Mục tiêu nghiên cứu Đề tài hướng tới việc tìm được một số biện pháp quản lý của Hiêu trưởng về hoạt động dạy học của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị đáp ứng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KH OA S ư P H Ạ M
NGUYỄN DUY T H ỊN H
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ỏ TRƯỜNG TRƯNG HỌC PHỔ THÔNG NAM LƯƠNG SƠN TỈNH HOÀ BÌNH TRONG QUÁ TRÌNH THựC HIỆN Đ ổ i MỚI
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
LUẬN VÃN THẠC Sĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
C huyên ngành' Q uản lý giáo dục
M ã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PG S TS T rầ n K h án h Đức
HÀ N Ộ I - 2007
Trang 2L Ờ I CẢ M ƠNSau một thời gian nghiên cứu đề tài: “ M ột số biện p h á p q u ả n lý ho ạt động dạy học ở trư ờ n g tru n g học phổ th ô n g N am L ương Sơn tỉn h H oà Bình trong q u á trìn h thự c hiện đổi mới chương trìn h giáo d ụ c phổ th ô n g ” đếnnay đề tài đã hoàn thành, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Khoa sư phạm Đại học quốc gia Hà Nội trong suốt hai năm qua đã đào tạo, rèn luyện học tập.
Với tình cảm chân thành của người học trò tôi xin bày tỏ sự thành kính, lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự quan tâm hướng dẫn, chỉ bảo của PGS.TS.Trần Khánh Đức, người Thầy đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ƠI1 các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí chuyên viên Sở GD-ĐT Hoà Bình, Ban giám hiệu, cán bộ giáo viên, công nhân viên trường THPT Nam Lương Sơn, các đồng chí Quản lý và giáo viên trường THPT Phú Cường tỉnh Hoà Bình đã tạo điều kiện về cơ sở chất, tinh thần trong quá trình khảo sát, thống kê, nghiên cứu luận văn
Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã giúp đỡ tôi khắc phục khó khăn, động viên tôi hoàn thành luận văn
Do khả năng có hạn, thời gian nghiên cứu chưa nhiều, dù bản thân tôi đã có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót trong nội dung luận văn Tôi rất mong được sự chỉ dẫn và góp ý của các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo
Trang 3KÝ H IỆU CỤM T ừ V IẾT TẮ T
CNH-HĐH: Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Trang 4M ỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tà i 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: c ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỂ NGHIÊN cứu 6
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu để tài 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Quản lý 8
1.2.2 Chức năng quản lý và nguyên tắc quẩn lý 11
ỉ 2.2.1 Chức năng quản lý 11
12.2.2 Nguyên tắc quản lý 14
1.2.3 Quản lý giáo d ụ c 16
ỉ 2.4 Biện pháp quản lý chất lượng dạy học 18
1.2.5 Hoạt động dạy h ọ c 19
Ị 2.5.1 Quá trình dạy h ọ c 19
12.5.2 Bản chất của quá trình dạy học 20
ỉ.2.5.3 Hoạt động dạy h ọ c 22
1.2.6 Quản lý hoạt động dạy học 23
ì 2.7 Quản lý nhà trường 24
1.2.7.ỉ Quan niệm nhà trường 24
1.2.7.2 Quản lý nhà trường 25
1.3 Cơ sở lý luận về quản lý nhà trường 29
1.4 Những yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 30
Trang 51.4.1 Lý do của việc đổi m ới 30
1.4.2 Nội dung đổi m ới 32
1.4.2.1 Thời lượng h ọ c 32
ỉ 4.2.2 Chương trình sách giáo khoa 33
ì 4.2.3 Cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên 36
ì 4.2.4 Cơ sở vật chất, thiết b ị 37
Ị 4.3 Quản lý nhà trường trong điều kiện đổi mới giáo dục ph ổ thông 37
Chương 2: TH ựC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NAM LƯƠNG SƠN TỈNH HOÀ BÌNH TRONG QUÁ TRÌNH Đ ổ i MỚI CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ TH Ô N G 43
2.1 Một số đặc điểm về địa lý, dân cư, kinh tế, văn hoá, xã hội ở khu vực trường Trung học phổ thông Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình 43
2.2 Thực trạng hoạt động dạy và học ở trường trung học phổ thông Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình 45
2.2.1 Thực trạng dạy và học 45
2.2.2 Thực trạng các điều kiện dạy và học 57
2.2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động dạy và học ở trường trung học p h ổ thông tỉnh Hoà B ình 59
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học ở trường trung học phổ thông Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông 62
2.3.1 Một vài nét về đội ngũ cán bộ quản lý 62
2.3.2 Thực trạng của công tác quản lý hoạt động dạy và học trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình giáo dục ph ổ thông 63
2.3.2.1 Công tác tổ chức, chỉ đạo xây dựng đội ngũ giáo viên 63
2.3.2.2 Công tác quản lý hoạt động học tập của học sinh 64 23.2.3 Công tác quản lý hoạt dộng dạy và học trong quá trình thực hiện đôi
Trang 62.3.2.4 Đánh giá câng tác quản lý hoạt dộng dạy và học trong quá trình thực
hiện đổi mới chương trình giáo dục p h ổ th ô n g 67
Chương 3: MỘT s ố BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG VỂ H O ẠT Đ Ộ N G DẠY VÀ H Ọ C Ở TRƯ ỜNG T R U N G H Ọ C PH Ổ T H Ô N G NAM LƯ ƠN G SƠN T ỈN H HOÀ BÌNH T R O N G Q U Á T R ÌN H Đ ổ i M Ớ I CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC P H ổ THÔNG 70
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện p h á p 70
3.2 Định hướng phát triển giáo dục phổ thông 71
3.2.1 Các văn bản của Đảng và Nhà nước vê phát triển giáo dục và đào tạ o lị 3.2.2 Chủ trương đổi mới chương trình giáo dục p h ổ thông của Bộ GD-ĐT và hoạt động dạy học của nhà trường 72
3.3 Các biện pháp đề xuất 73
3.3.1 Biện pháp ỉ : Lập k ế hoạch thực hiện đổi mới chương trình giáo dục p h ổ thông 73
3.3.1.ỉ M ục tiêu 74
3.3.1.2 N ội dung 74
3.3.1.3 T ổ chức thực h iện 76
3.3.2 Biện pháp 2: Tập huấn thực hiện đổi mới chương trình giáo dục p h ổ thông 77
3.3.2.ỉ M ục tiêu 77
3.3.2.2 N ội dung 77
3.3.2.3 T ổ chức thực hiện 78
3.3.3 Biện pháp 3: Xây diửĩg và nâng cao chất lượng đội ngũ 78
3.3.3.1 Mục tiêu 79
3.3.3.2 N ội dung 79
3.3.3.3 T ổ chức thực hiện #2
3.3.4 Biện pháp 4: Quản lý việc thực hiện các hoạt động chuyên m ôn 83
3.3.4.ỉ M ục tiêu 83
Trang 73.3.4.2 N ộ i dung 83
3.3.4.3 T ổ chức thực h iệ n 88
3.3.5 Biện pháp 5: Quản lý, chỉ đạo đôi mới và sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học 88
3.3.5.1 M ục tiêu 88
3.3.5.2 N ội dung 88
3.3.5.3 T ổ chức thực h iện 91
3.3.6 Biện pháp 6: T ổ chức thanh tra, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, kiểm tra đánh giá nhà trường và kết quả học tập của học sin h 91
33.6.1 M ục tiêu 91
3.3.6.2 N ộ i dung 92
3.3.6.3 T ổ chức thực h iện 94
3.4 Kiểm chứng nhận thức về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 94
3.4.1 Lấy phiếu ỷ kiến của cán bộ giáo viên nhà trường 95
3.4.2 Khảo sát các s ố liệu tổng hợp qua một s ố năm h ọ c 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến n g h ị 101
TÀI LIỆU THAM K H Ả O 103 PHU LUC
Trang 8M Ở ĐẨU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ 21 thế giới đã chuyển sang nền kinh tế tri thức cùng với
sự phát triển của nhiéu ngành khoa học công nghệ, đặc biệt khoa học công nghệ thông tin, nền giáo dục đang đứng trước những yêu cầu đòi hỏi của thời đại phải đào tạo ra những con người có khả năng sử dụng và phát huy thành quả của nền khoa học tiên tiến của nhân loại Đứng trước những thời cơ và những thách thức mới nền giáo dục thế giới nói chung và nước nhà nói riêng cần có nhũng đổi mới từ mục tiêu trang bị tri thức khoa học sang mục tiêu hình thành và phát triển kỹ năng, năng lực cho người học, đổi mới về nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, về công tác quản lý thì mới có thể đào tạo nguồn nhân lực lĩnh hội được những nguồn thông tin, nguồn tri thức đang thay đổi từng ngày, từng giờ
Cùng với xu thế toàn cầu hoá thì ở nước ta xu thế hội nhập khu vực và thế giới cũng là tất yếu Trong hệ thống giáo dục Quốc dân thì giáo dục phổ thông giữ một vị trí quan trọng trong việc tạo mặt bằng dân trí là cơ sở phân luồng cho các ngành học và hình thành các nguồn nhân lực lành nghề đáp ứng được yêu cầu phát triển của khoa học công nghệ và góp phần xây dựng nền kinh tế, nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Nghị quyết lần thứ 2 của Ban chấp hành TW 2 khoá VIII đã đặt ra nhiệm
vụ cho ngành giáo dục đó là: “ Giáo dục và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X vừa qua Đảng ta lại một lần nữa khẳng định sự cần thiết đổi mới của ngành giáo dục trước sự phát triển nền kinh tế của đất nước “ Phải đổi mới tư duy một cách nhất quán từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu
Trang 9và hệ thống tổ chức, cơ chê' quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với nền giáo dục khu vực và thế giới”.Trong bài diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng Sản Việt Nam có nêu: v ề giáo dục chúng ta phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, thông qua đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Những biện pháp cụ thể là: đổi mới cơ cấu
tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội
Chất lượng giáo dục và đào tạo là một trong những vấn đề đang được quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn phát triển của khoa học-công nghệ và đời sống xã hội hiện đại Một trong những giải pháp quan trọng để quản lý, đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo là xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bao gồm chính sách, cơ chế, các nguồn lực Tuy nhiên đó là tầm vĩ mô, còn tầm vi mô việc nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản của các nhà trường, đây là điều kiện, cơ sở để các nhà trường tồn tại và phát triển Thực tiễn cho thấy chất lượng giáo dục còn phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó yếu tố quản lý nhà trường, quản lý hoạt động dạy học có vị trí then chốt Thực chất công tác quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, công việc được tiến hành thường xuyên, liên tục để thực hiện chỉ thị, nhiệm vụ năm học của nhà trường
Được sự quan tâm của các cấp uỷ đảng chính quyền và nhiều tổ chức xã hội chất lượng giáo dục và đào tạo ở nước ta trong nhiều năm qua nói chung và chất lượng dạy và học nói riêng đã có nhiều tiến bộ được xã hội đánh giá và ghi nhận Trong giáo dục đào tạo nhiều nơi đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân điển hình, tiên tiến Những thành tích đạt được không chỉ về quy mô trường lớp mà đáng kể hơn đó là chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên Cũng trong những năm qua nền kinh tế của nước nhà ta đã có sự chuyển đổi dần sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam bắt đầu hội nhập với thế giới đòi hỏi
Trang 10nền giáo dục phải có những đổi mới Sự hoà nhập nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển chung của xã hội mà nền giáo dục nước nhà nói chung và của tỉnh Hoà Bình nói riêng đang gặp phải những khó khăn nhất định Chất lượng giáo dục và đào tạo còn có một số bất cập về quy mô, về chất lượng về đội ngũ trong đó phải kể đến sự hạn chế vé công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lý chất lượng dạy học nói riêng của các nhà trường trong đó có các trường THPT.
Thực tiễn công tác quản lý giáo dục trong các nhà trường THPT của Tỉnh Hoà Bình đặt ra nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn cần sớm quan tâm và giải quyết Xuất phát từ những lý do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “ M ột số
biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông Nam Lương Sơn Tỉnh Hoà Bình trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông” Qua đề tài này tôi hy vọng được góp một phần
nhỏ bé của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của Tỉnh Hoà Bình nói chung và của nhà trường THPT nói riêng trong công cuộc đổi mới đất nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng tới việc tìm được một số biện pháp quản lý của Hiêu trưởng
về hoạt động dạy học của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị đáp ứng được nhu cầu phát triển giáo dục của địa phương trong quá trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
- Đánh giá thực trạng về hoạt động dạy học và công tác quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường THPT
- Những khó khăn và biện pháp khắc phục khi thực hiện những yêu cầu đổi mới chương trình, phương pháp và sách giáo khoa
- Đề xuất một số biện pháp quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động dạy học của nhà trường, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục trong nhà trường THPT
Trang 114 Khách thê và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình hoạt động dạy học trong môi trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường Trung học phổ thông Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
5 Giả thuyết khoa học
Nếu người Hiệu trưởng tìm ra được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học sẽ có tác dụng nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nhất là trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, thực hiện nhiệm
vụ chính trị trọng tâm của mỗi nhà trường THPT
6 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu và khái quát các văn bản, Nghị quyết của Đảng và nhà nước
về giáo dục, quản lý Nhà nước về giáo dục và những tài liệu lý luận khác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên
- Phương pháp điều tra: Thực hiện chương trình, hồ sơ chuyên môn của giáo viên và hồ sơ của nhà trường
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn: Lấy ý kiến của giáo viên, học sinh
- Phương pháp khảo sát, thống kê: Khảo sát và thống kê các số liệu hàng năm của nhà trường
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết rút kinh nghiệm công tác chỉ đạo quản lý của nhà trường qua từng năm
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương
Trang 12C hương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường
THPT Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
Nam Lương Sơn tỉnh Hoà Bình trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 13Chương 1: c ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỂ NGHIÊN CŨXJ
1.1 V ài nét về lịch sử Iighicn cứu dé tài
Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đặc biệt công nghệ thông tin đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội Cùng với xu thế toàn cầu hoá, phát triển nền kinh tế tri thức đã và đang đặt ra cho ngành giáo dục những yêu cầu mới nhằm đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, của toàn cầu hoá Các xu thế phát triển giáo dục là tất yếu của lịch sử, bởi chịu chi phối của các quy luật khách quan, mà một trong những xu thế quan trọng nhất đó là xu thế bồi dưỡng, phát triển và khai thác nguồn tài nguyên tri thức vô hạn của con người
Xuất phát từ những thời cơ và thách thức của xu thế toàn cầu hoá Đảng và nhà nước ta hiện nay đã định ra đường lối, chiến lược phát triển kinh tế, giáo dục
từ nay đến năm 2020 nhằm đưa nước ta phát triển thành một nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó mà đại hội Đảng khoá VIII đã đề ra, cần khai thác và sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó nguồn lực con người là quý báu nhất và có vai trò quyết định, đặc biệt khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất của nước ta hiên nay còn hạn hẹp
Nguồn lực con người đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghộ hiện đại
Ngoài việc định ra đường lối chiến lược phát triển kinh tế, giáo dục để tiến tới CNH, HĐH đất nước phải có những hoạch định về giải pháp phù hợp
để thực hiện chiến lược phát triển đất nước, đuổi kịp với xu thế phát triển chung của thế giới, đó là:
- Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục- đào tạo
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, đó là nhân tô quyết định đến chất lượng của giáo dục
- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục- đào tạo và tăng cường
cơ sở vật chất các trường học
- Đổi mới công tác quản lý giáo dục- đào tạo
Trang 14Quán triệt các quan điểm chỉ đạo và những định hướng đổi mới được thể hiện trong các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục dã tiến hành đổi mới nhàm đưa giáo dục phổ thông phát triển tiếp cận với nền giáo dục của các nước phát triển, đáp ứng được yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước Đổi mới công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lý một nhà trường nói ricng được coi là một khâu đột phá, bởi đổi mới công tác quản lý giáo dục chính là cơ sở quyết định chất lượng giáo dục và tăng cường các nguồn lực cho đất nước trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Việc quản lý hoạt động dạy học của các nhà trường THPT trong quá trình thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa được đề cập từ năm học 2000-
2001 Từ năm 2000 đến nay Bộ GD-ĐT đã ban hành nhiều văn bản và tài liệu hướng dẫn, tổ chức nhiều hội thảo ở nhiều cấp độ về việc thực hiện đổi mới chương trình, thay sách giáo khoa trong đó chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy Về nội dung này có nhiều tác giả đã đề cập trong đó có tác giả Nguyễn Kỳ với cuốn “Phương pháp giảng dạy tích cực”, tác giả Trần Kiều với cuốn “Đổi mới kiểm tra đánh giá”, Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Chung, Nguyễn Thị Sơn với cuốn “ Phương pháp, phương tiện kỹ thuật và hình thức tổ chức dạy học trong nhà trường”, v ề lĩnh vực quản lý nhà trường, quản lý dạy học ít được đề cập, trong khi công tác quản lý đóng một vai trò quan trọng, trong tập bài giảng “Cơ sở khoa học quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã nêu vai trò của người quản lý đó là: Vai trò liên nhân cách, vai trò thông tin và vai trò quyết định VI vậy trong một nhà trường thì người quản lý với vai trò và kỹ thuật quản lý của mình sẽ góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất lượng dạy học Hiện tại có một số luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục cũng đã đề cập tới nội dung này như : “Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông Hiệp Hoà số 2 tỉnh Bắc Giang” của tác giả Đồng Duy Hiển, “ Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của hiệu trưởng các trường trung học phổ thông huyện Vĩnh Lộc- Thanh Hoá” của tác giả Nguyễn Văn Tinh, “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu qua công tác thanh tra toàn diện trường trung học phổ thông tỉnh Bắc
Trang 15Giang” của tác giả Nguyễn Tiến Quang Riêng luận văn của tác giả Nguyễn 'riến Quang chỉ đé cập một mặt, một lĩnh vực của hoạt động dạy học Tuy các luận văn cũng đã đề cập tới các hoạt động chuyên môn trong các nhà trương nhưng điều kiện thực tiễn ở các nhà trường phổ thông khác nhau thì cách làm
và hiộu quả sẽ khác nhau Thực tiễn đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
ở nước ta sẽ là tất yếu trong giai đoạn hiện nay, cho nên Bộ GD-ĐT ngoài việc tập trung đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay thì cũng nên quan tâm về việc đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý như chỉ thị 40 CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí thư TW Đảng đã yêu cầu
1.2 Một số khái niệm co bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm cùng với sự phát triển của xã hội loài người, chỉ có điều nó mới chính thức được coi là một khoa học quản lý Hoạt động quản lý là một tất yếu khách quan nó hình thành và phát triển trong quá trình vận động và phát triển của xã hội Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật, tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô cho đến tầm vi mô Có nhiều cách tiếp cận nên có thể có nhiều cách quan niệm khác nhau về quản lý
Quản lý theo từ điển tiếng Việt là “tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan” (Từ điển tiếng Việt thông dụng Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành NXB Giáo dục 2005, trang 616)
Theo từ điển tiếng Việt năm 1992- Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội- Việt nam: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến”
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đên
Trang 16khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
* Quan điểm của một số tác giả nước ngoài
F.W Taylo (1856-1915) người đề xuất thuyết “Quản lý khoa học” cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
Còn theo Harold Kootz thì lại khẳng định: “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm(tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”
Theo V.G Afanaxev: Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho tập thể lẫn cá nhân
Theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard: Quản lý như một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác
để hình thành các mục đích tổ chức
Theo Kax Mac: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến một sự chỉ đạo để hoà những hoạt động các nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh
từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của n ó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”
* Quan điểm của một số tác giả trong nước
Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liết kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu, các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng để tạo hiệu quả quản lý”
Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong
Trang 17điều kiện biến động của môi trường”
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”
Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học
và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ”
Theo Phan Văn Kha, trong hoạt động giáo dục, quản lý được hiểu là “quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định”
Ngày nay hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra
Những quan niệm của các tác giả tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
- Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể liên tục nhiều lần
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động
Trang 18Như vậy có thể khái quát: Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đổng người để đạt dược các mục tiêu đé ra một cách hiệu quả nhất Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lý phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội.
Bản chất của quản lý là một loại lao động để điều khiển lao động Bản chất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản
lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả mong muốn
Xã hội càng phát triển các loại hình lạo động càng phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hiệu suất lao động
Hoạt động quản lý chỉ đạt hiệu quả khi nó tạo ra được một tổng thể hợp lý
từ nhiều cá nhân và tư liệu sản xuất của tổ chức, xã hội Yêu cầu của tổng thể của tổ chức mang tính khách quan, đòi hỏi các nhà quản lý phải xác lập được mục tiêu rõ ràng và biết điều hành hệ thống đích Muốn vậy người quản lý phải hiểu được sơ sở lý luận và vân dụng nó vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể Có kỹ năng , kỹ thuật để có thể chỉ đạo, đánh giá công việc của cấp dưới; có kỹ năng làm việc để giao đúng người, đúng việc, tập hợp mọi người cùng đồng thuận
1.2.2 Chức nàng quấn lý và nguyên tấc quẩn lý
/ 2.2.1 Chức пйпц (Ịiưíti lý.
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua
đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu xác định Có nhiều nhà khoa học và quản lý quản lý thực tiễn đưa ra những quan điểm khác nhau về chức năng quản lý nhưng về thực chất các hoạt động
có những bước đi giống nhau để đạt tới mục tiêu Ngày nay có thể có những tác giả trình bày chức năng quản lý theo những quan điểm phân loại khác nhau nhưng nền tảng của vấn đề vẫn là 4 chức năng cơ bản theo quan điểm quản lý hiện đại đó là: Kế hoạch- Tổ chức- Chỉ đạo- Kiểm tra
Trang 19- Chức năng kế hoạch hoá: Là quá trình xác định các mục tiêu phát triển giáo dục và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đó Đây là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý, nó có vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý và là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị
và từng cá nhân
Như vậy kế hoạch hoá là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác
kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện pháp thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu của tổ chức
- Chức năng tổ chức: Là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đề ra Đây là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý nó có vai trò thực hiện hoá các mục tiêu của tổ chức và đặc biệt nó có khả năng tạo ra sức mạnh mới của
tổ chức, cơ quan, đơn vị thậm chí sức mạnh mới của nó có thể mạnh hơn nhiều lần so với khả năng vốn có của nó nên người ta còn nhấn mạnh vai trò này bằng tên gọi “hiệu ứng tổ chức”
- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới mục tiêu với chất lượng cao Nó là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý có vai trò cùng với chức năng tổ chức thực hiện hoá các mục tiêu Chức năng chỉ đạo được xác định từ việc điều hành
và hướng dẫn các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu có chất lượng và hiệu quả, Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh hưởng của chủ thể quản lý tới những người khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà trường thành nhu cầu của cán bộ công chức, trên cơ sở đó mọi người tích cực tự giác và mang hết khả năng làm việc Do vậy chức năng chỉ đạo là cơ sở phát huy các động lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả của các hoạt động
- Chức năng kiểm tra: Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức Chức năng kiểm tra là chức
Trang 20năng cuối cùng của một quá trình quản lý có vai trò giúp cho chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức đẹô tốt, vừa, xấu như thế nào, đồng thời cũng biết được những quyết định quản lý ban hành có phù hợp hay không, trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp đỡ hay thúc đẩy các
cá nhủn, tập thể đạt tới các mục tiêu xac định Chức năng kiểm tra là một chức năng quan trọng không thể thiếu được trong quá trình quản lý vì kiểm tra trong quả lý là quá trình xem xét thực tiễn để thực hiện các nhiệm vụ đánh giá thực trạng, khuyến khích những nhân tố tích cực, phát hiện những sai lệch đưa ra những quyết định điểu chỉnh giúp các đối tượng hoàn thành nhiệm vụ và góp phần đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới một trình độ cao hơn Với chức năng như vậy thì kiểm tra không chỉ đơn thuần là chức năng cuối cùng trong một quá trình quản lý mà còn là tiền đề cho một quá trình quản lý mới tiếp theo
Quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Song trong thực tế các chức năng này đan xen nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện Trong khi tổ chức thực hiện kế hoạch người quản lý phải tổ chức kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện, khi phát hiện sự sai lệch, bất hợp lý của kế hoạch thì đồng thời điều chỉnh kế hoạch kịp thời Chất xúc tác và liên kết các chức năng này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý Các chức năng cơ bản của quản lý tạo thành quá trình quản lý và chu trình quản lý được thể hiộn bằng sơ đồ sau:
Chức năng và chu trình quản lý
Trang 21ỉ 2 2 2 Ni Ị i i y én t ắ c (Ịitán /v.
* Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý:
Nguyên tắc này xuất phát từ chỗ nền giáo dục Việt Nam là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo Đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội, do đó đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm vững, quán triệt quan điểm của Đảng về giáo dục; nghiêm túc, kiên trì tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng biến đường lối thành hiện thực Tóm lại nguyên tắc chính trị là yếu tố tác động mạnh mẽ tới hoạt động quản lý đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý
là nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa chính trị và quản lý, đây là quan trọng bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng về giáo dục
* Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý:
Đây là nguyên tắc được xây dựng trên cơ sở những quy định của pháp luật
và các chế tài pháp lý Trong quản lý giáo dục tính pháp lý dựa trên luật giáo dục, điều lệ nhà trường, các chỉ thị, nghị định các văn bản hướng dẫn của chính phủ, của Bộ giáo dục đó là hành lang pháp lý để nhà quản lý thực hiện các chức năng quản lý Hoạt động quản lý không dựa trên cơ sở pháp lý nên quyết định tuỳ tiện dẫn đến sai phạm và kém hiệu quả
* Nguyên tắc đảm bảo tính tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc bảo đảm thống nhất cao trong tổ chức, có sự kết hợp chặt chẽ giữa quyền lực của chủ thể quản lý với sức sáng tạo của đối tượng quản lý đó là các nhân trong tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu quản lý
Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống được tập trung vào quyền lực cao nhất và được thể hiện trong cơ chế một thủ trưởng Tính tập trung mang tính quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ thể quản lý trong điều kiện cần thiết và hoàn toàn chịu trách nhiệm về những quyết định của mình
Dân chủ trong quản lý được hiểu là phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong đơn vị, tổ chức, dân chủ được thể hiện trong việc các thành viên đều được tham gia xây dựng các mục tiêu, kế hoạch và các biện pháp thực
Trang 22hiện các mục tiêu xác định.Thực hiện công khai, cung cấp đầy đủ thông tin kịp thời để mọi người trong đơn vị được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra giám sát
Trong quản lý đảm bảo tính tập trung dân chủ là sợ kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ bởi vì nếu thiên về tập trung sẽ dẫn đến độc đoán chuyên quyển không phát huy được tính sáng tạo của mỗi cá nhân, tính tập thể cùng nhau thực hiện mục tiêu chung, ngược lại nếu thiên về tính dân chủ dẫn đến tự
do quá trớn, kỷ luật lỏng lẻo hay gây mất đoàn kết, công việc khó hoàn thành Một đặc trưng quan trọng của nguyên tắc này là sự phân cấp quản lý thích hợp,
sự uỷ quyền này kèm theo những vấn đề tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyển hạn và thẩm quyền
* Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học:
Đảm bảo tính khoa học trong công tác quản lý, người làm công tác quản
lý phải biết vận dụng quy luật khách quan, tri thức khoa học quản lý vào quá trình tổ chức điều hành các hoạt động Làm tốt công tác dự báo, biết phân tích, tổng hợp các sự kiện, phát hiện các xu hướng phát triển Phải am hiểu các đối tượng quản lý Tức người quản lý hiểu tường tận về tính chất, nguyên tắc tổ chức các hoạt động, các quá trình, đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng quản lý đ ó là một trong những điều kiện quan trọng để làm cho người quản lý có khả năng điều hành công việc một cách thành thạo
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình khoa học khi ra một quyết định hoặc xử lý thông tin Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đều phải xây dựng kế hoạch và hình thành cho con người dưới quyền thói quen làm việc có kế hoạch
* Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả:
Chất lượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả quản lý Hiệu quả của công tác quản lý được tính trên cơ sở thực hiện các mục tiêu với những chi phí nhất định về nguồn lực cho phép (nhân lực, vật lực, tài lực) sao cho đạt kết quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất
Trang 23Đc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi người làm công tác quản lý khi đưa
ra các quyết định quản lý cần tính đến hiệu quả của chúng và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn bởi chỉ chú trọng đầu tư thật nhiều về nguồn lực trong một lĩnh vực nào đó nhưng quên đến tính hiệu quả thì rất có thể việc đầu tư như vậy trở nên thừa
- Quản lý giáo dục là tập hợp những biộn pháp kế hoạch hoá nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả số lượng và chất lượng
- Quản lý là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp cho cộng đồng được ổn định và phát triển, giáo dục là một bộ phận của kinh tế-xã hội,
hệ thống giáo dục, mạng lưới nhà trường là bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội, do vậy: Quản lý giáo dục là quản lý một loại quá trình kinh tế-xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hoà sự phân hoá xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
- Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công lác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt kết quả mong muốn
- Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã
Trang 24hội chủ nghĩa Việt Nam mà ticu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế
hệ trỏ, đưa hệ giáo dục tới mục ticu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất
- Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau lên tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng
Cúc quan điểm tuy có khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều toát lên bản chất của quản lý giáo dục đó là: Sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản
lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục ở cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định
Sự thực khái niệm QLGD có nhiều cấp độ, ít nhất có 2 cấp độ chủ yếu: Cấp vĩ mô và cấp vi mô
Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là nhức động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp độ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là các nhà trường), nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngành giáo dục
Đối với cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có hộ thống, hợp quy luật), của chủ thể quản lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là các nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đã đặt ra cho ngànhgiáo dục
Đối với cấp vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha
mẹ học sinh và các lực lượng trong và ngoài xã hội
Nói một cách đầy đủ hơn QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điêu hành
hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện nâng cao dân trí,
Trang 25đào tạo nhân lực, bổi dưỡng nhân tài, là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội QLGD chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và có những đặc trưng sau:
+ Sản phẩm của giáo dục là nhân cách, là sản phẩm đặc thù nên QLGD không dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không được phép tạo ra phế phẩm
+ QLGD phải chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm và lao động xã hội nói chung
+ Trong QLGD các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý hoạt động dạy học đan xen nhau, không thể tách rời nhau mà tạo thành hoạt động QLGD thống nhất
+ Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng nên QLGD quán triệt quan điểm quần chúng
1.2.4 Rỉệìì pháp quản /ý chất lượng dạy học
Trong bất cứ một hoạt động nào của con người đều nhằm thực hiện một mục đích, mục tiêu xác định Để đạt được mục tiêu có thể có nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau, tương tự như vậy trong giảng dạy đó là công việc thực hiện một hình thức, một phương pháp dạy học thích hợp với đối tượng với điều kiện thực tiễn của nhà trường để mang lại hiệu quả cao nhất Trong cách tiếp cận này biện pháp được coi là một cách thức tổ chức để thực hiện một yêu cầu, hay một nhiệm vụ đặt ra, nhằm đạt được mục tiêu xác định một cách hiệu quả Với cách hiểu như vậy biện pháp là cách thức tổ chức các hoạt động có phạm vi hẹp hơn là một giải pháp, bởi vậy để thực hiện giải quyết một vấn đề đặt ra có thể cần đề cập nhiều các biện pháp nhỏ trong một giải pháp
- Khái niệm biện pháp: Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp được hiểu là:
“Cách làm, cách thức tiến hành” ( Từ điển tiếng Việt thông dụng Nguyễn Như
Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành NXB Giáo dục 2005, trang 67)
- Biện pháp quản lý được hiểu là: “Cách giải quyết một vấn đề cụ thể trong quản lý, biện pháp quản lý phản ánh được một phần của một giải pháp trong quản lý”
Trang 26- Biện pháp quản lý chất lượng dạy học được hiểu là những cách giải quyết cụ thể nhằm quản lý hoạt động dạy và học để đảm bảo tính hiệu quả của
nó, bao gồm:
+ Quản lý chương trình: Thông qua văn bản chỉ đạo hướng dẫn, phân phối chương trình, thời khoá biểu, kế hoạch giảng dạy, bài soạn, sổ dự giờ, hồ sơ chuyên môn, các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập Việc quản lý chương trình được theo dõi, kiểm tra thường xuyên theo kế hoạch kiểm tra định kỳ hay đột xuất
+ Quản lý chất lượng: Bao gồm chất lượng hồ sơ, chất lượng sinh hoạt chuyên môn, chất lượng giờ dạy, chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi Việc kiểm tra đánh giá chất lượng được dựa trên các hệ thống văn bản pháp quy đánh giá xếp loại, dựa trên các tiêu chí đánh giá được xây dựng trong năm học và được thông qua trong hội nghị công nhân viên chức đầu năm học của nhà trường
1.2.5 H oạt động dạy học
1.2.5.ỉ Quá trình dạy học
- Quá trình dạy học là quá trình kết hợp giữa hoạt động dạy và học để thực hiện nhiệm vụ dạy học, trong đó người thầy đóng vai trò chủ đạo là người định hướng, tổ chức, điều khiển việc tiếp nhận tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhận thức và thực hành của học sinh, còn người trò tiếp nhận tri thức một cách tích cực, chủ động, sáng tạo Việc giảng dạy và học tập được hiểu là hai mặt của một quá trình bổ sung cho nhau, chế ước lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
là động lực bên trong của mỗi chủ thể phát triển tạo ra hoạt động dạy học với
tư cách là quá trình toàn vẹn, tích hợp và thống nhất
- Quá trình dạy học là một quá trình xã hội, quá trinh sư phạm đặc thù là một
hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: Tri thức khoa học, học và dạy Tri thức khoa học là nội dung của bài học và là đối tượng của sự lĩnh hội bởi học sinh Nó là yếu tố khách qua nhất, quyết định lôgic của bản thân quá trình dạy học Hoạt động dạy học là yếu tố khách quan thứ hai quy định về mặt lôgic của quá trình dạy học về mặt lý luận, nghĩa là trình độ trình độ trí dục và quy luật lĩnh hội của học sinh có ảnh hưởng quyết định đến việc tổ chức quá trình
Trang 27dạy học Hoạt động dạy học gồm hai chức năng thống nhất với nhau: lĩnh hội
và tự điều khiển Dạy phải xuất phát từ tính khoa học của tri thức, của khái niệm và sự tự lĩnh hội của học sinh rồi tổ chức hoạt động cộng tác giữa giáo viên, học sinh, đảm bảo cho học sinh tự giác, tích cực và sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành và phát triển nhân cách
Sơ đồ 1 : Q u á trìn h dạy học
Tóm lại quá trình dạy học là quá trình chủ đạo truyền đạt, tổ chức, điều khiển của thầy, quá trình chủ động lĩnh hội, tự điều khiển của trò thông qua các hoạt động cộng tác có sự tương tác với môi trường
ỉ 2.5.2 Bản chất của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới sự tổ chức chỉ đạo của người thầy, là quá trình có tính hai mặt: Dạy và học Quá trình dạy có hai nhân tố trung tâm: Hoạt động dạy và hoạt động dạy Hai hoạt động này tác động qua lại lẫn nhau, là hai mặt của một quá trình thống nhất Trong hoạt động dạy học có một quá trình rất quan trọng đó là quá trình nhận thức, quá trinh này tuân theo một quy luật, nhận thức bắt đầu từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là nhận thức hiện thức khách quan Quá trình nhận thức diễn ra theo hai con đường ngược chiều đó là từ cụ thể đến trừu tượng, từ đơn giản đến khái quát và ngược
Trang 28lại Quá trình nhận thức của học sinh là quá trình phản ánh thế giới vào trong đầu học sinh Với tư cách là một thực thể xã hội có ý thức, học sinh có khả năng phản ánh đúng bản chất về những quy luật của thế giới khách quan về hình thức, mỗi học sinh có hình thức phản ánh riêng của minh, có cách xây dựng khái niệm, những cấu trúc lôgic của riêng mình Điểu này chứng tỏ rằng dưới sự tổ chức điều khiển của người giáo viên, với năng lực của bản thân học sinh có khả năng nhận thức đúng đắn thế giới khách quan Quá trinh nhận thức của học sinh là quá trình độc đáo với quá trình nhận thức chung của loài người,
đó là sự tái tạo tri thức của loài người trong bản thân học sinh, nguồn tri thức này đã được các nhà khoa học phải mất công tìm tòi, khám phá trong một thời gian dài Trong quá trình học tập ở nhà trường học sinh nắm vững một cách thuận lợi những cơ sở khoa học của môn học không phải trải qua con đường nhận thức quanh co đường vòng Quá trình nhận thức của học sinh còn thể hiện độc đáo ở tính giáo dục của nó, nghĩa là trong quá trình nhận thức thông qua việc nắm tri thức, kỹ năng kỹ xảo, phát triển trí tuệ, học sinh hình thành dần cơ sở thế giới quan khoa học và bồi dưỡng phẩm chất nhân văn của con người Điều này đã thể hiện quy luật thống nhất, biộn chứng giữa dạy học và giáo dục
Quá trình dạy học là một quá trình toàn vẹn, trong đó các nhân tố tác động lân nhau theo quy luật riêng, quy định lẫn nhau tạo nên sự thống nhất biện chứng:
- Giữa dạy với học
- Giữa truyền đạt với điều khiển trong dạy
- Giữa lĩnh hội và tự điều khiển trong học
Quá trình dạy học là quá trình hoạt động cộng đồng hợp tác giữa chủ thể thầy với cá thể học sinh, giữa học sinh với học sinh, giữa thầy với nhóm học sinh Quá trình này là yếu tố duy trì và phát triển sự thống nhất của quá trình dạy học, vì vậy dạy tốt, học tốt là đảm bảo được sự thống nhất của điều khiển,
bị điều khiển, tự điều khiển và mối liên hệ ngược thường xuyên, bền vững
Trang 29Vậy bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn, là một hoạt động cộng đồng hợp tác Công tác quản lý nhằm tổ chức, chỉ đạo thực hiện quá trình dạy học diễn ra có sự phối hợp, cộng tác của cả thầy và trò cùng tham gia vào hoạt động nhận thức, điều đó sẽ góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường phổ thông
ỉ 2.5.3 Hoạt dộng dạy học
Theo thuyết hoạt động, dạy học gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau tồn tại trong một quá trình thống nhất
Hoạt động dạy: Là sự tổ chức, điểu khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy học được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của học sinh giúp học sinh hình thành các kỹ năng, thái độ để tiếp nhận các kiến thức một cách nhanh và hiệu quả Hoạt động dạy học có chức năng kép là truyền đạt, tiếp nhận thông tin ngược và điều khiển hoạt động học
Hoạt động học: Là quá trình học sinh tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh tri thức khoa học, hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách Vai trò
tự điểu khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo dưới sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của thầy nhằm chiếm lĩnh tri thức Khi chiếm lĩnh tri thức học sinh đồng thời đạt được ba mục đích thành phần đó là: tiếp nhận tri thức khoa học, phát triển năng lực trí tuệ và hình thành phẩm chất, nhân cách học sinh
Hoạt động học có hai chức năng: Lĩnh hội và điéu khiến quá trình chiẽm lĩnh tri thức, các khái niệm một cách tự giác, tích cực Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, phương pháp đặc trưng của bộ môn, với phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến tri thức của nhân loại thành những kiến thức của bản thân, hình thành và phát triển năng lực của con người theo đúng mục tiêu giáo dục
Trang 30Như vậy hoạt động dạy học là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang ý nghĩa xã hội Chủ thể của hoạt động này tiến hành các hoạt động khác nhau, nhưng không phải là đối lập nhau mà song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trinh thống nhất Kết quả học tập của học sinh được đánh giá không chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn là kết quả của hoạt động dạy Kết quả dạy của thầy không thể được đánh giá tách rời kết quả học tập của học sinh Hoạt động dạy học diễn ra trong quá trình dạy học, vốn là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục tổng thể nhưng có những đặc điểm riêng, do đó muốn nâng cao chất lượng hoạt động của quá trình này cần phải nghiên cứu kỹ về lý luận dạy học
1.2.6 Quản lý hoạt động dạy hục
* Chức năng quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường
Chức năng quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường là những nhóm nhiệm vụ quản lý khác nhau của tập hợp các nhiệm vụ cụ thể về quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường Bao gồm 4 nội dung:
- Xây dựng kế hoạch quản lý dạy học
- Chỉ đạo thực hiện
- Tổ chức thực hiện hoạt động dạy học
- Kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học
* Nội dung cơ bản quản lý hoạt động dạy và học trong nhà trường
Xây dựng và quản lý kế hoạch dạy học Kế hoạch dạy học là một bộ phận của kế hoạch năm học, trong đó bao hàm các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu, nhiệm vụ trọng tâm, nhiệm vụ cụ thể, biện pháp tổ chức thực hiện, chương trình thực hiện, thời gian, tiến độ và phân công thực hiện, được cụ thể hoá trong từng tháng, từng tuần Kế hoạch dạy học của nhà trường được triển khai trong các kế hoạch của tổ, nhóm chuyên môn và cá nhân Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ, nhóm chuyên môn có trách nhiệm giám sát, đôn đốc cấp mình phụ trách thực hiện theo đúng kế hoạch
* Tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động dạy và học
Trang 31Thông qua các hoạt động dự giờ thăm lớp, kiểm tra khảo sát chất lượng đáu năm, kiểm tra thường xuyên hay định kỳ theo phân phối chương trình, kiểm Mục đích kiểm tra nhằm đánh giá đúng ý thức và năng lực hoạt động của giáo viên, chất lượng hoạt động dạy học, đồng thời phát hiện những điểm yêu của công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện để có biện pháp điều chỉnh, uốn nắn kịp thời, tránh dẫn đến tình trạng sai sót dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Biện pháp kiểm tra được áp dụng theo hình thức kiểm tra thường xuyên như các loại hồ sơ chuyên môn, ý thức ra vào lớp, ý thức giảng dạy trên lớp, kiểm tra toàn diện, hay tổ chức kiểm tra dự giờ đột x u ất
1.2.7 Quàn lý nhà trường
1.2 7.1 Q 1 1 ( 1 1 1 n iệ m ví' nhủ trường.
Mỗi con người được sinh ra và lớn lên đều phải được hưởng thụ môi trường giáo dục gia đình, xã hội và nhà trường
- Giáo dục gia đình mang tính chất trội về giáo dục đạo đức, tình cảm,
nề nếp gia phong, họ tộc; cách ứng xử phù hợp với quy định của họ tộc
- Giáo dục xã hội quam tâm vềgiáo dục pháp luật, các quyền và trách nhiệm của công dân đối với xã hội, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc
- Giáo dục nhà trường ngoài giáo dục đạo đức, tình cảm, pháp luật, lòng
tự hào và truyền thống thì giáo dục nhà trường trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, tối thiểu để có thể sống tự lập Do nhiệm vụ của nhà trường trang bị cho học sinh những kiến thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội nên giáo dục nhà trường trội về phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học và hệ thống giá trị định hướng cho hình thành và phát triển nhân cách.Nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống xã hội VI vậy nó luôn luôn có mối quan hộ qua lại và tác động với môi trường xã hội Tác giả Đặng Quốc Bảo: “ Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội thực hiện chức năng tạo nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân tương lai Với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất
kỳ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương” Đồng thời tác giả
Trang 32còn cho rằng: “Nhà trường của thế kỷ XXI là nhà trường của nền kinh tế tri thức, của xã hội tri thức, vì vậy việc tổ chức và quản lý nhà trường phải dựa trên cơ sở “động”, biết học hỏi để phát triển”
Các thế hệ trẻ nhờ giáo dục nhà trường mà phát triển năng lực, phẩm chất cá nhân để có nhiều cư hội tìm kiếm việc làm, nuôi sống bản thàn, gia đình và góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội
Nhà trường Việt Nam là nhà trường phát triển theo định hướng XHCN
có tính nhân dân, tính dân tộc, tính khoa học, tính hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Hoạt động của nhà trường theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội
/.2 7.2 Q n ứ n lý ỉilìà trườnạ.
Quản lý nhà trường chính là bộ phận của quản lý giáo dục Tác giả Phạm Minh Hạc: “Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy và học, tức làm sao cho hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục” Ông cũng cho rằng: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng học sinh”Theo tác giả Hà Sĩ Hồ : “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ chức được hoạt động dạy học, thực hiện được tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục”
Theo M.I.Kônđacốp : “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng
ta hiểu quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội-sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu các mặt xã hội- kinh tế, tổ chức-sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”
Trang 33Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý trường học là một hệ thống các tác động sư phạm hợp lý có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh
và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường huy động và phối hợp sức lực trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến”
Xét một cách chung nhất, quản lý nhà trường phổ thông thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục Hoạt quản lý của nhà quản lý là làm cho hệ thống các thành
tố vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau đưa đến kết quả mong muốn
Quản lý nhà trường thực chất là quá trình quản lý lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập - tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học
Quản lý nhà trường theo nghĩa hẹp có thể hiểu là quản lý tất cả các hoạt động diễn ra trong nhà trường, đảm bảo đưa chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt được mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo của cấp học trung học phổ thông đã xác định của nhà trường Theo điếu 58 Luật giáo dục quản lý nhà trường bao gồm:
Quản lý công tác tuyển sinh và quản lý người học
Quản lý mục tiêu, chương trình giáo dục
Quản lý hoạt động dạy và học
Quản lý con người tham giáo các hoạt động dạy và học
Quản lý cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ hoạt động dạy và học
Quản lý kiểm định chất lượng giáo dục
Định hướng phát triển giáo dục của Đảng ta đã chỉ ra đặc điểm chủ yếu các nhiệm vụ và các đặc trưng về mục tiêu quản lý nhà trường THPT Hiệu trưởng với vai trò là nhân tố quyết định hiệu quả quản lý nhà trường, căn cứ vào nhiệm vụ năm học và thực tế của nhà trường để có sự quản lý phù hợp, nâng cao hiệu quả giáo dục của nhà trường
Trang 34Trách nhiệm của hiệu trưởng trong việc quản lý của nhà trường được quy định tại điểu 19- Điều lộ trường phổ thông với nội dung: Hiệu trưởng là thủ trưởng trường học, đại diện cho nhà trường về mặt pháp lý, có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong trường, chịu trách nhiệm trước Bộ Giáo dục, tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường.
Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng các nhà trường được quy định cụ thể tại điều 19- Điều lệ trường phổ thông:
- Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các nghị quyết của Hội đồng trường được quy định tại khoản
2 điều 20 của điều lệ;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá, xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên, theo quy định của Nhà nước; quản
lý hồ sơ thuyể dụng giáo viên, nhân viên;
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ và ký quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ GD-ĐT;
- Thực hiộn các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường
- Được đào tạo nâng cao trình độ, bỗi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật;
- Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ nhiệm vụ được quy định tại khoản 1 của điều này
Trên cơ sở nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng được quy định trong điều lệ vì vậy trong tổ chức nhà trường hiệu trưởng cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Trang 35- Xây dựng kế hoạch công tác và chỉ đạo thực hiện kế hoạch công tác hàng năm của nhà trường, duyệt kê hoạch công tác của tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, nhân viên nhà trường; ấn định lịch công tác hàng tháng, hàng tuần, phối hợp điều hoà các hoạt động giáo dục trong trường.
- Chấp hành nghiêm túc những quy định về quyền làm chủ tập thể của giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh, phát huy tính tích cực của họ trong mọi hoạt động giáo dục
- Quản lý công tác của giáo viên, cán bộ nhân viên theo kế hoạch đã đăng
ký, có chế độ thường xuyên kiểm tra giáo viên trong giảng dạy, lao động sản xuất, hoạt động xã hội và các hoạt động khác, dự sinh hoạt đoàn thanh niên theo yêu cầu của tổ chức đó để đánh giá kết quả đào tạo, phát hiện những sai sót để kịp thời điều chỉnh, uốn nắn đánh giá và ghi nhận nhận xét định kỳ giáo viên, cán bộ nhân viên theo thể lệ quy định
- Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ nhân viên thành một tập thể đoàn kết, tổ chức nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, giáo viên và nhân viên; chãm lo cải thiện đời sống vật chất cho cán bộ giáo viên
- Chỉ đạo công tác quản trị hành chính của nhà trường
- Chỉ đạo phong trào thi đua “Hai tốt” trong giáo viên, cán bộ, nhân viên
và học sinh
- Tổ chức hội nghị CNVC, hội nghị liên tịch thường kỳ và bất thường để thực hiện chế độ quần chúng tham gia quản lý trường học
- Thi hành chế độ báo cáo thường kỳ và bất thường với tổ chức cơ sở đảng
và cấp trên về tình hình mọi mặt của nhà trường
- Thay mặt nhà trường giao thiệp với chính quyền địa phương, với các cơ quan đoàn thể, đơn vị và cơ sở sản xuất xung quanh trường, với cha mẹ học sinh, tổ chưc, động viên các tổ chức xã hội tham gia tích cực vào sự nghiộp giáo dục thế hệ trẻ
Trong trường THPT hiệu trưởng là người quản lý nhà trường theo nguyên tắc: Thủ trưởng chịu trách nhiệm, có quyền xử lý và ra quyết định trên một quyền hạn nhất định trong phạm vi nhà trường Bởi vậy người hiệu trưởng phải
Trang 36là người có phẩm chất chính trị tốt, có chuyên môn vững vàng, biết phát huy tinh thần dân chủ sáng tạo, đoàn kết, có khả năng tập hợp quẩn chúng để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà trường thực hiện mục tiêu dạy học và giáo dục.1.3 ( ’<) sớ lý luận về q uán lý nhà trường
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo giáo dục thế hệ trẻ, tế bào chủ chốt của hệ thống giáo dục từ trung ưưng đến địa phương Do vậy trường học chính là khách thể cơ bản của mọi cấp quản lý Hiệu trưởng và giáo viên là chủ thể quản lý trực tiếp vận hành hệ thống giáo dục Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy của thầy hoạt động của trò và các hoạt động khác trong nhà trường, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục nhà trường Công tác quản lý nhà trường cũng bao gồm quản lý sự tác động qua lại giữa nhà trường với xã hội và trong mỗi nhà trường đều chứa đựng các thành tố cấu thành một nhà trường bao gồm:
- Mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức dạy học
- Con người: Cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên và học sinh
- Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho hoạt động dạy học
Vấn đề đặt ra là người quản lý tức là người Hiộu trưởng vận hành các thành tố dựa trên cơ sở các nguyên lý giáo dục, các nguyên tắc quản lý trong các mối quan hệ nội tại và các mối quan hệ với môi trường bên ngoài ( Mỗi nhà trường là một hề mở) để đạt được mục tiêu xác định
Như vậy thực chất quản lý nhà trường là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm thúc đẩy các hoạt động theo nguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tậm là đưa hoạt động dạy học lên trạng thái mới vé chất
Đổ quản lý trường học một cách có hiệu quả người Hiệu trưởng phải thực hiện các chức năng quản lý: chức năng kế hoạch hoá, chức nãng tổ chức, chức năng chỉ đạo, lãnh đạo và chức năng kiểm tra nói cách khác vận dụng cơ sở lý luận của hoạt động quản lý trong điều kiện thực tiễn nhà trường một cách thích hợp, uyển chuyển để hoàn thành mục tiêu giáo dục
Trang 371.4 Những yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngành giáo dục và đào tạo đã tiến hành những điều chỉnh cần thiết cho việc thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục, trước hết là đổi mới giáo dục phổ thông Những định hướng chỉ đạo quan trọng, các yêu cầu cần đạt đối với chủ trương đã được nêu rõ trong các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, kỳ họp thứ 4 khoá VII,
kỳ họp thứ 2 khoá VIII, trong báo cáo chính trị lần thứ 9 và kết luận của Hội nghị Trung ương lần 6 khoá IX, Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội về đổi mới chương trình GDPT Điều đó thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với
sự nghiệp giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đồng thời cũng là trách nhiệm nặng nề đối với ngành giáo dục trong việc thực hiện đổi mới giáo dục mà trước hết là giáo dục phổ thông
1.4.1 ỉ.ý do của việc đổi mói
- Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế-xã hội với việc đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ là một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người là nguồn lực Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trước hết bắt đầu từ việc xác định mục tiêu đâo tạo như là xác định những gì cần đạt được sau một quá trinh đào tạo Nói chung đó là một hộ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nề tảng kiến thức, kỹ năng đủ và chắc chắn
Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, ngoài các phẩm chất như lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, quý trọng và hăng say lao động, có lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm còn có những phẩm chất và năng lực cần thiết trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ nền knh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và chuẩn bị hình thành nền kinh tế tri thức, đó là sản phẩm tôn trọng và
Trang 38nghiêm túc tuân theo pháp luật; quan tâm và tham gia các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có tư duy phê phán để thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống; đó là năng lực hợp tác và giao tiếp có hiệu quả, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường, năng lực quản lý nổi bật nhất là thích ứng với cốt lõi là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề Những năng lực và phẩm chất nêu trên phải được xem là những nội dung chủ yếu của mục tiêu giáo dục và trước hết là mục tiêu chủ yếu của nhà trường phổ thông
- Do sự phát triển nhanh mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ
Các thành tựu mới và khả năng ứng dụng cao, rộng và nhanh vào thực tế buộc chương trình, sách giáo khoa phải luôn được xem xét, điều chỉnh Học vấn mà nhà trường phỏ thông trang bịkhông thể thâu tóm mọi tri thức mong muốn, vì vậy phải coi trọng việc dạy phương pháp dạy cách đi đến kiến thứccủa loài người, trên cơ sở đó mà tiếp tục học tập suốt đời Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẵn, đã lĩnh hội được ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng các tri thức mới một cách độc lập ; khả năng đánh giá các sự kiện, các tư cưởng các hiện tượng một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người Nội dung học vấn phải góp phần quan trọng để phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học sinh, cung cấp cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho việc tự học và tự giáo dục sau này
- Do có những thay đổi trong đối tượng giáo dục
Những kết quả nghiên cúa tâm-sinh lý của học sinh và điều tra xã hội học gần đây trên thế giới cũng như ở nước ta cho thấy thanh niên đã có những thay đổi trong sự phát triển tâm-sinh lý, đó là sự thay đổi có gia tốc Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giáo lưu, học sinh được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ nhiều mặt của cuộc sống, có hiểu biết nhiều hơn, linh hoạt hơn và thực
tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đây mấy chục năm, đặc biệt là học
Trang 39sinh bậc trung học Trong học tập không thoả mãn với vai trò của người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhận các giải pháp đã có sẵn đưa ra Như vậy ở lứa tuổi này nảy sinh một yêu cầu và cũng là một quá trình: sự lĩnh hội độc lập các tri thức và phát triển kỹ năng Nhưng các phương thức học tập tự lực của học sinh nếu muốn được hình thành và phát triển một cách có chủ định thì cần thiết phải có sự hướng dẫn, đồng thời tạo các điều kiện thuận lợi Chương trình
và sách giáo khoa phải đóng góp trực tiếp đáp ứng những yêu cầu đó
- Do nhu cầu phải hoà chung với xu thế đổi mới tiến bộ trên thế giới trong lĩnh vực chương trình, sách giáo khoa
Từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX nhiều quốc gia đã tiến hành chuẩn bị và triển khai cải cách giáo dục, tập trung vào giáo dục phổ thông mà trọng điểm
là cải cách chương trình và sách giáo khoa Chương trình của các nước đều hướng tới việc thực hiện yêu cầu nâng cao giáo dục, trực tiếp góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sống của con người, khắc phục tình trạng học tập nặng nề, căng thẳng, ảnh hưởng tới sức khoẻ, hứng thú và niềm tin đối với việc học tập của học sinh, tình trạng giáo dục thoát ly đời sống, quá nhấn mạnh đến tính hệ thống, yêu cầu quá cao về mặt lý thuyết mà coi nhẹ những tri thức và kỹ nãng có liên quan trực tiến đến cuộc sống hàng ngày của học sinh khiến năng lực hoạt động thực tiễn của người học
bị hạn chế Xu thế đổi mới cũng nhằm khắc phục tình trạng sản phẩm của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu biến đổi nhanh và đa dạng của sự phát triển
xã hội, sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp nhận giáo dục mà biểu hiện chủ yếu là
sự cách biệt về điều kiện, về trình độ giữa các địa phương và khu vực, cách biệt giữa giới tính và địa vị xã hội Trào lưu cải cách giáo dục lần thứ 3 của thế kỷ
20 đang hướng vào việc khắc phục những biểu hiện nói trên để chuẩn bị cho các thế hệ trẻ ở các quốc gia bước vào thế kỷ 21
1.4.2 N ội dung đối mới
1.4.2.1 Thời lỉ(’ựiií> học
Trước đây thời gian tính cho học sinnh học tập ở các cấp học là 33 tuần/năm học Cấp trung học phổ thông cũng có số tuần như vậy, tuy nhiên
Trang 40hiện nay tất cả các cấp bậc học được áp dụng là 35 tuần/năm học và nếu tính theo số tiêt thì tổng thời lượng hàng năm của cấp học cũng chỉ xấp xỉ 1000 giờ Con số này vẫn thấp hơn nhiều so với giờ học trung bình của học sinh cùng cấp ở các nước khác (bình quân 1200 giờ/năm học) Cần chú ý rằng thời lượng học cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng học; thậm chí là yếu tố hàng đầu Chính vì vậy việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông lần này
bộ cũng đã có chủ trương tăng thời lượng học tập ở các cấp học
ì 4.2.2 Chương trình, sách iỊÌáo khoa
Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Chương trình ( chương trình cải cách giáo dục) được biên soạn từ cách đây 25 năm, riêng sách giáo khoa THPT cũng đã được sử dụng hơn 10 năm Đây là bộ chương trình thống nhất của một đất nước thống nhất kể từ sau cách mạng tháng 8 được chuẩn bị một cách nghiêm túc, công phu phục vụ tích cực cho mục tiêu đào tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nhất định và trong bối cảnh thế giới có phần khác so với hiộn nay Chương trình đã quán triệt được yêu cầu giáo dục toàn diện, tập trung vào kiến thức và kỹ năng
cơ bản, bảo đảm tính liên tục giữa các cấp học, bảo đảm liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp Chương trình cũng góp phần tích cực vào việc phổ cập giáo dục, đáp ứng được yêu cầu học tập của số đông học sinh, góp phần phát triển quy mô giáo dục phổ thông và phát hiện bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
Tuy nhiên nếu chương trình về cơ bản tỏ ra phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của một giai đoan đã qua thì đối chiếu với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới lại thể hiện nhiều điều bất cập mà nổi bật nhất là không thể đáp ứng tốt đối với mục tiêu đào tạo con người Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với những phẩm chất và năng lực mới thể hiện trong mục tiêu đào tạo Nội dung chương trình và sách còn quá thiên về lý thuyết, ít kiến thức về ứng dụng và thực hành, ít gắn với thực tiễn Khôi lượng và mức độ nội dung ở một số phần trong một sô bộ mồn còn nặng
và cao, có hiện tượng kiến thức vừa thừa, vừa thiếu, có sự trùng lặp giữa vài