Cùng với sự du nhập của Nho giáo, một loại hình di lích mói In Vãn miếu nơi thò Khổng Tử, người có công sáng lộp ra học Ihuyết Nho giáo và những học trò xuất sắc của ông và Quốc Tử Giám,
Trang 2CH Ữ VIẾT TẮ T TR0NC7 LUẬN VĂN
Trang 31.2 Vãn Miếu- Quốc Tử Giám Thăng Long qua cấc Ihời kỳ lịch sử 111
1.5 Văn Miếu- Quốc Tử Giám thời Nguyễn và thời Phấp thuộc 36
Trang 41.6 Văn Miếu- Quốc Tử Giám ngày nay 4 2
1.2 Mấy nét về Văn Miếu - Quốc Tử Giám Huế và lễ tế Khổng Tử 47
dưới thời Nguyễn
1 2 Lễ tế Khổng Tử thời Nguyễn
CHƯƠNG 2: MỘT s ổ VÁN MÌÊƯ HẢNG TỈNH
Trang 52.4.2 Di tích và hiện trạng 88 2.2 Mây nhận xét vê một số nét chung cùa Văn miếu hàng lỉnh 89
Trang 6Phụ lục 3: Bai siV của nồng dim trại Văn Chương xin vua 32K
Quang Trung ílựng lại bia Tiến sì dề tlanh Irong nhíì Giám, Văn Miếu
Phụ lục 4: Danl.1 sách Viín niiếu các lính và văn lừ, văn chỉ dm í VỊ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa khoa học và thực tỉễn của đề tàỉ.
1.1 Nho giáo du nhập vào v iệ t Nam trong thòi Bắc thuộc và cổ ảnh hưởng nhiều mặt tới dời sống của người dân v iệ t Nam thời phong kiến, góp phàn xAy dựng nên nền văn hoấ v iệ t Nam.
1.2 Cùng với sự du nhập của Nho giáo, một loại hình di lích mói In Vãn miếu nơi thò Khổng Tử, người có công sáng lộp ra học Ihuyết Nho giáo và những học trò xuất sắc của ông và Quốc Tử Giám, nơi đào tạo nhan tài của (1ấl I1ƯỚC được ra đời.
1.3 Bên cạnh những giá trị văn hoá tinh thần, nền giáo dục Nho học để lại nhiều di sản văn hoá vật (hể: văn miếu (cấp tning uơrìg), văn từ, vãn chỉ (cấp (lịa phương) - nơi thờ các bậc tiên thánh, tiên hiền, danh nho nhằm tôn vinh, ngưỡng
vọng những người dỗ đạt Đây ]à nguồn sử liệu phản anh khá chân xấc và loàn
điện về giáo dục Nho học, cííng như truyền thống hiếu học và trọng nbAn tài củn dân tộc Việt Nam.
1.4 Dưới thời phong kiến, hầu như nơi nào cííng cổ văn miếu hàng tỉnh, vãn từ, vãn chỉ cấp làng xã gắn liền với sinh hoạt của Hội Tư vãn, đống vai Irò không nhỏ trong việc giáo dục truyền thống văn hiến của dân lộc Do Ihời ginn vò
do chiến tranh, đặc biệt là trong kháng chiến chống Phấp, rất nhiều vnn lừ, văn chỉ bị phá Số còn lại đang bị xuống cấp nghiêm trọng và rơi vào sự quên lang.
1.5 Công tác bảo tổn, bảo tàng hiện nay mới chiì ý đến các di tích như đình, chùa, miếu, phủ là những di tích liên quan đến Phật giấo, lín ngưỡng thành hoàng và sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng dân gian, mà dường như còn xem
Trang 8nhẹ và chưa đánh giá đúng mức giá trị của những di tích Nho giấo, chưa coi trọng
việc qimn lý, gìn giữ các di tích Nho học.
1.6 Việc nghiên cứu, tìm hiểu các di tích Nho học ò Việt Nnm hiện nay là ly là việc làm cẩn thiết, nhằm nflng cao nhận thức trong việc bảo lổn, lôn tạo (li tícli
Ịịch sử văn hoá và nền giấo dục Việt Nam thời xưa.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tuy đã có nhiểu sách, vở, tài liệu nghiên cứu về Nho giao đirợc xnííl
bản, nhưng các công trình đà công bố chủ yếu tạp trung vào việc nghiên cứu sự ГЛ
đời, hình (hành, phát triển và ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc và Việt Nnm
như các cuốn sách: Nho giáo (2 tập) của Trần Trọng Kim; NĨÌO giáo tại Việt Nan)
của Viện Triết học và Trung tâm KHXH & NVQG; Nho học và Nho học (Vviệỉ
Nam - Một sỏ vấn â ề ỉỷ luận và thực tiễn của Nguyễn Thi Thư; Nho giáo và phui
triển â v i ệ i Nam của Vũ Khiêu; Một sô' vấn đê về Nho giáo Việt Nam С11Я Hmn
Đại Doãn còng nhiều bài viết khác trên báo và tạp chí Đây là những cuốn Stich,
bài báo chuyên khảo giúp người đọc có dược cái nhìn khấ toàn diện vể Nho giíío
và Nho học Trting Quốc, Cling như của Việt Nam và cấc mrấrc chịu anh hường
Nho giáo Tuy nhiên, cho đến nay chưa có cuốn sách nào giới Ihiệu mộl cách hệ
thống về các loại hình di tích văn hoá tín ngưõng thuộc Nho giáo nhơ VÖ11 miếu,
văn từ, văn chỉ.
2.2 Khi tiến hành nghiên cứu về di tích Nho học Việt Nam, chúng lỏi (líì
gặp không ít khó khăn vế nguồn tài liệu:
Sách vể các loại hình di lích tín ngưỡng khác như: đình, chùa, miếu được
viết khá nhiều như Lịch sử Phật giáo Việt Nơm của Nguyễn Tài Thư (chủ biên),
xuất bản nãm 1988; Chùa Việt của Trần LAm Biền, c ả m nhận đạo Phât cùn
Trang 9Phạm Kế, M ỹ thuật Lỷ - Trần - M ỹ thuật Phật giáo của Chu Quang Trứ RiCng
những ngôi đình, chùa của Hà Nội cũng dược xuất bàn riêng thành hai cuỏn sách
là: Đình ỉ ỉà Nội và Chìia ỉỉà Nội của Nguyên Thế Long 11.1 m 1998
Trong khi đó sách, báo viết về vấn đề này cho đến nay mới có: Vân Mif'4 -
Q uốcT ử G iótn một biểu tưựììg của nền văn hoá Việt Nom của Đặng Đức Siêu vỉi Nguyên Quang Lộc, xuất bàn năm 1993; Quổc Tử Giâm và T rí tuệ Việt Nam cùn
ĐỖ Vãn Ninh, xuất bản năm 1995; Vân Miếu - Quốc Tử Giám Thnng Long cnn
Tiling tam hoạt động VT1KỈỈ Vãn Miếu - Quốc Tử Giám, xuất bàu năm IW8;
luận văn Thạc RĨ cỉia Nguyễn Thị nồn g Hà với tiêu đề Vân Miếu - Q ịịỔ c TửCtiánì (Thăng ỉsOng) - Trườtìg Nho học cao cấp, năm 1999; bài viết Vân Miêu ỉ ỉ tí é cùn Phan Thuận An, trên lạp chí Khảo cổ học, số 1/1999; Di tích Văn Miếu Kinh fífỉ< với truyền thống hiếu học cùa người Kinh Bắc của Nguyễn CÂm Phong dăng Irôn
tạp chí Văn hod nghệ Ihuăt, số 133, tháng 7/1995 Tất cả các công trình nghiên cứu trên là nhfmg nghiên CỨII chuyên biệt về một vấn dề hoăc một s6 vốn <1£ <4.1 thể và phẩn nhiều tập tmng vào hai Văn miếu lớn của cả nước là Vãn Miến, - Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội và Văn Miếu Huế Còn các văn miốn văn
từ, văn chỉ khác hehl như chira dược mấy tác giả đề cộp đến.
Bôn cạnh các tííc phẩm trên, cũng có inột vâi CVIỐI1 sách khác ghi chóp \4 các loại hìnli văn lìr, văn chỉ nhưng rất chung chung và sợ lược D ại \'iệt sử kv toàn thư chủ yếu ghi chép về Văn Miếu Thăng Long vì chúng li?n qunn (lốn nhữiig hoạt động của triền đình; Khâm định Việt sử thông giám cươniị mục, f)ợi Nam thực lục »’ờ Đ ại Nam nhất ỉhống chí của Quốc Sử qnán triều Nguyễn gh,i
chép về Vãn miếu Huế và Văn miếu các tỉnh nhưng chỉ ghi pliổn lịch sir (lưứi llùĩi
Nguyễn và rát ngắn gọn Việt Nam vân hoá sử cương của Đào Duy Anlì Nếp <7? tín ngưởng Việt Nam của Toan Anh, Việt N a m ,phong tục cùn Phan Kế Rinh là
Trang 10những cuốn sách giới thiệu chung vể văn hoá Việt Nam nhưng cũng chỉ ctổ cộp đến vấn để này một cách khái quát với những mô tả sơ lược, chiếm một tỷ lệ nhỏ
so với các phần nội dung khác khiến cho người nghiên cứu gặp nhiổu kliổ kliãn Khối lượng lớn các vãn từ, văn chỉ không được ghi chép trong chính sử.
Trong mục cổ tích và thắng cảnh của các sấch Dơ địa chí dược viốỉ lừ íh('?i
Lê, Nguyễn và sau này là thời Pháp thuộc, thời điểm mà vÃn còn mộl số vã lì liì, văn chỉ so với hiện nay, cũng rất íi đề cập dến loại hình di tích này, nếu có lliì lại rất sơ lược.
3 Mục đícli nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu, khảo sát cụ thể các di tích Nho học trên địa bàn Hà Nội Víì một số khu vực lAn cân để di tới khẳng định rằng có một hệ thống các (li lích Nlio học từ Vãn miếu trung ương (Vãn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long, Vĩìiì miếu Huế) cho đến các vãn miếu hàng tỉnh, hàng huyện, tổng, xã, thôn, làng Cụ liu' hơn là tìm hiểu về niên đại ta đời, quy mô, cấu trúc, chức năng hoạt động, sự khấc biệt cũng như mối quan hệ của vãn miếu cấp trung ương so với cấc vãn lừ, văn chỉ và ngược lại Có những so sấnh nhất định vứi CÍÍC HƯỚC cùng chill null hưởng của Nho giáo.
3.2 Ngoài việc tìm hiểu quy mô, cấu trúc của cấc văn miếu, vãn từ, vfm chỉ qua các thời kỳ lịch sử, luận văn cũng như cố gắng đựng lại hình lluic rủn nghi thức lễ tế Khổng Tử và các bậc tiên hiền tại Văn miếu trung ương và c;íc cấp.
3.3 Tìm hiểu ảnh hưởng, tác dụng của Vãn miếu, văn từ, vãn chỉ Irong <lòi sống xã hội cỉia v iệ t Nnm, đặc biệt là vai trò của nó (rong hoạt động cnn Hội-Tư văn và trong việc giáo dục Iruyền Lhống hiếu học, coi trọng nhân tài.
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghỉên cứu
4 l.V ì chưa có điều kiện khảo sát trên phạm vi cả nước nên trong luận vfm
này, chúng tồi mới chỉ lộp trung nghiên cứu, khảo sất: Văn Miến - Qỉtốc TửCriánĩ
và hệ thống vân miếu, vâĩì từ, vân chỉ quơ tư liệu chủ yếu ỏ' ĩỉà Nội và khu vực phụ cận.
ở đây chứng lôi chộn Văn Miếu- Quốc Tử Giấm Thăng Long - Hà Nội (lể khảo sát, nghiên cứu vì đây văn miếu được thành lập đẩu tiên và tiêu biểu của quốc gia, còn lại khấ nguyên vẹn cả về quy mô, cấu tníc Cling như cấc hiện vệ.l thờ tự Từ đổ có cơ sò đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu các vãn miếu ở cấp (hấp hơn.
Thãng Long giữ vai trò là kinh đô của đất nirớc tìr íliế kỷ X đến lliế kỷ XVIIĨ, Văn Miếu Thãng Long là văn miếu của cả nước Từ Ihế kỷ XĨX, nlin Nguyễn lên ngôi, chuyển kinh đô vào Phú XuAn, xAy dựng vãn miếu Huế, lúc này Thăng Long thuộc vào Bắc Thành Văn miếu Huế, là sự phnt triển liếp nối của Vãn Miếu Thãng Long Nghiên cứu Văn Miếu Huế, phán nào giúp chiìnp In hiểu rõ hơn Vãn Miếu Thăng Long và đặc biệt dựa vào cấc nghi thức tế lễ Kliổng
Tử của nhà Nguyễn để hình dung đirợc nội dung, bình lliức các buổi !ế lễ dưói thời Lê mà chúng la thiếu lài liệu tra cứu.
Năm Minh Mệnh 12 (1831), tỉnh Hà Nội ra đời Mặc dù là đơn vị hàng, tỉnh nhưng ltíc này Hà Nội không xây dựng văn miếu riêng của tỉnh mình nin vãn dòng Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long Vì vậy, (1ể giới thiệu mội cách lien tục văn miếu ở các cấp địa lý hành chính từ tỉnh đến thôn, làng, với diều kiỌn khảo sát có hạn, chúng tôi đã chọn các vùng xung quanh Hà Nội như: Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Tây để nghiên cứu Đây là những vùng gíiìi Thăng Long - Hà Nội, nên chúng có sự ảnh hưởng và giao luìi vãn hoấ gỉìn gfii với Kinh đô của đất nước Ngoài ra chúng tôi cũng tham khảo thêm một số tỉnh
5
Trang 12xa Hà Nội, ở miền Trung vâ miền Nam để có sự so sánh, dối chiếu trên mặt bàng
chung.
Chúng tôi đã chọn các vân từ, văn chỉ ở vùng nội và ngoại Ihành llà Nội
cùng một s ố làng xã lan cận (ìể khảo sát để cổ rhể giới Ihiộu về quy ÎTIO, cấu (rúc
và hoạt động của chiing.
4.2 Một thực tế hiện nay là các văn miếu, văn từ, vãn chỉ lại Mà Nội va i và các tỉnh lân cận còn lại rất ít so với con số thực tế dã từng tổn tại Nhiéu (!) í ích
quan trọng đã bị xoấ sạch, chỉ còn lại trong sử sách hoặc chỉ còn tên gọi Nbững
gì còn lại thì lioang tàn, dổ nát, chủ yếu ỉà những bộ phận kiến trííc qua nhfi'ng lần tu sửa dưới thời Lô và Ihời Nguyễn Trong lnận văn nây, cluing lôi tệp 1 rung, nghiên cứu vào những thế kỷ XVĨI » XVIIĨ - XIX, nhưng cũng cố gắng lìm hiểu,
trình bày, lý giải lịch sử của vấn dề ở các thời kỳ lịch sử.
5 Nguồn tài liệu và plnrơng phấp nghiên cứu
Luận vãn dựa vào cấc nguồn tài liệu chính:
‘ 5.1 Các thi liệu chính sử Tihir: Đợi Việt sử kỷ toàn lhĩf, Đợi Việt sử kỷ Urn
biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đ ại Nrtnĩ íhực fur để Om hiển
về sự hình thânh, ra đời của văn miếu tỉimg ương và văn miếu, văn lừ, vãn ehỉ cấp
cơ sở.
5.2 Sách chuyên khảo về lừng vấn dề như Đ ợi Nam nhất thống ( ỉìí, Minh Mệnh chính yếu, Khâm âịỉìh B ại Nam hội điển sự ĩệ cỉia Quốc sử quấn triều Nguyễn; Vân đài loại tigữ, Kiến vân tiểu lực của Lô Quý Đốn, Lịch triều Ỉuểỉì chương ìoợi chí, Hoàng Việt địa 'dư chí của Phan Huy Cliiì
5.3 Các tài liệu về văn bia và hương ước Các bản dịch vãn bia cỉia Vfm Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long, Văn Miếu Huế, Vãn Miếu Bắc Ninh, Vfin
Trang 13Miếu Hưng Yên, Văn Miếu Mao Điền - Hải Dương và hơn 40 tấm bia văn từ, V.ĨII chỉ của các xã, Ihôn, làng của các huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Tìr LiCm, Thanh Trì, Sóc Sơn, Gia Lăm, Đông Anh của Hà Nội cùng các huyện, xã ở các tỉnh Hà Tfty, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định là nguổn lồi liệu chù yếu được
sử dụng trong luận „văn Từ văn bia, luận văn có thể khai Ihác được nhiều nội dung như: niên đại ra đời, tliời điểm trùng tu, quy mô, cấu trúc xây dựng, đối lượng được thờ, quy định, cách thức tế lễ, những người Iham gia đóng góp хЛу dựng văn miếu, vãn lừ, vân chỉ và mội số quy định khấc liên quan đến cuộc sống vãn hoá xã hội của người đân Ngoài ra còn sử dụng các hương ƯỚC cùa các thôn,
tế hiện còn và những mô tả trong sừ sách.
5.6 Luộn vân đã tạp hợp, kế thừa các công trình nghiên cứu t1i ỉ rước vổ Nho giáo và Nho học V iệl Nam, các kết quả khai quật khảo cổ học; liến hAnli lành nghiên cứu, tra cứu các sách chính sừ, xử lý các thi liệu văn bin, hưcmg ước, kếl hợp với việc khảo sất thực lê để đưa,ra những miêu tả lịch SÌT vâ thực trạng ciiíi các đi tích.
7
Trang 14<1 Đóng góp của luận văn
6.1 Đây là lẩn đầu tiên, luận văn ,trình bày cụ thể, hệ Ihống vể quá hìiili hình (.hành, phát triển, hiện trạng của Vãn miếu Quốc Tử Giấm từ trung ương đến
cơ sở làng xã dể có (hể hiểu dược mức cìộ thâm nhập, ảnh hưởng củn Nho Ỉ1ỌC vào Việt Nam Thấy đirợc nét riêng trong văn hoá v iệ t Nam so với những nước lân cận cùng ảnh lurỏrng Nho giấo.
6 2 OícVi thiệu lịch sử phát triển, quy mô và hiện trạng của Vãn Miến Quốc Tử Giám Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử vn Vãn Miếu Huế -
sự phát triển tiếp tục cíin hệ thống Vãn miếu Ining ương Đặc biệt trong luận vãn
có trình bày về Vãn miếu Hà Nội clirới thời Phấp thuộc dể đi đến khẳng (lịnh rằng trong thời Phấp thuộc, Hồ Nội trở thành một tinh nhưng kliông xây dựng Vãn miếu riêng, mà cũng không biến Văn miếu Thăng Long xun lliànli Vãn miếu của riêng tỉnh Hà Nội.
6.3 Nêu Ihời điểm, lý do ra đời của các văn miếu hàng lỉnh, vãn lừ, vỉín chỉ hàng huyện, tổng, xã, thôn, và sự quan tAm cùa người cton dối với chúng Sự khác biệt về mặt quy mô, cấu trúc cũng như chức nãng hoạt động cho phù hợp với điều kiện của lừng cấp đơn vị hành chính.
6.4 Giới thiện những nghi thức về ỉễ tế Khổng Tử, loại hình (ế lễ riêng cua Nho giáo tờ cấp trung ương đến cấp cơ sở.
6.5 Tìm hiểu ảnli hưởng cỉia giáo dục Nho học lái tận làng xã, sự sáng lạn của người các làng xã trong việc kết hợp giữa viộc xAy dựng, thành lẠp e;k: văn từ, văn chỉ và tạo ra hình thức giáo dục truyền thống hiếu h ọ c, dạo <1ỨC cho người dân địa phương.
rình
ốn
Trang 157 Bố cục của luận vân
Luận văn dày 439 trang, trong dó phẩn Mở díỉu 10 trang, phíỉn Kết luân 5 trang, Tài liệu tham khảo 12 trang, Phụ lục 270 trang, bao gồm các bàn địch văn
bia, hình vẽ, sơ dồ và ảnh chụp các vãn miếu, văn lừ, văn chỉ ở Hà Nội vâ mộl sổ
vùng xung quanh Hà Nội.
Phdn nội dung chính cùa luận văn được chia làm 3 chương:
Ơiương 1: Văn Miếu - Quốc Tử Giám Trong chương này, luận văn cliỉi yếu tập trung trình bày về lịch sử hình thành, phát triển, các hoạt động và liiộn trạng của Văn Miếu - Quốc Từ Giám trung ương gổm Vân Miếu Thăng Long -
Hà Nội qua các Lhời kỳ lịch sử và Văn Miếu Huế, phần phát Iriển liếp nối l.rong
hệ thống Văn miếu h ung ương cùa cà nước.
Chương 2: Thăng Long giữ vai trò là kinh đô của cả nước nên không có
vãn miếu hàng lỉnh mặc dù thời Nguyễn có tỉnh Hà Nội Vì vậy, chiìng tồi đn chọn giới thiệu Văn miếu của 4 tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương vồ Nnni Định, là các địa phương xung quanh khu vực Hà Nội làm đối lượng nghiên CỨII
và giới thiệu chủ yếu để đảm bảo tính liên tục và hệ thống cua luẠn văn Cíỉc Víin miếu này đểu được Irình bày với hai nội dung lớn là: lịch sir hình thànli, phnl triển
và hiện Irạng của di tích Từ những mô tả cu thể đó để đưa ra những nhạn xél chung, mang tính khái quát về Văn miếu hồng tỉnh trong mối quan hệ so sánh vói Văn miếu trung irơng và vân từ, víỉn chỉ.
Chương 3: Giới thiệu hệ ihống vãn từ, vãn chỉ ở Hà Nội và khu vực phụ cận ơ iíin g tôi trình bhy theo trình lự từ cấp pliù, huyện, cííp tổng đến cííp xã thôn Irên cơ sở líy địa bàn Hà Nội làm trọng điểm và có mở rộng ra khu vực xung quanh.
Trang 16Phụ lục I: Khổng Tử, Tử phôi và Thất thập nhị hiền Tại các Vãn miến,
vãn từ, văn lừ đều thờ Khổng Từ, Tứ phối, Thất thạp nhị hiển nôn trong phụ lục l clúíng lôi nêu sơ lược phẩn thftn thế sự nghiệp cùa Khổng Tử, Tứ phối và tlnnli sách Thfl't thạp nhị hiền để tham khảo Ngoài ra CÒ11 trình bày thứ tự buổi lễ lê Khổng Tử tại VSn miếu Huế và Khổng Tử miẽíiỊ Cao Hùng (Đài Loan) cho Ihfl'v những nét cơ bail lihft't, sự giống nhan của các mrớc khi liến hànli (ố lỗ Từ (lổ cũng thấy dược sự giản lược trong việc tế tễ tại các vãn chỉ địa phương.
Phụ lục 2: Vãn bìa Giới thiệu hơn 40 tấm bia cìia Văn miếu Inmg irnng
văn miếu hàng tỉnh và văn từ, văn clìỉ,
Phụ lục 3: Bài sớ cùa nâng dân trại Vân Cỉìtửmg xỉn vua Qtumq Тгипц dựng lợi bia Tiến s ĩ ổ ề (ỉơìĩh trong nhà Giâm, Vân Miếu.
Phụ lục 4: Danh sách vãn miếu hàng tỉnh và các văn íữ, văn chỉ à n ì ỉỉ() Nội được thống kê từ tư liệu văn bia, sir sách và qua khảo sát Ihực lế.
Phụ lục 5: Ánh Tư liệu ảnh được trình bây Iheo nội dung cùa luận vỉin
Người xem có tliể lliấy được nét giống nhau nhất định giữa Văn miếu trung ƯIYI1ỊÌ
và văn miếu hàng tỉnh, sự da dạng phong phú vể quy mô, cấu trúc cùa vãn 1ÌÍ, \ fill chỉ Ngoài các văn miếu, văn lừ, văn chỉ đĩrợc để cạp trong luộn văn, lư liệu ảnh còn giới thiệu một số vân miếu, văn chỉ từ miển Tiling lief ra, qua dó cíìng thíìíy được sự biến thiên của loại hình đi lích Nho học khi đi dàn vào phin Nam.
Phụ lục 6 :S ơ đ 4 , bắn v ẽ : Văn Miếu Thỉỉng Long - Hà Nội, VAn Miếu Huê,
Vân Miếu Mno Điền - Hải Dương, Vãn Miếu Xích Đằng - Mưng Yên, văn chỉ thôn Bát Tràng, vỉỉn chỉ thổn Nhật Tảo
Trang 17CHƯƠNG 1 VĂN MIẾU - QUỐC TỬÍỈIẢM
1 Víìn M ỉếu - Q uốc Tử Giám Thăng Long qua cấc thòi kỳ lịch sỉr.
1 1 Văn M iến - Q uốc T ử Giám thời Lý.
Mùa thu, tháng Tám, năm Canh Tuất (1010), vua Lý Cong uẩn (lời dỏ tù Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La (Hà Nội ngày nay), dổi lên là Thăng Long, bắt c1Àu thời kỳ mới Irong công cuộc xây dựng và phất triển đất nước thời kỳ (tộc lập.
Dưới thời Lý, Phật giáo được coi là Quốc giấo Hầu hết những người nắm những cương vị trọng yếu trong xã hội đều là các nhà sư, chùa chiền dược xAy
dựng khắp nơi Trong D ại Việt sử kỷ toàn thư, sử thẩn Ngô Sì Liên đã nhiều lỉin
phê phán việc nhà Lý sùng đạo Phạt và chưa quan tâm đến đạo Nho.
Có mặt tại Việt Nam từ (hời Bắc thuộc, nhung phải đến thế kỷ Xì Nho giấo mới thực sự đánh dấu vai trò của mình trong tiến trình phất triển lịch sử với sự
kiện nhà Lý clio xây cỉựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám D ại Việt sử kỷ toàn llìỉĩ
ghi: năm Canh Tuất, niên hiệu Thẩn Vũ thứ 2, đời vua Lý Thánh Tông (1070):
“Mùa thu, tháng Tám ỉàm Vân Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Câng v<7 Tử phôi,
v ẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế Hoàng thái lử đến học ở âây" [30,
257] Sáu năm sau, 1076, triều đình cho xây dựng Quốc Tử Giấm Từ ảnh hưởng thông qua sự thống trị của Trung Quốc với 1000 năm Bắc thuộc, đến thế kỷ Xỉ, Nho giáo đã được người v iệ t Nam chấp nhận và sử dụng làm chỗ dựa vững chrío trong việc xây dựng và củng cố chế độ trung ương lập quyền.
Văn Miếu ỉà nơi ihờ Khổng Tử1, người sáng lập ra học lluiyếl Nho giíío.
1 K h ổ n g Tử: x e m lliô m ở ph ần pliụ lụ c 1.
Trang 18Theo Từ ảiểỉĩ T ờ Nguyên của Trung Quốc: “Văn Miến ì ồ m'ĩếìỊ KỈÌÔỈĨỊĨ Ị 'ử Năm thứ 27 nién hiệu K iwi Nguyên then Diiï'mg phong Khổng Tử ỉ à Vấn Tuyên Vương, gọi miếu Khổng Tử là Vân Tuyên Vương miếu Từ thời Nguyừìi, Minh \7' sau ph ổ bien gọi ỉà Vãn Miếỉt” [133, 737] Vãn Miếu cỉin nước ta cfing (lược gọi
theo cách gọi này.
Dưới thời Lý, ngoài Vãn Miếu còn có một nơi khác thờ Khổng Tử Dại Việt sử kỷ toàịì thĩf ché\)’ Nãm Bính Tý, 1156, “dựỉĩg miếu Kỉĩdng TỉV ị30, M 2\ Năm Tân Mão, 1171, ‘7 âm miếu điện thờ Vân Tuyên Vĩùmg (tứ(' Kỉĩâỉig Tử) Vi) đền thở Hậu tìuf' [30, 324] Theo những sử liệu trên đf\y thì 86 năm snu khi Vnn
Miếu xây dựng, có một miếu Khổng Tử được xây dựng dưới thời vua Lý Anh Tông (1156).
Cũng sự kiện trên, Khâm định Việt sử ihồĩig giám cươtìg mục ghi: 11ÍÍtìì
1156, “tháng 12, lập miếu 1 hờ Khổng Tử, Hồi đầu (ỉửi Lỷ, Vãn Miếu thờ chung en Chu Câng và Khổng Tử, đến dây Tô Hiến Thành xin ỉập miếu riêng d ể lhò’ Khổng
Tử Nỉtà vua y theo lởi: ĩập miếu Khổng Tử Ở pĩìía nam Ỉỉỉàỉih Tĩìdììg Long" 1101, 409] Năm 1J 71, “íỉtấng 2, mùa xuân Sửơ lọi miếu thờ Khổng Tử Miếu ìàỉỉi (ừ nấm Đọi Định thứ 17 (1 ỉ 56), đến đây sửa lại” [1 0 1 ,4 1 5 ]
Như vậy, cả Đợi Việt sử kỹ toàn thư và Khâm định Việt sử thông giáỊỊì cương mục đều ghi về việc có một miếu Khổng Tử được lácli ra lừ Vãn Miếu và xây dựng ở vị trí khác với vị trí của Văn Miếu Khâm đinh Việt sử thôn % giám cưong mục ghi cụ thể vị trí cửa miếu này nằm ở phía nam thành Thăng Long, Đợi Việt sử kỷ toàn í/ỉ//thì chỉ chép niên đại xây dựng mà không ghi vị trí cùn Van
Miếu Thăng Long.
Với những ghi chép ngắn gọn, sơ lược của Đ ọi Việt sử ký toàn 1 Ì 1 U\ chúng
ta mới chỉ có thể khẳng định rằng Văn Miếu - Quốc Tử Giấm được thành lập ỉừ
Trang 19thời Lý, quy mô và cách thức hoạt: dộng của nó như íhế nào “thì chưa hiếl dược một cách đẩy ctủ, chính xác.
Có lẽ cấc bộ sử cũ hoạc chép quá sơ ỉược hoặc để cập đến sự kiện này không rồ ràng nên đã có một số quan điểm chim thống nhất về niên đại ra dời cùa
Văn Miếu - Quốc Tử Giám A B Pôỉiacốp, nhà sử học Nga trong lấc pliắm Sự phục Ịỉỉởĩẹ c.ủa nước Đợi Việt th ế kỷ X = XIV dã tỏ ý nghi ngờ về thời điểm lltành
lập Văn Miếu vào (hời Lý Những lý do mà ông đưa ra nổi lên một số vấn <1c nhu' sau: Ông cho rằng tấl cả các vua Lý đều là những môn (lổ nhiệt thành cũ а <1по Phật, không hiểu biết những quy định kinh điển của Nho giấo Trong triều đình, không có một nho thần cao cấp nào có ảnh hưởng lớn và có những ngirời ủng hộ
dể tiến hành những biện pháp trôn Việc Lê Vãn Thịnh với Am num (líiiìg phép phù thuỷ hoá hổ để mưu giết vua đoạt ngôi là điều Nho giấo luôn lên ấn vì đã không giữ trọn dạo vua tôi Vãn Miếu xây dựng năm 1070, hìc đó hoàng Ihni tiY, vua Lý Nhân Tông, mới 4 tuổi Khó có thể tin vào lứa tuổi đó hoàng (hni (ử đã có thể tiếp thu nổi nhCrng giấo lý cao siêư và khó hiểu của Nho giáo.
• Cũng theo ông, nhà sử học Lê Văn Hưu (thế kỷ XIII) khổng hề cố một Infi bàn nói đến khởi đầu có tính khai sáng Nho giáo của Lý Thánh Tông và Lý Nhan
Tông Trong tấc phẩm Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, cổ
nhắc tới Văn Miếu nhưng vào ỉhời kỳ muộn hơn nhiều (thế kỷ X V ĩ - XVII)
không viết là Văn Miếu được xây dựng vào thế kỷ XI Trong Việt sử Ỉìỉực, mục
năm 1156, có nhắc đến việc xây dựng miếu Khổng Tử Ngô Sĩ Liên cũng chép sự kiện này Căn cứ vào thời điểm và tên gọi miếu, thì điều này có vẻ hợp ỉý hơn Thời đó các quan lại Nho học bắt đầu giữ những chức vụ cao cấp trong triều đình, còn việc gọi nhà tưởng niệm Khổng Tử là miếu Khổng Tử khi ấy cĩíng đang Ihịnh hành ở Trung Quốc Pôliacốp cho rằng bản thân từ “Văn M iếu” chỉ xuất hiện 'ỏ
13
Trang 20Trung Quốc vào dầu Ihế kỷ XV Vì vậy, miếu Khổng Tử không thể mang tên gọi' này ở Đại Việl vào thế kỷ XI.
Từ đó ồng dưa ra giả ihuyết hoăc việc xfly dựng Víín Miến väo thfri I ý 1л
sự nguỵ tạo để chứng minh lằng Việt Nam ngay từ đíiii thời kỳ phục lumg c1ã là một quốc gia vãn hiến Iheo chuẩn mực cùa Nho giáo hoặc có Ihể cltrới ỉliòi l ý Thánh Tông và Lý Nlifln Tông cliỉ tuyên bố một cách ihình thức về việc xây (lựn£ miếu (hờ Kliổng Tử (nhimg dứt khoát không phải là Vfm Miếu)1 pỏlincrtp nghiêng nhiều theo giả Ihuyết thứ nhít.
Pôlìacốp cho rằng từ “Vân Miếu” chì xuất hiện ở Tnmg Quốc vào <1íỉn llìC
kỷ XV là không chính xác Trong định nghĩa vể Vân Miếu (dã Irình bày ở phàn Irên) tìĩ đời nhà Đường (lliế kỷ VII) miếu Khổng Tử dã đirợc gọi là Vãn TuyOn Vương miếu Tôn gọi này phổ biến hơn vào thời Nguyên, Minh, pỏliacổp chấp nhận về sự ra đời của miếu thờ Khổng Tử, tuy nhiên ông chỉ khổng chííp nhfln t£n gọi Vãn Miếu, và cho ràng đó ìà tên gọi cùa Ihời sau này gọi ngược lại cho lìó Mọi lập luận mà ông nêu ra chỉ nhằm một mục đích là chúng minh tê.11 gọi Vỉín Miếu ở thời điểm 1070 là không chuẩn xác, tuy nhiôn ông vfili tlifra nhạn sự IЛ đời của Khổng Tử miếu năm 1156, tức lồ vân llùra nhạn có tnộl địa điểm llùv
Khổng Từ như phẩn trìnli bày ở trên.
Trong các phẩn liếp llieo, chúng tôi sẽ trình bày cụ liiể lịcli sỉr pbííi Iriổn của Văn Miếu thời Trồn, Lê dể lái khẳng định quan điểm về sự Lhành lộp Vão Miếu dưới thời Lý.
1 2 Vỉín M iếu - Q uốc T ừ Giám thờỉ Trán - Hồ.
Thời Trẩn, Nho giáo tiếp tục được Nhà nước quan tâm, pliât liiển Trà II Thái Tông, vị vua đẩu liên cùa nhà Trổn, 18 nãm sail khi lêti ngổi clíí cho sừn lọi
Trang 21Quốc Tử Giấm cùng với việc cho xây dựng Long Phụng thành Ông cũng In người cho xây dựng Quốc học viện.
Đ ại Việt sử kỷ toàn thư ghi: năm 1253, “tháng 6, ì ộp Quốc học viện Đắp tượng Khổng Tử, Clĩit Công, Á Thánh, v ẽ tranh 72 ngỉíởi hiền đ ể th ờ ” [31, '251 Khâm đinh Việt sử thông giám cương Mục chép: “Tháng 6 Lập Quốc học viậì Khi Viện Quốc học làm xong, nhà vua hắt đắp tượtiq Chỉi CângK Không 7 /if Mạnh Tử vò v ẽ Mọng 72 tignÝri hiền d ể th(Y\ [101, 476]
Vào thế kỷ XI, khi Văn Miếu xây dựng, tượng Chu Công, Khổng Tír, Tứ phối dược đắp và tranh của Thất thập nhị hiền được vẽ Sang (bế kỷ XĨT1, tnạl làn nữa nhà vua lại cho đắp tượng, vẽ tranh, chỉ có một điểm khác biệt duy nhất là lần thứ hai chỉ đắp tượng Mạnh Tử, một trong những học trò xuấl sắc ìiĩiAt Irong
số 4 vị học trò (Nhan Hổi, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử) được phối thồr cùng Khổng Tử, chứ không phải là đắp tượng Tứ phối.
Sự kiện này cho thấy cả Vãn Miếu và Quốc học viện đều thờ những ỏng íổ của Nho giáo, nhưng Quốc học viện còn có chức năng ìà nơi dạy học.
Dưới thời Trán, Nhà nước còn cho thành lập Quốc Tử viện Sử sácỉi không ghi chép niên đại xây dựng Quốc Từ viện nhưng chúng la biết được nó ra đũi
tnrớc Quốc học viện Năm 1236, “c/fơ Phạm ứng Thổn lồm Thượng thỉr tri Qĩtố<
Tử Viện đưa con em văn thắn,và tụng thần vào h ọ c ’ [31, 15].
Nhà nước ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo (lục nhân tài theo mô hình Nho giáo, cho xây dựng cả Quốc Tử viện vn Quốc bọc viện.
Một câu hỏi đật ra là liệu Quốc Tử Giám (thời Lý), Quốc Tử viện và Qtiốc học viện (thời Trần) cổ phải là một không? Nhiều quan điểm cho rằng Quốc Tử viện, Quốc học viện chỉ là tên gọ.i khác của Quốc Tử Giám Có lẽ đfly In qimn
\5
Trang 22điểm cỉia những người khi nghiên cứu vấn đề thấy cả Quốc Tử Giấm, Quốc ĩ II vỉộn và Quốc học viện có clumg chức năng là dạy học nên đã đồng nhất nhu vẠy
Tôn Thất Hanh tác giả cỉia bài vỉết Qỉtấc Tử Giám qua các Iriềì! đại khi hình hny
về cách tổ chức việc học của nước ta thời xưa có viết về trường Giấm nlur san: Danh xưng này có thay đổi, qua nhiều thời kỳ khác nhau, nhưng (hực chất vẫn là một trường đại học công lộp.
PhAn tích vấn đề ta sẽ thấy: thứ nhất, Quốc học viện ra c1ời snu Ọiiổc Tử Giám 177 năm Thứ hai, nếu Quốc học viện là Quốc Tử Giấm gắn liền với Văn Miếu thì sẽ không có việc cho đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Mạnh Tử Việc ctáp tượng nạy cũng có điểm khác Thứ ba, năm 1272, vua Tnìtì Thánh Tông cố
“xuống chiếu tìm niỊỉtài tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kiỉìh sách ỉàm Tư nghĨỊ7?
Quốc Tử Giám, tìm ngư<yì có th ể giàỉig bàn ỷ nghĩa của Tứ thư, Nẹũ kinh Sling vào hầu nơi vua âọc sách” [3 1, 39] Nhện xét về quan chế nhà Trân, Lô Quý 1)011
viết: “có Quốc Tử Giâm đ ể chầu chực kinh diên, cổ Thượng thư giữ công việc ở Quốc Tử viện” [38, 111] Vậy Quốc Tử Giấm có quan phụ trách là Quốc Tử
Giám Tư nghiệp còn Quốc Tử viện cũng có quan phụ trách riêng.
Như vậy, Quốc Tử Giấm được thành lập vào Ihời Lý là trường học (lànli
cho hoàng thái tử Quốc Tử Viện là nơi của “cơ/ỉ em quan văìì và quan lĩầỉt Vỉt<I vào học” [105, 329] còn Quốc học viện là nơi học tập của nho sinh Irong 11 ƯỚC
Năm 1253: “Thắng 9, hơn chiếu cho kẻ s ĩ iron g nước đến Quốc học viện xiảỉỉiỊ học Ngỉl kình Tứ thít' [105, 339], và vì là nơi dạy học của Nho giấo nên cung đắp
tượng để thờ Đáng tiếc là khổng thấy ghi chép về sự phấl triển cỉin Quốc học viện sau này.
Phải cho đến thời Lê chííng ta mới thấỹ cổ chiếu cỉia nhà vua ‘7//V/ C Ì Ì Ọ Ì Ì
con cháu nhà các quan và những người tuấn tú trong nhân âân sung ìồm ỳ ám sinh” [101, 832] Có khả năng khi Quốc Tử Giấm được inỏr rộng cho con om
Trang 23thường dfln tuấn tii vào học thì nó có cùng chức nang với Quốc học viện MỄI) Quốc học viện đã mất dẩn đi, lioãc cũng có thể Quốc liọc viện này d iỉ IỒI1 tại trong thời nhà Tríìn Trên thực (ế, dưới thời Lý và Ihời Tràn, việc chọn học siũli vào học ở Quốc Tử Giám đều do triều đình chọn và bổ chír chưa qiiíi llii cữ nên không thể đồng nhất chúng với quy mô, cách thức cìia Quốc Từ Giám lliời Kê.
Thời Trán, Văn Miếu Thăng Long không chỉ lliờ Chu Cổng, Khổng Từ, Tứ
phối, Thất IhỌp nhị hiển, người Việt Nam cung được phối thờ ờ đAy Đó là Clm
Văn An, Trương Hán Siêu và Đỏ Tỉr Rình.
Việc cho phối Ihờ Chu Vãn An, Trương Hán Siêu và Đỗ Tử Bình lại van Miếu là nét riêng cOia Va» Miếu Việt Nam Líic này, nó không còn tỉộp khuôn nguyên mẫu Khổng Tử miếu Trung Quốc ĐiằU' này cho lliấy, Việt Natn dã có nhĩmg nhà Nho đícli thực, liếp cận, nắm bắt quan điểm của bọc thuyết Nho giáo Quan trọng hơn, ngưcíi Việt Nam đã dẩn-'biến Nho giáo của Trung Hoa thành Nho giáo của Việt Nam Từ chỗ bị bál buộc, áp đạt, người Việl Nam clã đán díỉn Việt hoá Nho giáo, lựa chọn và sử dụng Nho giáo llieo cách riêng cùa mình.
Đúng 300 năm sau khi thành lập (1070 - 1370), VAn Miếu Thang Long mang trong mình một nội (lung mới Đ ó là việc Ihờ những nhà Nho Việt Nnm tiêu biểu ò Ihế kỷ XIV.
Chu Văn An được phối Ihờ à Văn Miếu vào nãm 1370 Chu Vãn An (1292
- 1370) là người làng Vãn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đỉìm, nay Ihiiộc huyện Thanh Trì, Hà Nội Chu Văn An đã lìmg làm Tư nghiệp Quốc Từ Giám, là Ihày giáo cỉia Thái lử Trổn v.ượng, sau này là vua Trán Hiến Tông Ông là ngưívi
dâng Thất (rảm sớ, đề nghị chém 7 tên nịnh (hdn để giữ yên tình hình chính sự
trong mrớc Với những đóng góp đối với đất nước và sự nghiệp giáo dục, V(V| lính cách cương trực, tiết tliấo, ông được tôn xưng nbư ông tổ của NỈIO học Viộ.1 Nntn
Sử thân Ngô Sĩ Liên nhân xét: “ Những nhà Nho nước Việt ta dược (ỉùnJE J ở (lòi
ỮAIHTC : uò :>1A HA NỘi ị
TRUNGTA'-| itíQNrTIK.PiƯV.vìíí ị
Trang 24không phâi lò không nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến ('ông tỉanìi, kẻ thì chitỵên lo
về phú quỷ, kẻ lại a dua V(H dời, kẻ chỉ cất ân lộc giữ thổn, chưn có <11 chịu (ỉf> tâm đến dạo âức, suy Ĩỉghĩ tới việc giúp vun nêu dửc lối, cho dân âuợv nhử {>!) Hãy lấy Văn Trinh mà nói, thở vun tất thẳng thắn can ngân, xuất xứ thì làm then nghĩa lý, (ỉòo tạo nhâtì tồi thì câng khanh ổều ở ( ửn âỉỉg nu7 va, tiết lhá<> cao thượng (hì thiên tử cũng th ể hắt làm tôi dược Huống chi tư th ế dường hoâng nu) đạo làm thây được nghiêm, giọng nổi ỉnrti liệt mờ bọn nịnh hót phải sợ Ngàn nam về san, Hglìc phong <iộ của ông, há không làm cho kẻ âiêit ngoa íhàiìh ìiênt chính, ngtíời yếu hèn hìết lự Ị ộp dược hơy sao? Nêu không tỉm hiểu nguyền tớ thì ai biết íhttỵ hiệt t (ùa ân g xứng dáng với con người củít ôn# Ông tìiiù <1('wị> dược coi là ông f(i của ( ác nhà nho nước Việt ía mà thở vào Văỉì Miến", p I, 152
- 153]
Trương Hán Siêu được phối thờ ở VAn Miến nỉitn 1371 Ong ngircĩi xiĩ 1’luíc
Am, huyện Yên Khnnb, lỉnh Ninh Bình, tự là Thăng Phù, trải 4 triều vun Iilià Trần là Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông, làm đến chức Ginn Iighị dại phu Tliam tri chính sự Khi ơ iiê m Thành làm phản, Hổn Siêu lliổng lĩnh í|ii;1n Thdn Sách trấn thù Hon ChAu, sau mắc bệnh, trỏr về rồi chết, dược lặng Thổi phố Ông là người cứng cỏi, giỏi văn chương chính sự, vua (hường gọi ồng là tliổy mà không gọi bằng tên Trương Mán Siêu cùng Nguyễn Trung Ngạn biên (lịnh bộ
Hoàng triều đợi điển, khảo soạn bộ Hình thư Ong hay để ý bài bác thói, (lị đoan Bài văn bia ỏ chùa Khai Nghiêm, Bắc Giang do ông soạn có đoạn viết: "ỉỉiện H<ì\> thánh triều âem giáo ĩìoá nhà vuơ như cơn gió thổi lên đ ể chấn chỉnh pỉtoriiỊ tục đồi bại, thì dị đoan cơn hồ, chỉnh dạo nên theo Phàm kẻ s ĩ pỉìit không phải (ỉợo Nghiêu Thuấn không ĩìên tâu ở ỉnỉớc vua; khổng phrỉi đạo Khổng Mọn lì klìânỉỊ nén chép /hành sách; th ế mở Ị nhiều kể khàng làtĩì tỉiếỊ cử chăm châm ìnm rầm
Trang 25niệm Phật thì hỏng nói (ỉôĩ ai? ” [22, 188] Năm Minh Mệnh Ihứ 4, ông (lưực c ho phụ thờ ở miếu Lịch đại đ ế vương.
Đỗ Tử Bình được tòng tư à Văn Miếu năm 1380, dưới triều vun Tiíin Phế
đế Đỗ Tử Bình chua rõ người à đâu Lời chua của Khâm (lịnh Việt sử thông giám cương mục viết: Sách An Nam chí của Cao Hùng Tnừig, nhà Minh chép: (í(? r huyện C ổ Lan cố Vỉtởỉĩ Tử Bình, trong vườìi có mơi, (rúc, khe suối và hồ ao, là một chỗ thắng cởĩih troỉìg huyện đ ể du thưởng” Như th ế có l ẽ Tử ìììnìì ỉà người
huyện C ổ Lan? Huyện CỔ Lan tức ỉà Đ ông Quan ngày n a y, 1ÌU1ỘC tỉỉìlì Nam
Định1” [101, 620 - 621] Tử Bình trải qua các chức Ngự tiền học sinh, Thị ginng,
giữ việc Viện Xu mật, đổng Tri môn Hạ Bình Chương sự, Hành khiển.
Rất tiếc là chting ta chưa biết được lý do hay điều kiện dể đirợc lòng lự ả»
Văn Miếu Bởi ờ các triều dại sau, không mộl người Việt Nam nho khấc (tược
cho phối thờ như thế nữa Ngay cả việc cho phối thờ Trương Hấn Siêu và Đỗ Tĩr Bình đã có những ý kiến không thống nhất Phan Phu Tiên và Ngô vSĨ Lien, 1Г» những nhà sử học sống gần thời kỳ đó đã phản đối việc vua Trổn Nghệ Tỏng cho phối thờ Trương Hán Siêu và Đỗ Tử Bình tại Vãn Miếu.
Ngô Sĩ Liên viết: “Trương Hân Siêu là ồng quail van học, Yì(ọl ỉìẳn iiìọị người, tuy cứììg cỏỉ,t chính trực nhỉứĩg lại chơi với kẻ không đáng choi, Ц (1 con íỊ{'ỉị cho người không ááỉìg gả, Họ so với Vân Trinh, có gì đáng kể, huống hồ lìỉiững кг còn kém hai ông này” [31, 153] và “Nghệ hoàng ban cho ĩỉá n Siâĩt (iỉạrc lòng fự
â Văn Miếu vì ông ta hay bài xích dị đoan chang? ỉ ỉ ình như vậy Nhĩúiạ \Ứ1 Kì ông tơ ỉà người cậy tồ i, kiêu ngạo Thời Minh Tông, Háìì Siéỉỉ làm Hàiìh Kìiiểỉĩ, khinh b ỉ người cùng hàng, đến nổi vu cho Phạm Ngộ, Lê Duy nhộn hối ỉộ Khổng Tử nổi: "Dẫu tỏi giỏi đêh như Chu Công nu7 kiêu nqợo và keo bẩiĩ thỉ
1 N a y th u ộc h u y ộ n Đ ỏ n g H ư n g , lỉn li H iỉii Hình':
19
Trang 26những gì còn lọi cũng chẳng ra sao!" Tôi nghĩ Hán Siêu hiên tài nâu có lìiiâĩiỊ), hẳn không (ìám dự thở ở miến cùn Khổng Tử [31 ,1 5 6 ]
Phan riiu Tiên nói: Bậc danh nhơ các đời có bài trử dược dị đoan tmỵềỉỊ giữ được đạo thân g trị thì mới được cho tồng tự ở Văn Mich, flip là d r ỉ ỏ rõ dạo học có ngọn nẹuồn Nghệ Tätig cho Chu An, Tntơììg ìỉán Siêu D ỗ Tử ìììnìì (lược
dự vờo ãó, thì Hân Siêu là người ctbig cỏi, bài xích âợn Phật, An sửa mình trong sạch, bền giữ khí tiết, không cầu hiển đạt, íhì cũng tạm dược fíâ'n nhu l ừ ĩìình là hạng học nhâm chiền n gì fin, tham ỉơm bòn vét, là kẻ gian thân lìỢÌ nước, sao lụi được len vào chỗ dó?
Ngồ Sĩ Liên lèn án: Tử Bình ten đánh cắp vàng cổng của Bồng N ga ubỉ bậy lừa vua, đ ể đến nôi Duệ Tỏng đi tuân phương nam không trà vr Hilft, niit'ft nhà từ â ó liên tiếp có tai, hoợ Cìiiêm Thành vào CƯỞỊ 1 , tội ấy giết cũng chifa dóng, cồn học nhảm chiều người tììì chê trách làm g ì? [3 1 ,1 6 7 ].
Trong Đ ợi Việt sử ký tiền biên, Ngô Thì Sĩ viết: “Được thở phụ ở Vân Miếu tấì ỉà người dó đ ã Khổng Tử của chúng ta khen ngợi Nếu chỉ vì văn rhươnỊỊ ỉài nghê và công nghiệp nhất thỏi, liền đưa lên thờ phụ thì sè nắm d ồ ílĩờ không kê xiết đấy Nhà Trơn cho 3 người là Chu Vân An, Hán Siêu, T ử Rìiỉìí dưự( ihở phìt
ở Văn Miếu, Cỉut Văn An lờ htm rồi, Nân Siềit không là/ỉì nổi chức vụ, Tử Rình
dù chém cũng chưa hết tội, mà lại chen vào tun cung đinh lễ nhạc, thì ròn xni lầm gì hơn Nay â gìởi vũ phía tây vắn thờ Chu Vân Trinh, ròn ỉ ỉ án Siêu, Tử Bình đ à bỏ di, không biết từ thời đại nào Cũng fhấy đìỉực ì ẽ tròi lòng H%ườì ( 0ПЦ hằng, há nhất ihòỉ có th ể nâng lên đè xuổng được sao!" Ị105, 470].
Theo những ghi chép của Ngô Thì Sĩ, chúng ta có 1hể biết rồng clio (lcji llic
kỷ XVỈĨI, Trương Hí1n Siêu và Đỗ Tử Bình không còn được liếp tục thct tại Viín Miếu Chu Văn An đirợc phối thờ tại giải vũ phía tíly ciía Víĩn Miếu, lức Ih pliổi
Trang 27lliò cùng với Thất thập nhị hiền Như vậy, Chu Vãn An dược lliò tại Vnn Miốn
Năm Gia Long năm thứ 9, 1809, quan Bắc Thành tíUi ràng: “V/ín Miến ỏ thành từ triều Lề về trước dem Sĩ Vương và Chĩt Vãn Ли lòng tự Xét íroìỊỊỊ s ử ký tlĩì S ĩ Vương dùng tĩù thư đ ể ìw â tục nước, đem lễ nììọt' d ể ỈIOÓ lòng ngKởi vỡII hiến cửa nước ta hắt âắu từ âấy, Chu An thì thanh bạch, xifí liết, Ị ỷ học finit (hông, là vị âọị nho ở đ(ri, cho nền các âừĩ dều nêu rạng mồ dột vào hànx tòn Ị) tự
ở Vân Miếu Nay xin tnỳ bệ hạ quyết â ịn ir [97,, 8]
Theo lời (Ail cil a quan Tổng trấn Bác Ihàiỉh vào thời điểm đổ lại Vnn Miốu Thăng Long cho tòng íự Ơ1U Văn An và Sĩ Nhiếp, không thft'y nhắc dến Đỗ Tử Bình và Trương Hán Siêu Việc cho Sĩ Nhiếp phối thờ thì các sử sách đời Inrtírc
khồng Ihấy chép mà chỉ tliấy ghi trong Đ ại Nam thực ì ục.
Trước lời (All cùa quan Bắc Thành, nhà vua quyết định: Chti Văn All và Sĩ
Nhiếp đều đã có đền thờ riêng tại địa phương và hơn nữa tại líVfin Miêh ở Kinh
sư, S ĩ Vi(ơng và Chu An chưa liệt vào hàng tồng tự Ở thành nên lấy Kinh MI' lùm chuẩn" [97, 8].
Thời Nguyễn, Thang Long không còn giữ vị trí 15 kinh dô cùa cả nước, chỉ còn là cấp địa phương vì vậy Văn Miếu Thãng Long phải Ihờ lự theo nhir khuôn mâu cùa Ván Miếu Huế mà Văn Miếu tại Huế không Ihờ Chu Văn An, nên việc thờ Chu Văn An tại Văn Miếu Thăng Long chấm dứt vào năm 1809 Nlnr Víìy Chu Văn An dược phối lh(V lại Văn Miếu Thăng Long tổng cộng là 439 nỉim.
Đến năm 1837, dưới thời vua Minh Mệnh, tại Văn Miếu Huế, Sĩ Nhiếp vfi
Qiu Văn Лп lại được cho xếp vào tiên hiền, tiên nho cho lliờ phụ Nhưng Doi Nam tììưc lue không nói rõ rằng líic này Vỉín Miếu Báo Thành có liếp ỈỊIC Ini 1h?f
Chu Vỉín An nữa không Nếu trường hợp Chu Vãn An đtrợc liếp lục phối Ih(f fại,
Trang 28Vãn Miếu Bắc Thành llieo Văn Miến Huế, thì Chu Văn An cổ một thời gian cách quãng l?i 28 nám không được thờ tại Văn Miếu Thang Long mà sau này là Văn Miếu Bắc Thành.
Nãm 1400, nhà Hổ lên ngôi Năm 1392, khi Hồ Quý Ly dã soạn sách
Minh đạo gồm 14 Ihiên băn một số víín đề liên quan đến Nlio giáo như clm Chu Công Ih Tiên Ihẩnh, Khổng Tử là tiên sư Văn Miếu cìặt lượng Chu Cftng Ỉ1 chính giữa, nhìn về phương nam, Khổng Từ ở phía bôn, nhìn về phương 1Лу vh nfìu mỌI
SỐ điểm đáng ngờ của síỉch Luận Ngữ:
Với 7 năm tồn tại ngắn ngủi (1400 - 1407), triều Hổ C ling có những quan tAm nhất dịnli đối với nền giáo dục nước nhà Nhà n ổ lổ chức khoả (hi Thổi liọc sinh năm 1400 Nãm 1404 định thể thức chọn nhân lài: cứ (háng 8 nỉim trước (lii Hương Ihì tháng 8 năm sau (toi Hội, nếu đỗ được bổ Thái học sinh Nhưng học Irò mới được thi ở bộ Lễ nhưng gập loạn nên phải Ihôi.
Trong Ihời gian Ihuộc Minh, nước ta không còn dộc lập Có lẽ vì vẠv, Irường Quốc Tử Giám, trường dành cho Hoàng (hái từ cũng không CÒI1 giữ chức năng của nó Người Minh có thể đã áp dụng mô hình Quốc Tử Giám спа Tnmg Quốc, tức ỉà trường học dành cho học sinh cả nước để áp dụng vào „nước ta.
Nhà Minh định lệ mỗi năm cống các nho liọc, sinh viên sung vào Ọuổc Từ
Giám: "nhà Ị)hủ học mỗi ỉìâni 2 tên, nhà châu học 2 năm 5 tên, nhà huyện học mỗi năm ỉ tềíì Srtti lợi quy (ỉịnh nhà phủ học mỗi nồm ! tén, nhà châu học 3 năm
2 lên, nhỏ huyện học 2 năm Ị tân” [31, 238] Nhà Minh cũng có ý định tổ cliức
thi Hương để chọn học trò nhưng cííng không thực hiộn được.
Dưới thời Hổ và 14 năm thuộc Minh, Quốc Tử Giấm vẫn tổn lại và hoại dộng nỉumg cfing khổng dược ghi chép gì nhiều Irong sử sách.
Trang 291 3 Văn Miếu - Q uốc Tử Giám thời Lé
Sau khi giành lại dộc lập đất nước, triều Lê đã có nhiều hoại dộng cài cách quan trọng c1ể chấn hưng và phát triển nến vỉín hoá dan tộc Tff thế kỷ XV Nho giáo ngày càng dirợc quan tflm, phát Iriển-, giữ vị trí quan trọng Irong quá 1 lình xây dựng, phát triển và bảo vệ dft't nước Khoa cử, giáo dục theo mổ hình Nho giáo dược bổ sung và dđn hoàn thiện.
Nhân thức dược líìm quan trọng của việc ctòo tạo, giáo dục nhân tài, 11 gí) y sau khi lên ngôi, Lô Thái Tổ đã cho tuyển chọn con trai cổc quan và học trò sung
vào học tại Qurtc Tử Giám Năm 1434, vua Lô Thái Tỏng xuống chiếu: “MuA'n l ó dược nhân tòi, trước hết phđi chọn lựa kè sĩ, mà phép chọn lựa kẻ s ĩ phải lòV thi
cử làm âồìi Nhà nước ta từ thủơxưa ĩoọn Ịợc, ngưởi anh tòi như lá mù (ỉ thu bậc tuấn kiệt như sao buổi sớm Thói tổ ta buổi dâu dựng nước, m ở mang nhà học, dửng c.ỗ Thái lao d ể t ế Khổng Tử, rất mực sùng N ho, trụng dạo Nhung vi nước mới dựtìg nén chưa kịp dặt kỉtoa tlìi Trầm noi theo chí hướng Hgirởi xưa, ì<} (lược nhân tài đ ể th o ả ỉòng mong đợi” [31, 319] và quy định cứ 3 năm tổ chức ỉhi l!ội
niột lẩn, những người đồ đều được ban danh hiệu Tiến sT xuất than cííng như quy định 4 kỳ của khoa thi Hội Những người đõ hạng nliẩl dược bổ vào Quốc Tử Giám, hạng nhì bổ làm Sinh đồ và Thuộc lại bôn văn.
Năm 1442, vua Lê Thcii Tông có ý tưòrng cho dựng bia Tiến sT lại Vriti Miếu - Quốc Tử Giám Lệ đựng bla Tiến sĩ được đăt ra từ năm 1442, nhưng VÌÍ4' dựng bia phải đến năm 1484, dưới triều vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hổng Đức tíiứJ5 mới được thực hiện Đợt đâu tiên dựng 10 tấm bia cùa 10 khoa llii lừ nỉim
1442 đến ] 484 Cùng với hai đợLdựng bia lớn vào các năm 1653 (25 bin) nfmi
1717 (21 'tím bia) và những lổn (lựng bia khác, hiện nay tại Văn Miốu còn lun giií
82 tấm bia Tiến sĩ ghi tên í 306 vị Tiến sĩ cùa cả nước lìr năm 1442 đến 1779.
23
Trang 30Bia Tiến sĩ tại Vên Miếu - Quốc Tử Giâm lă những tư liệu quý giâ vể lịch
sử khoa cử Nho học cííng như hăm chứa nhiểu những giâ trị văn hoâ khấc.
Sau mỗi khoa Ihi, triều clình dựng một bia Tiến sĩ, ghi bọ lín, quô quân những người ctỗ Tiến sĩ trong kỳ (hi ấy Điểm đặc biệt; của bia Tiến sĩ lọi Vìín Miếu - Quốc Tử Giâm khấc với bia tại câc văn chỉ lă chỉ ghi tín nhíĩng người (lỗ Tiến sĩ, còn không ghi câc loại hình thi cử khâc.
Nội dung của băi ký bia Tiến sĩ thống thường gồm có cấc phồn: tín gọi ảm tấm bia (Băi ký đề lín câc Tiến sT khoa niín hiệu năm thứ ); ca ngợi công đức của triều vua đê tổ chức khoa thi; tín câc vị quan tham gia tổ chức khoa Ihi (như Đề điệu, Giâm thí, Đ ộc quyển, Đằng lục ); quy định, câch thức lổ chức khoa thi; họ tôn, quí quân những người thi đỗ; tín những người tham gia dựng bia (người soạn văn bia, ngirờỉ nhuận sắc, người viết chữ triện )
Bia Tiến sĩ được xem như tuyín ngôn về giâo dục Nho học của cấc virơng triều Chính vì vậy, trải qua 5 thế kỷ tổn tại cùng với những thêng trầm của lịch
sử, cho đến nay bia Tiến sĩ vẫn giữ nguyín giâ trị cỉia nó Trong lấm bia (lđu tiín dựng cho khoa thi năm 1442 do Đông câc Đại bọc sĩ Thđn Nhđn Trung soạn có cđu: “H iền tời lă nguyín k h í cửa q uốc gia, nguyín kỉỉí vững tììì t h ế nước mọììĩì Ytì
thịnh, nguyín khí kĩ.m thì th ế nước yếu vă suy, cho nín râc dấnq íhâỉìỉì ăo minh vươtig không ai không chăm ỉo xđy dựìĩg nhđn tồi” Hay trong tấin bia Tiến sì dựng cho khoa thi năm 1616 có ghi: “Nguyín khí cưởỉĩg thịnh thì con tĩỉỊtrởi diỉự( hưởng thọ lđu dăi, nhđn tăi đông đảo thì quốc gia được thâi bình Vỉlyig <h(ĩi" |R|
Muốn có nhđn tăi thì phải đắ tạo Việc giâo dục đăo tạo Nho học cấp cao chính
lă công việc do tnrờng Quốc Tử Giâm đảm nhiệm Vì vậy, những tấm bia Tiến sì năy gắn liền với sự phât triển cỉia trường Gỉấm.
Nghiín cứu nội dung bia Tiến sĩ chính lă tìm hiểu sự hoạt động, phnt triển của Quốc Tử Giâm nói riíng vă của giâo đực Việt Nam nổi chung.
Trang 31Mục dich dựng bia Tiến sì đều được nhắc đến (rong cắc lấm Hin ‘7 hĩ! khoa (hi tỉm nạp hiền tài ìà â ể tọo cỏn g cụ lòm nên cuộc hình trị, nân 1f>n họ Ill'll truyền hậu th ế lồ d ể biểu cìưmiỊị việc tất trọng vàn, hỏi vì trọng dạo sùng Nho !() lòng tất của đấng minh chủ, vãn vật dày iỉử là phép hay cùn dời thái bình (íiĩn phỉỉi chỉ có mục dich là khoe khoang, ỉoè loẹt" [14]
Triều dinh đã dựng bia Tiến sĩ ngay tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là: “cốt
â ể ch o bọn cài hất hên lưng, ra vào nơi cung điện, mắt nhìn, miệng dọc, hồi hổi ngóng trâng, kính mến ntà no ước, Đó ìờ hộ mây d ể kích động ì ồn g ngrfôi >v) /í) một việc hay cồ ỷ пцЬТа trọng (ỉợo của dài thịnh đỏl với tiền chỉnh trị <v> phoĩỉịi hoá quan hệ rất ỉớiì” [11] Mỗi một Giám sinh trường Giám ngây ngày rlến
Irtrờng, nghe giảng, bình văn, đều nhìn thấy những íấm bia để khích lệ linh (hổn
nỗ lực của mỏi người.
Không chỉ cổ Ihế, nó còn l?lm cho “ngiftVi frông vờn Ihây ỔItợr dirn mầu mực mà fît eo vũng tỉuiy âìtợc điều đóng răn đe mồ tránh” [13].
Tuy đã dược nêu lên (rên bàng vồng, bia (lá lliế rihưng khổng vì lhế П1Л kẻ
sĩ có lliể quên di Iráclỉ nhiộtn, (lạo !ý luân thường, “d ể law ồng Trạng nguyên chân giá trị, ông Tiến s ĩ cìauìì thực -Xibig nhau, trên không phụ ơn tri ngộ Cỉ tơ
triều đình, dưới kỉìổììg phụ với những diều m ìn h ổ ă h ọ c ' [11].
Quan điểm giáo dục b đây không chỉ có lííc đụng với những ngiràfi cliirn Ihi
đỗ, với Ihế hệ mai sau mà còn với chính cA những ngiìòi dã c!Ậ dạt, la Inin qimn
cho triều đình Bia nfim 1463 nói rõ: “H ọc trỏ may được khắc (én lân hit7 (lá Itòy, phải theo danh nghĩa, làm dihìg thưc sự, sửa đức hạnh, giữ gìn vãn hiến Nhậm chức, kỳ ciữrtig thì nghĩ ĩàm th ể nào cho trong sạch gấc ('hình Giũ < hức (lift phương thì nghĩ làm sao chn tỏ (ỉức vua mà thấu fifth dân G iữ quyền v/í nnir thi nghĩa làm sao cho đầy âủ dân sinh mồ hển gốc nước , â ể tin ig khen mãi mãi, liCỉt
25
Trang 32tiêng thơm khống cùng" [9] Còiv'1 nềĩt kẻ nào nhờ việc thi dồ đ ể làm cái cơn ấm
no, mượn con dirởng âỳ d ể làm lối tat ra làm quan, chỉ biết tm(n cho thân, không nghĩ đến việc nước íhì ngiừyi to s ẽ chỉ lận tên mà nói: kẻ này gian, kè này nịnh, у này đặt việc nhà lên trên việc nước, lâm gay người bân mình, kỏ này Ikĩỉìì hại người (hiện, hè đảng với lũ gian, nhơ nhuốc cho khoa mục” [10].
Học trò trường Giám được giáo dục đầy đù về đạo lý Ihm người, lòm ngitííi tân trung với nước, có ích với dân, đạo nghĩa ngay thẳng, cống đức vẻ vang.
Đối với Nho sinh Ihì việc thi đõ, ra làm quan chính là bước chuyển biến quan trọng trong cuộc đời ơ iĩn h vì vậy mà không ít ngiròri đã từng mơ ƯỚC, và không nản chí dùi mài kinh sỉí cho đến khi thi đỗ Khoa cử là COĨ1 đường đi (ới
vinh hoa, pluì quý bằng chính năng lực cùa bản thân “£>//'ưng ở cảnh nhà tranh vách đất, quyển vàng thỏnrxonh, bâng chốt' đtbĩg vào nr th ế khanh Uùmg nhìn thấy hước đường vinh quang, lại được ghi tên vào cái bia ổá không mòn, kè s ĩ như thê'vinh hạnh biết bao” [15] Thi đỗ không chỉ lâm rạng danli bản (hân vi
Tiến sĩ mà đó còn chính là niềm ao ước, tự hào của gia đình, gia fộc và làng quô nơi vị Tiến sĩ sinh ra và lớn lên Cũng 1<I niềm vui sướng của triều dinh đã lựa chọn được nhan tài thông qua khoa cử.
Đỗ Tiến sĩ đổng nghĩa với việc được nêu tên trên bảng vàng, (tược bnn
phong chức tước, dược cấp mĩi đai xiêm áo, dự yến ờ vườn llurợng uyển, <1ược сА'р
ngựa về vinh quy bííi lổ, vinh hạnh hơn cà là được ghi tên Irên bia đíí lưu I ru yến mãi mãi.
Dưới (hời Lê, Quốc Tử Giám (hực sự trở thành tnrôrng Nho học cao сЯ'р cùn nhà nước, là trung tâm bổi dưỡng, đào tạo nhíin thi сна dất mrớc.
Giám sinh trường Quốc Tử Giám gồm có: những người dirợc vun han clm vào học (Ân Giám), con em vãn thổn từ lục phẩm Irở lên (Ảm Giám), những
Trang 33người đã c1Ỗ kỳ Ihi Hương nlumg chưa đỗ kỳ thi Hội vào học dể cViív khoii 1 hi sail
(Cử Giám) và những người dược chọn gửi' lên từ cắc địa plnrơng.
Năm 1467, tại trường Giám bắt đầu đặt chức Ngũ kinh Rác sĩ Các Giám sinh học kinh Thi, Thư nhiều, học Lỗ ký, Qui Dịch, XuAn Tim lliì ít cho nên dẠI cliức Ngũ kinh Bác sì dể tnỏi người chuyên ngliiên cứu mội kinh để dạy học Im
Cũng trong nỉỉm này, Nhà nước đã cấp bàn in sách Nf>íĩ kinh cho Quốc Từ Giấm.
Sinh viên trường Giám dược chia Ihm ba xá Nếu Iníng 3 kỳ Il)i Hội sung lâm Thượng xá sinh, trúng được 2 kỳ sung làm Tiling xá sinh, Iríing I kỳ sung làm Hạ xá vSÌnli, mồi xổ là 100 người đều dược Nhà nước cííp tiền Ban clíiu số lién được lĩnh của sinh viêu ba xá là nliư nhau, đến năm 1484 có sự thay đổi Thượng
xá sinh đirợc täng 1 tiến cho đù 1 quan, Imng xá sinh được nguyên 9 tiền như trước cồn hạ xá sinh giảm còn 8 liền để khuyến khích việc c ố gắng liọc hiinli.
Năm 1483, Văn Miếu được xây mới và mở rộng thêm nhiều so với liiíức:
“Uìrn diện Dọi Thành, Đỏng vu, T â y vu â Văn Miếìt cùng diện Canh phục, kho chứa ván in, kho chứa (ỉồ t ế lễ, dâng tây điỉởììg nhà Minh luân" [31, 48(í| Sự kiện này được chép kỹ hơn trong Khâm địììh Việt sử ihâỉìg giâm Cĩíơỉìg m tir:
‘Tháng giêng, múa xuân, sửa nhờ Thái học Hồi đầu triều Lê, nhà Thói, học vồn íheo nếp cũ cùa nhà Trần, quy c h ế phẩn nhiều cồn thiếu thôn Đến nạy, nhà VIUỈ
hạ lệnh cho sửa rộtìỊị thâm ra Đằng írước nhà Thái học dựng V('in Miến Kìiìt vũ của Vân Miến cồ điện Đợi thành d ể thờ Tiền thánh; đông Vil và tây v/7 chia ta thờ các tiên hiền vồ tiên nho; diện Canh Phục đ ể làm 11 ni tíic yéh Ịírtĩớt• ngày chính l ế 1 ngày, cóc quan chức được tham dự vào hành lễ, (ỉềii tề (ụH Van M ini lúc trực, à ể sá n ẹ sớm hôm so ti hành lề gọi là Túc yến Ị; mội kho d ể chứa (lồ trh lú
và một plìòỉỉg đ ể làm nhà hềp Đằììg sau nhà Thái học, (ìưng cửa Thái học, nhà Minh Luân, Giỏng dường phía dâng và giảng ổíỉờììg phía tây 1ỈÙ dểỊ()w chồ ỊtỊÌíỉny
?J
Trang 34(lạy cấc học sinh Lại dặt thêm kho hí thư â ể chứa vân gỏ ân khắc thành Stu ft; bên đfbỉg, bèn iởy tĩltà Thâi học lòm nhà cho học sinh trong Ììơ xó, mỏi hvn ? cỉãy mỗi dãy 25 girtH, đ ể làm chỗ nghỉ ngơi cùn học sinh; bé/ỉ dông, hên tây dềit
có ì nhà.bia, quy mô có phân rộng lf'm khang trang lắm ”.\ 101, I í 63 - I ! 6 4 1
Năm 1484, Văn Miếu lại được liếp tục tu sửa: “M m ổiệìì Đ ọi Thành ỏ Vân Miểu củng nhà Dông vu, Tây vu cùng diện Conh phuc, kho chứa ván in IV/
đồ t ế lễ, nhà Minh Luân, giòiỉg đường đông tây, nhà hiơ đòng tây, phồng học tủ a sinh viên ha xá vờ các nlra, xung quanh xây tưởng hao” [ 3 1, 493].
Năm 1510, đòi Lê Tương Dực, Nguyễn Văn Lang chịu 1 rách nhiộm phụ
trách việc tn'mg tu Quốc Tìr Giám Lổn này “trùng (II $iìng Nho diện à Quổc Tử Giám vờ hai giải vũ, sáu nhà Minh Luân, nhà bếp, phòng kho, cùng làm w ói Ììdi nhà bia bên đông, hên fây, mồi gian đật một {ấm bia hên tả, một tấm hên hữu"
[32, 63 - 641 và dựng bia Tiến S! của các khoa thi năm 1505, 1508.
Diện mạo cùa Văn Miếu thời Lê sơ gổm điện Đại Thành và Dông vu, ТА у
vu là nơi thờ các bộc Ihnnh hiền của đạo Nho, điện Canh Phục là nơi nhà vtia lliĩiy
quổn áo trước khi làm lẽ !ế Kliổng Tử, nơi để đổ tế lễ Quốc Từ Giám bno gổm Cì
nhà Minh Lu.ln, giàng đường dông tây, phồng học của sinh viên ba xá nhà chc bia Tiến sĩ Kho chứa ván in - thư viện cùa trường Giám, tò nơi cung cấp sách học cho kíiồng chỉ học sinh trường Giám mà còn cho cà học sinh của các tnr<Yng ờ các cấp phủ, lộ.
Năm J509, nhà nước quy định sinh viên Quốc Tử Giám, ngưíYi nào thí ỉ lội nhiều lần trúng trường, vào học 15 năm trở lên, tuổi СЯО, Inìng tnròrng nhiổu bin mới được xung Ihm Tlurợng xá sinh, được dãn tuyển bổ dụng các chức Mục (lan Thủ lĩnh, Bạn độc, Trưởng sỉr, Huấn đạo Nếu triing trường nhiếu lán <1à (lù 1.4 năm, mà chưa được sung làm XỂÍ sinh và những người trúng trường I lổn, (lã ein
18 năm (rở lên thì cũng cho báo cử, bổ các chức Cáp môn, Tự ban, Bạn dộc.
Trang 35Trường sử, Giảng dụ Ngay (ừ khi học tại trường Giám, Giấm sinh đã (lược bổ dụng vào các chức quan của nhà nước.
Học tệp tại trường Giám, phải tuân theo nội quy nhà trường, luyện tạp Víĩn bài, đợi khi thành tài để nhà nước hổ dụng Ngày rnm và mùng một hàng Ihíing Giám sinh, Nho sinh, Sinh đổ phải mặc tnũ áo đến điểm mục theo phép (In định Người nào chạy chọt cẩu may, rong chơi ngoài đirờng, bò bễ việc học, (hiếu mộ! lần điểm mục (hì phạt 140 tờ giấy trung chỉ, thiếu 2 lổn thì phạt 200 tờ giấy trung chỉ, thiếu 3 lần thì đấng phạt 40 roi, thiếu điểm1 mục 4 lẩn thì kiểm xét tâu lên cho bộ Hình xét hỏi, thiếu điểm mục 1 năm thì hắt sung quAn đi llính ĐAv là
những quy định được ban ra trong sách Trí bình bào phạm năm 1511.
Thời Mạc, cúc khoa thi Hội vẫn được tổ chức đều đặn Năm Đại Clìínli thứ
7 (1536) nhà Mạc sai Đông quân Đô đốc phủ Tả đô đốc Khiêtrỉ quân công Mạc Đình Khoa (rùng tư Quốc Tỉr Giám Đây là lần trùng tu Văn Miết! duy Iihíít cùn nhà Mạc nhưng sử sấch không ghi rõ những công việc cụ thể trong clợt trùng lu này.
Thời Lê Trung hưng, Văn Miếu - Quốc TÍT Giám tiếp được tu siYn, quy mỏ ngày càng hoàn thiện.
Năm 1645, theo sách Lê triều chiếu linh thiện chính, hiện trạng của Vnn Miếu như sau: “Diện D ại Thành à Quốc Tử Giám (nhà Đợi học của quốc ỹ a ) ró
tả hữu à phía dâng, pììía tây vờ 4 nghi mân Nhà Minh Luân có 2 giảnạ íỉìi'ửnọ phía dâng vờ phía íâỵ, và cửa nghi môn Sùng Nho 4 mội xây tưởng” [29, 167|
Hàng năm việc tu bổ, xây đựng thêm, lát gạch và dọn cỏ, theo lệ CÍÍ lính ở níc
huyện, xã và cấc phường b hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức phải ĩnm “CVír huyện, x ã phụ trách rùng 2 huyện Thợ Xỉtơng vờ Quàng Đức dự đ ể tiền vế cong tác nối trên (chứ không bắt dân chịu) d ể đ õ tổn tiền cho dân” [29, 167]
29
Trang 36Näm 1662, điện dường và Cling tường trong ngoài của nhà Quốc học nhiổii chỗ dột nát hoang râm, Phạm Công Trứ, Lễ bộ Thượng llur kiêm Đỏng СПС dại học sĩ, Thiếu bảo đtrợc giao nhiệm vụ trông coi dân tạo lệ cùa- Quốc Tử c.ỉíim <1Ổ sửa sang nên quy mô, chế độ dần dân lại nhir xưa Phạm Công Trứ cho xíìy <lưng cái nhà nhỏ trôn gò của hồ Văn gọi là Phíín thuỷ đường và làm 10 bài Ihơ vịnh Phán thuỷ để ghi lại cảnh đẹp Cứ đến mùng I và ngày rằm hàng tháng, học Irò lại tập trung về Quốc Tử Giám học tạp.
Vân Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long thời Lê Tning hưng đtrợc Lê Ọný
Đôn mô tả trong Kiến vân tiểu lục khá cụ (hể: “Cửa D ại Thành 3 gian 2 rh/'fi, l</Ị> bang ngói đồng Đông Vìl và Tây vũ mồi dày đều 7 gian Đằng san có rửa Ìĩìỉỏ I gian, diện Canh Phục 1 ginn 2 chái Nhà bếp 2 gian Kho t ế khỉ 3 ginn 2 chái, cửa Thái học 3 gian, cổ ttỉờng ngang ỈỢỊ 1 hằng ngồi đồng Nhà bia phin đôỉiỊị v<) phía (ây mỗi dãy đểu 12 gian Kho â ể ván khắc in sách 4 giơn N goại nghi ntôn ỉ gian xung quanh đắp tườììg c ử a Hành m ỡ ngoài tưởỉig ? gian Nhà Minh Lnrìit 3 gian 2 chái: c ử a nho hên fả và bên hữỉt âều J gian, c:ổ tĩỉởììg ngang Nhà ỳtìn g dạy à phía đông và phía tây 2 dây, môi ổỡy đều 14 gian, Phòng học ( ủa học sinh tam xá ỏ phía dông và phía tây đều 3 àỡy, mỗi dãy 25 giun, nìâi giíin 2 nụi/òi"
[38, 58 - 59]
Tháng 9 năm 1762, Quốc Tử Giám lại được tu sửa Đến năm 1771, lini l.lm bia Hạ mã bằng đá được lập Díi quan lại hay thường díln, dù võng lọng liny xe ngựa, khi đi qua cửa Văn Miếu đều phải xuống đi bộ qua bia Hạ mã mới liếp tục lên ngựa di tiếp để ihể hiện sự tôn kính đối với di tích cũng như dối với Ong tổ của Nho học được íhờ tại đay Cung nãm ấy, Nguyễn Hoàn khi Irông coi Quốc
Tử Giátn đã giài toả bớt nhà ở của cton xây dựa lưng vào hồ Vnn, mỏ rộng, trổng
cây lất đường Ihm cho cảnh nhà Thái học thêm phẩn Irang nghiêm Nám 1785» Bùi Huy Bích lại cho trùng tu nhà Thâi học Có (hể nói dưới thời Lê Tmng hưng.
Trang 37Văn Miếu - Qurtc Tử Giám được quan tftm tu bổ nhiều lán thể hiện Rự qunn líìm cùa Nhà nước đối với Nho giáo và với nển giđo dục của nước nhít.
Để để việc đào tạo nhAn tài có kết quả hơn, Iff năm 1693, các vị Tê lửn, Tư
nghiệp, Gicío thụ, Ngũ kinh bác sĩ ở luôn lại nhà Giổm (lể ngày thirờng luíớug (inII Giám sinh học lập Cứ ngày mùng một, ngày rằm thì tạp làm vân, 4 (háng \ú
trọng thì khảo duyệt y nhir phép thi, ai trúng cao thì cất nhắc trao chức vụ.
Nhíítig buổi bình thơ văn lại Inrờng Giám là những buổi sinh hoại khổng chỉ của Giám sinh Quốc Từ Giám mà còn là sì từ từ các nơi vể kinh dô dự kỳ Ihi Hội cííng có thể đến ghi tên để nghe giang và bình văn Theo mô lả cùa Phạm
Đình Hổ trong Vũ trung iuỳ bút, cứ mồi tháng tnrớc ngày mùng! một và ngày l ầm
một ngày Ihì nhà quốc học có mở một cuộc bình văn Thnm dự cuộc bình vfm có
quan Tri giám ngổi ở chiếu trên, ngồi ờ giữa là quan Tham tụng và Nành Ihnm
tụng, bên dưới là quan Bồi (ụng ngồi Các quan Thị lang, Thnm (lô thì ngổi phía Đông, ngoảnh mặt về phía tfly Còn những ngirời khác dền ngổi phía ТЯу ngoảnh mãi về phía dông Những ngirời dược chọn bình vãn đứng lên đọc bài cùn tnìuli,
“Lúc bĩnh vãn thì tiếng Hoàng Vĩnh Trân rất trong, rất vnììg Tiếm> Ngnytbĩ Cfh(„
rõ ràng, bình dị Lì ù! Tiệp giọng ngắn mà đọc khống rõ Thiền Sưởng íììĩ dọc không nghe ra tiếng gì cỏ Còn cái quyền nhắc Ìêtì hay ổáììh Xĩiống, ỉn у hay hỏ (hì chỉ do Bìu Huy Rích quyết định; thứ đến các quàn nài tụng rung ( ó iìòìỉ h(K , cân nhắc MợỊ trời đihig trưa, quan Tri giám sa i nha dịch hảo lính lệ sửa soạn cơm 1n«ì, CỖ bồn cũng Ịịch sự lắm Cứ lệ thì (lo nhà hếp riêng quan Tri giâm làm
cỗ, mồ tiền thỉ (Ịân lạo ỉệ cung ứng và lấy tiền th u ế cá hổ Hỉty Vàn." [123, 107 -
108], Đay là những miêu tả vể buổi sinh hoạt bình văn (ại Irirôrng Giám của Phạm Đình Hổ vào Ihời kỳ ông (lirợc Iham dự, cuối Ibế kỷ x v i n Điếu liny cho thííy cho đến thời Lê Trung bưng, trường Giám vãn hoạt động đều đặn.
Trang 38Trông coi việc học của truờng Giám từ thời Lý đến hết thời Lê, theo thống
kê chưa đẩy đủ thì có tới 89 vị T ế Tỉm, Tơ nghiệp (tương đương niệu trưởng, Hiệu phó hiện nay) Trong số họ, không ít người là những ngiròi có tên (uổi, đổng góp vào sự nghiệp đào tạo íhế hệ trẻ như: Chu Văn An, Nguyễn Phi Khnnh Nguyễn Nghiễm, Lê Quý Đôn
Bền cạnh Quốc Tỉr Giấm, ở Hà Nội thời kỳ này còn có một số trường dạy
tư nhir trường Ciìc Hiên, trường của Thám hoa Vũ Thạnh, trường cửa Bùi Huy Bích cùng gổp phẩn đào tạo nhiều nho sinh, trí thức.
1 4 Văn Miếu - Q uốc Tử Giám thời Tây Sơn.
Phong trào Tây vSơn là cuộc đấu tranh to lớn của nống đAn đánh (1ổ ntiững thế lực phong kiên trong nước và quân xâm lược, giải phổng đất nước.
Ngiíyễn Huệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người anh hùng ấo Vííi, tiến quân ra Bắc xoá bỏ triều Lê mục nát, tiêu diệt quAn xâm lirợc Mnn Thanh Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Quang Trung Trong phạm vi thống trị Bắc Hà, triều đại Quang Trung đẩ có những chính sách cải ních tiến bộ phần nào dấp ứng yêu cầu phát triển của xã hội bấy giờ, 1 T ÌỜ ra kbn nTìiig phát triển cho đất nước Đây là một triều đại tiến bộ trong lịch sử chế (lộ phong kiến Việt Nam, chỉ (iếc thời gian trị vì của Quang Trung quá ngắn (1788 - 1792) nên nhiều chính sấch liến bộ chưa kịp được Ihực Hiện trong thực tế.
Về văn hoá giáo dục, Quang Trung là vị hoàng clế đề cao chữ Nôm, đirn chữ Nôm vào-thi cử, quan t<1m m ò rộng chế độ giáo dục Lổn dầu tiên, Inrong học được phổ biến xuống lới cấp xã Thầy học do xã chọn, được Nhà nước cấp bằim công nhận.
Tư liệu về Văn Miếu - Quốc Từ Giám thời Tây Sơn không nhiều Rài sớ của nông dân trại Vãn Chương xin vua Quang Trung dựng lại bia Tiến sì liong
Trang 39nhà Giám giiìp chúng ta phổn nào hlnh dung (lược diện mạo Vãn Miếu vào cuni thế kỷ XVIII.
Bài sớ được viết, bằng chữ Nôm vào năm 1789, niên hiệu Quang Trung thứ
2 Những ngirời nông cỉAn trại Văn Chương sống ở khu vực gẩn Quốc Tir Giỉitìì
băn khoăn, đau lòng trước cảnh Văn Miếu - Quốc Tử Giấm bị làn phá dã nhờ Tam nông liên sinh viết bài và dâng sớ, hy vọng đến tay nhà vua để khôi phục iại cảnh xưa.
Phần đẩu bài sớ có miêu tả hiện trạng khu nhà bia của Vấn Miếu Um giữ
83 tấm bia Tiến sĩ được dựng tìr năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đến nãm Cánh Hưng thứ 40 (1779) và khẳng định:
“Đến năm thứ bốn mươi hiệu Cảnh Hưng vua Hiển Tông
Là khoa Kỷ Hợi (1779) cuối cùng hết bia”
Bài sớ có đoạn viết:
“Tính gồm lại số bia trong Giấm
Cả trước sau là tấm mươi ba Dựng theo thứ tự từng khoa Bia kia sáu thước cách xa bia này Nhà bia đủ đông tây mười nóc Vuông bổn bề ngang dọc bằng nhau.
Mỗi bề hai chục thước tàu Cột cao mười thước, có láu chổng (liếm.
Coi thể chế tôn nghiêm có m ột.
Bia dựng đầy bai nóc tnrớc Tấm nóc sai! còn gác lưu không”
Trang 40Ш у là những miêu tả về khu nhà bia trước khi quân ТЯу vSơn vào nắc Thành Vào thời điểm đó, tại nhà bia Văn Miếu có tất cả Ih 83 tấm bia Tiến sĩ So với 82 bia Tiến sĩ hiện còn, ngày nay đã bị mất 1 tấm Tháng 4 nãm 1976, Viện Khảo Cổ học và Sở Vãn hoá thông tin Hà Nội đã khai quạt được I bệ ma clấ chìm dưới lòng hồ bôn phía cửa Bí Văn và ngày 6 tháng 10 năm 1990, hong khi In sửa, cạp lại hồ, lại phát hiện thêm một con rùa đế bia nữa chìm dưới lòng hồ c ả híii
đế bia rùa đều bị vỡ pliổn đẩu và có lỗ để cắm bia trên lưng Điều này clio phép nghĩ rằng số lượng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giấm nhiêu hơn 82 chiếc hiện còn.
Ngoài thông tin về số lượng bia Tiến sT, bài sớ còn cho biếl về hìnli (inng, cách thức nhà che bia được xây dựng tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long vào thế kỷ XVIII Bia được đặt cách nhau khoảng 6 tlurớc (thông llurũng mỗi thước ta bằng 0,40m, khoang 2,4m) Tổng cộng gồm 10 nhà che bia, xây hình vuông, mái chồng diêm Mỗi gian có bề dài, bề rộng bằng nlinu đều 20 thưốc (8m), cao 1.0 thước (4m), vậy mỗi nhà che-bia rộng khoảng 64m2 Líic đố, Van Miếu vãn còn được bảo quản với thể chế tôn nghiêm:
“Cửa ra vào then chốt quan phòng
Ba cơ, bẩy vệ canh trong, quét ngoài”
Khi quân Tây Sơn ra Bắc Thành, do binh lửa, nhà che bia đã bị pha, bia Tiến sĩ đổ ngổn ngang:
“Bia Tiến sĩ vô can, vộ tội
Mà vạ lây vì nỗi cháy thành Bia thì đạp đổ tung hoành Nhà bia thì đốt tan tành ra tro.”