref Tahirovic, Alma Toromanovic et all (2009). Untreated congenital adrenal hyperplasiase due to 21 – hydroxylase. Eur J Pediatrics, 168, pp. 847 – 849 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Untreated congenital adrenal hyperplasiase due to 21 – hydroxylase
Tác giả: Husref Tahirovic, Alma Toromanovic et all
Năm: 2009
10.Hughes I. A. (2002). Congenital Adrenal Hyperplasia: 21- Hydroxylase Deficiency in the Newborn and During Infancy.Seminars in Reproductive Medicine, 20 (3), pp. 229-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Congenital Adrenal Hyperplasia: 21- Hydroxylase Deficiency in the Newborn and During Infancy
Tác giả: Hughes I. A
Năm: 2002
12.Juan Tian., Guohua Yang et al. (2011) Molecular diagnosis of two families with classic congenital adrenal hyperplasia. Gene No 368 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular diagnosis of two families with classic congenital adrenal hyperplasia
13.Keegan C. E., Killeen A. A (2001). An Overview of Molecular Diagnosis of Steroid 21 – Hydroxylase Deficiency. Journal of Molecular Diagnostics, 3(2), pp. 49-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Overview of Molecular Diagnosis of Steroid 21 – Hydroxylase Deficiency
Tác giả: Keegan C. E., Killeen A. A
Năm: 2001
14.Larsen et all (2003). Congenital Adrenal Hyperplasia. Williams textbook of Endocrinology10th ed.pp 458-513 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Congenital Adrenal Hyperplasia
Tác giả: Larsen et all
Năm: 2003
15.Levine L. S (2000). Congenital Adrenal Hyperplasia. Pediatrics in Review, 21 (5), pp 159 – 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Congenital Adrenal Hyperplasia
Tác giả: Levine L. S
Năm: 2000
16.Marie I. New (1998). Diagnosis and management of congenital adrenal hyperplasiase. Annul. Rev. Med. 49, pp 311 – 328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnosis and management of congenital adrenal hyperplasiase
Tác giả: Marie I. New
Năm: 1998
17.New M. I, Carlson A, Obeid J, Marshall I, Cabrera M. S, Goseco A, et al (2001). Prenatal Diagnosis for Congenital Adrenal Hyperplasia in 532 Pregnancies. The journal of clinical Endocrinology &amp; Metabolism, 86 (12), pp 5651 – 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prenatal Diagnosis for Congenital Adrenal Hyperplasia in 532 Pregnancies
Tác giả: New M. I, Carlson A, Obeid J, Marshall I, Cabrera M. S, Goseco A, et al
Năm: 2001
18.Nike M. M. L Stikkelbroeck et al (2003). CYP21 Gene Mutation Analysis in 198 Patients with 21 – hydroxylase Deficiency in the Netherlands: Six Novel Mutations and a Specific Cluster of Four Mutations. Jounal. Clin Endocrinol Metab. 88. 3852-3859 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CYP21 Gene Mutation Analysis in 198 Patients with 21 – hydroxylase Deficiency in the Netherlands: Six Novel Mutations and a Specific Cluster of Four Mutations
Tác giả: Nike M. M. L Stikkelbroeck et al
Năm: 2003
19.Paola Concolino et al (2009). Multiplex ligation – dependent probe amplification (MLPA) assay for the detection of CYP21A2 gene deletions/ duplications in Congenital Adrenal Hyperplasia: First technical report. Clinical Chimica Acta 402. Elsevier B.V. pp164- 170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Multiplex ligation – dependent probe amplification (MLPA) assay for the detection of CYP21A2 gene deletions/ duplications in Congenital Adrenal Hyperplasia: First technical report
Tác giả: Paola Concolino et al
Năm: 2009
20.Speiser P. W (2005). The Genetics of Steroid 21 – Hydroxylase Deficiency. The Endocrinologist, 15 (1), pp 37-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Genetics of Steroid 21 – Hydroxylase Deficiency
Tác giả: Speiser P. W
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Nhiễm sắc thể số 6 và vị trí gen CYP21 [26] - BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Hình 1.1 Nhiễm sắc thể số 6 và vị trí gen CYP21 [26] (Trang 6)
Hình 1.2 Cấu trúc phân tủ của gen CYP21 [9] - BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Hình 1.2 Cấu trúc phân tủ của gen CYP21 [9] (Trang 7)
Hình 1.4 Quá trình tổng hợp enzym 21-OH từ gen CYP21 - BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Hình 1.4 Quá trình tổng hợp enzym 21-OH từ gen CYP21 (Trang 8)
Bảng 1. Các đột biến gen CYP21 thường gặp gây TSTTBS cổ điển [7], [20] - BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Bảng 1. Các đột biến gen CYP21 thường gặp gây TSTTBS cổ điển [7], [20] (Trang 9)
Sơ đồ 1.2 Phả hệ của một gia đình có con bị bệnh di truyền lặn trên NST thường   (Autosome Recessive) - BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Sơ đồ 1.2 Phả hệ của một gia đình có con bị bệnh di truyền lặn trên NST thường (Autosome Recessive) (Trang 10)
Hình 1.7 Hình ảnh đột biến điểm sau phân tích trực tiếp bằng ADN của các thành   viên trong gia đình bệnh nhân TSTTBS ở Trung Quốc - BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Hình 1.7 Hình ảnh đột biến điểm sau phân tích trực tiếp bằng ADN của các thành viên trong gia đình bệnh nhân TSTTBS ở Trung Quốc (Trang 21)
Hình 1.8 : Kết quả phân tích gen CYP21 của bệnh nhân TSTTBS - BÀI LUẬN DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH KHÓA 30, NĂM 2011. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Hình 1.8 Kết quả phân tích gen CYP21 của bệnh nhân TSTTBS (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w