Quả thật, so với hai bộ SGK văn bậc THPT trước đây bộ sách dùng những năm 1960 - 1970 và bộ sách tiếp theo dùng những năm 1980 thì trong bộ sách giáo khoa Văn CCGD và bộ sách chỉnh lý h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LẼ MAI ANH
(Giới hạn trong bộ sách do trường Đại học sư phạm Hà nội I biên soạn
và bộ sách chỉnh lý hợp nhất nam 2000)
LUẬN VĂN THẠC sĩ KHOA HỌC NGỮ VĂN■ ■ ■
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học :
PGS.TS NGUYỄN BÁ THÀNH
HÀ NỘI 2000
Trang 2PHẨNM Ở ĐẲU
MỤC LỤCt •
Trang
1
1 Lý do chọn để tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Phương pháp nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .11
5 Đóng góp mới của luận án 12
6 BỐ cục của luận án 12
CHƯƠNG 1 : Diệìt mạo của thơ Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa văn trung học p h ổ thông hiện nay 14
1.1 Nhận xét chung về chương trình thơ trong sách giáo khoa trung học phổ thông 14
1.2 Thơ Việt nam hiện đại trong bộ sách giáo khoa trung học phổ thông đầu tiên sau hoà bình (ban hành năm học 1955 - 1956 và sử dụng đến hết những năm 70) .15
1.3 Thơ Việt nam hiện đại trong bộ sách giáo khoa trung học phổ thông những năm 80 22
1.4 Thơ Việt nam hiện đại trong bộ sách giáo khoa trung học phổ thông những năm 90 và trong bộ sách giáo khoa trung học phổ thông chỉnh lý hợp nhất năm 2000 26
CHƯƠNG 2 : Tìm hiểu những nhận định chung của sách giáo khoa về thơ Việt Nam hiện đ ạ i 31
2.1 Quan điểm phân kỳ và phân dòng trong các bài khái q u á t 31
2.2 Những nhận định về các giá trị của thơ Việt Nam hiện đ ạ i 36
Trang 32.3 Những nhận đinh vế các nhà thơ lớn được giới thiệu với
tư cách tác gia (Xuân Diệu, Hồ Chí Minh, Tố H ữ u) 48
CHƯƠNG 3 : Tìm hiểu phần hướng dẫn học bài 65
3.1 Đinh hướng chung của hệ thống câu hỏi ở phần "Hướng dẫn học bài" 65
3.2 Sự khác nhau về cách cảm thụ trong một số bài thơ được trích giảng 70
PHẦN KẾT LUẬN 83
CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN V Ă N 85
CÁC CHÚ THÍCH DÙNG TRONG LUẬN VĂN .85
PHỤ LỤC : CÁC BẢNG KHẢO SÁT VỀ TÁC GIẢ TÁC P H A M 86
TÀI LỈỆU THAM KHẢO .92
Trang 4PHẦN Mỏ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI:
1.1 Nếu thơ là nhu cầu trong đời sống tâm linh con người - như bây
giờ người ta thường nói, thì với người giáo viên văn, nó còn phải thường
xuyên đi cùng những đòi hỏi nghiệt ngã của nghể nghiệp Dù muốn hay
không, nghề nghiệp buộc người giáo viên văn phải giảng dạy những tác
phẩm thơ, tác giả thơ, hiện tượng thơ theo quy đinh của chương trình, phải
làm chủ được chương trình và những đom vị kiến thức cần có cho học sinh
Bản thân những kinh nghiệm của người viết trong quá trình giảng dạy phần
thơ Việt nam hiện đại (VNHĐ) trong Sách giáo khoa (SGK) Cải cách giáo
dục (CCGD) đòi hỏi phải được tổng kết lại, nhìn sâu hơn Luận văn này có ý
nghĩa như là một dịp nhìn lại một cách bao quát, tổng kết lại, nhìn sâu hơn
những kinh nghiệm ấy - với sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn Nó xuất phát từ
nhu cầu thiết thực của nghề nghiệp
1.2 Mặt khác, thơ VNHĐ là một thời kỳ rực rỡ của lịch sử thơ ca dân
tộc, một giá trị khách quan mà việc đánh giá thẩm đinh nó đang sôi động
trong đời sống văn học hôm nay Trong khi đó, SGK văn CCGD ( mà phần
thơ VNHĐ là một nội dung quan trọng của nó) từ khi ra đời đến nay đã gây
ra nhiều ý kiến và hiện nay đang thu hút sự chú ý của công luận Quả thật,
so với hai bộ SGK văn bậc THPT trước đây ( bộ sách dùng những năm
1960 - 1970 và bộ sách tiếp theo dùng những năm 1980) thì trong bộ sách
giáo khoa Văn CCGD và bộ sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, trong phần
văn học Việt nam hiện đại nói chung và phần thơ Việt nam hiện đại nói
riêng chiếm một khối lượng đáng kể, nhưng việc nghiên cứu nó một cách có
hệ thống và toàn diện thì chưa có công tnnh nào
tham khảo và các tài liệu tham khảo khác vây quanh Với hai bộ sách trước
Trang 5ngoài cuốn Hướng dẫn giảng dạy đi kèm như một tài liệu mang tính pháp
lệnh, người giáo viên ít có điều kiện tiếp xúc tự do với các nguồn tài liệu
khác ( cũng khá ít ổi, người may mắn có thể đọc thường xuyên Báo Văn nghệ và Tạp chí Văn học) Sau CCGD, sách giáo viên (SGV) đảm nhận chức năng của sách hướng dẫn giảng dạy trước đây; SGV đi liển với SGK hợp
thành một bộ sách cho môn văn ở trường THPT - được coi như tài liệu tham
khảo quan trọng cho giáo viên Ngoài ra có rất nhiểu các sách và tài liệu tham khảo khác
Nhìn chung, qua các tài liệu tham khảo hết sức phong phú, người giáo viên văn THPT được tiếp xúc với bộn bề các ý kiến khác nhau, trong đó có những ý kiến trái chiểu nhau, có những ý kiến giúp hiểu sâu hơn cách hiểu
của SGK ( thể hiện ở câu hỏi hướng dẫn học bài và SGV), có những ý kiến phê phán SGK là viết sai, hiểu sai vấn đề Ngay trong Tài liệu chuẩn kiến
thức, khi để cập đến cách hiểu một bài thơ, đoạn thơ cụ thể trong chương
trình, ý kiến chuẩn kiến thức của các tác giả cũng phủ định lẫn nhau Có thể nói, không một tác giả thơ, một tác phẩm thơ nào thuộc phần thơ VNHĐ không được các tài liệu tham khảo bàn luận đến từ góc độ này hay góc độ khác Có những hiện tượng thơ đã được nhìn nhận từ nhiểu phía, nhiều góc
độ Tình hình đó, một mặt biểu hiện sự phát triển của ý thức dân chủ trổng thời đại ngày nay, mặt khác đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ và bản lĩnh cao hơn, phải biết lựa chọn và thẩm đinh các ý kiến cho công việc của mình Hơn nữa, đã đến lúc cần hệ thống hoá lại toàn bộ các ý kiến đó
1.2.2 Vượt ra khỏi phạm vi nhà trường, SGK văn CCGD và SGK văn chỉnh lý hợp nhất năm 2000 đã trở thành vấn đề của công luận xã hội Người
ta đã phát biểu nhiểu ý kiến về SGK trên các báo chí và các diễn đàn khác ( Hội nghị, hội thảo, nói chyện văn học ) SGK văn, nhất ỉà SGK Văn 12
đã trở thành sách giáo khoa trong dư luận Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo
tổ chức hội thảo lớn về chuyên đề SGK và chương trình truyền hình trung ương có một buổi gặp phỏng vấn các giáo sư, nhà văn về chương trình môn
Trang 6văn w Bộ trưởng văn hoá thông tin kiêm Tổng thư ký Hội nhà văn Việt nam Nguyễn Khoa Điềm nhận đinh:" Chính các đồng chí làm sách biết rõ là trước đây chúng ta biên soạn vội, sau đó in đi in lại mấy lần, rồi cũng có bổ sung vội Trước đây chưa có điều kiện thì chúng ta đành phải chấp nhận như thế Chẳng hạn, sách giáo khoa văn viết về thơ văn Bác Hồ, tôi thấy như thế
là chưa được Chúng ta phải dũng cảm sửa chữa Hay có tác giả ta lại đẻ cao hơi quá, có tác giả đánh giá chưa thật đúng, có tác giả đáng đưa vào chương trình mà ta lại chưa kịp đưa vào Chúng ta phải dũng cảm nhìn lại cái gì được, cái gì chưa được Chúng tôi rất quan tâm làm sao để có một chương trình văn hay hơn cho các em học Mình thật sự khách quan vì cái chung, vì các thế hệ tương lại của đất nước thì thấy đây là chuyện hết sức bình thường, phải không các đồng chí? [ 144, 61 ] Năm 1997, Bộ giáo dục và Đào tạo đã quyết định thay hai bài khái quát về tác giả Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
và về Văn học Việt Nam từ cách mạng tháng 8 - 1945 đến 1975 trong hai bộ
dùng cho học sinh các tỉnh phía Bắc và bộ sách do Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học thành phổ Hồ Chí Minh biên soạn, thực tế dùng cho các tỉnh phía Nam) " Đến nay, hai bộ SGK môn văn đã ra đời được hàng chục năm,
về cơ bản đây là những bộ sách có giá trị, có những tiến bộ vượt bậc, so với những bộ SGK đã sử dụng ngay trước cải cách giáo dục Dĩ nhiên, nói tiến bộ vượt bậc tức là so với bộ SGK trước đó và không có nghĩa là bộ SGK này không còn hạn chế Sau một thời gian khá dài, đến nay có thể nhận thấy
về một số phương diện những bộ sách nói trên đã bộc lộ một số nhược điểm nhất đinh cần sớm được sửa chữa và có điểm đã được sửa chữa" [ 188,38]
Vì vậy Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức biên soạn lại và hợp nhất hai bộ SGK văn THPT thành một bộ thống nhất dùng cho cả nước kể từ năm học
2000 - 2001.
Nói đến SGK Văn trước hết phải đặt vấn đề chất lượng lên hàng đầu Yêu cầu của học sinh, của giáo viên, của dư luận xã hội là SGK hợp nhất
Trang 7trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải có chất lượng tốt hơn những bộ đã có Đặc biệt, một số sai sót đã được dư luận phát hiện trong những năm qua nhất thiết phải được khắc phục triệt để Có lẽ vì vậy chưa bao giờ SGK môn vãn được nói đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay
Đặc biệt, sau khi có nghị quyết của Đảng vể giáo dục và sau khi Luật Giáo
dục được ban hành, vấn đề SGK văn đang là một vấn để nhạy cảm của dư
luận xã hội Liên quan đến phần thơ VNHĐ, có những ý kiến nóng hổi bàn
vể cách đánh giá thơ VNHĐ ( về thơ mới, vể thơ cách mạng ) của SGK, vể chương trình, về cách hiểu tác giả, tác phẩm, câu chữ cụ thể trong một bài thơ Đánh giá SGK văn THPT CCGD nói chung và phần thơ VNHĐ nói riêng một cách toàn diện, khách quan và khoa học cần đến một tập thể các nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao ở đây, chúng tôi muốn lưu ý một điều: Bản thân lịch sử sôi động của các ý kiến liên quan đến phần thơ VNHĐ trong SGK Văn CCGD đặt ra vấn đề phải nhanh chóng nhìn nhận lại một cách khách quan, trong khả năng và điều kiện có thể toàn bộ đối tượng này ( từ chương trình cho đến việc hướng dẫn dạy và học) Luận văn là một đáp ứng nhỏ bé kịp thời cho nhu cầu khách quan đó
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỂ:
Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị trung ương Đảng vê cải cách giáo dục và thi hành chủ trương của Bộ giáo dục về công tác biên soạn sách
giáo khoa cải cách giáo dục, Ban vận động tuyển chọn và sáng tác văn thơ
cho SGK ngữ văn ph ổ thông cải cách giáo dục đã ra thông báo chính thức
trên Báo văn nghệ số 1 ( 5 - 1 - 1980) về cuộc vận động này Từ đó cho đến nay vấn để tuyển chọn và chất lượng các tác giả, tác phẩm, nội dung chương trình luôn được dư luận quan tâm Sự quan tâm ấy được thể hiện trên các tờ
báo Văn Nghệ, Giáo dục và thời đại, Người Hà Nội, Vãn - TPHCM, Quân
đội nhân dân, Văn hoá w Ngoài ra trong một sô tập tiểu luận của các nhà
nghiên cứu văn học cũng đã để cập tới
Trang 8Đặc biệt, trong những năm 1990, sau khi bộ SGK văn CCGD bậc PTTH được đưa vào sử dụng, tiếp đó, năm học 1993 - 1994 các bộ sách phân ban cũng được đưa vào thí điểm trên 100 trường PTTH trong toàn quốc thì các ý kiến đóng góp cho chương trình văn CCGD bậc PTTH nói chung và
bộ phận thơ VNHĐ nói riêng tăng lên đáng kể, thậm chí tạo thành những ỉuồng dư luận mạnh mẽ Tạm thống kê sơ bộ, có tới 23 ý kiến về chương trình và việc tuyển chọn tác giả, tác phẩm, có 8 ý kiến về những nhận định của SGK vế phần thơ và các tác giả thơ, có 38 ý kiến thẩm đinh về từng tác phẩm thơ trong chương trình
Nội dung của các ý kiến phong phú, đa dạng, thường khác nhau thậm chí trái ngược nhau trên cùng một vấn để Tuy vậy chúng tôi có thể tổng hợp
t
Tác giả Phan Huy Huyển chuyên mục Văn học với nhà trường đã bày
tỏ ý kiến Xung quanh việc biên soạn SGK Ông hoàn nghênh Bộ Giáo dục và
Đào tạo, các học giả, các nhà giáo đã góp tâm sức và trí tuệ trong việc thay đổi, đổi mối chương trình, nội dung, phương pháp của môn văn trong các nhà trường phổ thông Bên cạnh đó ông cũng tỏ ra băn khoan về việc " vẫn còn nhiẻu điểu phải tranh luận, bản cãi, góp ý để hoàn thiện thêm chương trình, nội đung, phương pháp dạy học môn văn này" Ông đề xuất một số ý kiến mong được xa gần trao đổi: " Sách giáo khoa phải có sức sống bền vững
vể mặt thời gian Các nhà biên soạn có lẽ cần một cái nhìn chiến lược để không phải có sự thay đổi chỉnh lý sách quá nhanh Các tác phẩm được tuyển chọn vào SGK phải có một độ tin cậy nhất định Nếu chưa có tính chất
Trang 9cổ điển chí ít chúng cũng được đông đảo người đọc mặc nhiên thừa nhận đó
là những tác phẩm tốt , tác phẩm hay Nên chăng, thường xuyên có sự trưng cầu ý kiến, những cuộc trao đổi, bàn bạc rộng rãi, những hội thảo xung quanh công tác biên soạn chỉnh lý SGK?" [68, 4]
Tác giả Lê Bá Hán khẳng đinh: " Qua đổi mới chương trình văn trong nhà trường đã có nhiều cải tiến tích cực, cần được ghi nhận Nhiểu tác phẩm văn học Việt Nam đã phản ánh khá trung thực diện mạo đa dạng của
lịch sử văn học dân tộc" Đồng thời ông cũng chỉ ra " Một chương trình quá
tải, đó là hiện tượng bao trùm đối với các bộ môn nói chung và môn văn nói
riêng" và vừa xây dựng xong chương trình cải cách, thực hiện chưa được bao lâu, chưa kịp rút kinh nghiệm một cách thoả đáng, chúng ta đã chuyển sang chương trình phân ban Tiếp cận chương trình này, nhiều người nảy sinh ý nghĩ học sinh ban A và ban B có nhất thiết học đủ các tác phẩm, các vấn để như ban c , chỉ khác là số giờ được rút gọn hơn v ề mặt mục tiêu,
làm rõ những căn cứ khoa học, có sức thuyết phục" "Đã đến thời điểm đủ điều kiện để chúng ta rà soát lại nhằm thiết kế một chương trình hợp lý hơn, tốt hơn” [40, 4]
Tác giả Văn Tâm trong bài viết M ột cuộc bỏ phiếu văn chương của
công chúng ngành giáo dục đã có những ý kiến đánh giá về những thay đổi
nội dung chương trình giảng dạy thuộc tiến trình cải cách giáo dục nằm trong thế đổi mới tư duy của toàn xã hội Ông nhận định: Chương trình cải cách môn văn trung học phổ thông hiện hành "chứa đựng rất nhiều yếu tố cách tân hệ thống chương trình cách tân này có vẻ đẹp rất khác xưa: chỉ chọn giảng những văn bản thuộc phạm trù văn chương; các tác phẩm văn chương mà thiếu chất văn cũng đã mất vị trí, thay vì là những sáng tạo nghệ thuật ít nhiều xứng đáng tiêu biểu cho văn chương dân tộc cổ kim và nhân loại đông tây Chẳng hạn trong chương trình vể giai đoạn 1930 - 1945,
Trang 10học sinh được tiếp xúc với dòng văn học lãng mạn tới 12 tiết so với chương trình cũ chỉ có 2 tiết, vế giai đoạn 1945 - 1975: lần đầu tiên ra mắt nhiều
diện mạo ( Quang Dũng: N hớTây Tiến, Xuân Quỳnh: Sóng, ) [ 172,3].
Một số ý kiến rải rác trên báo Văn nghệ và Nhân dân cho rằng đã có hiện tượng " đưa ồ ạt văn học lãng mạn vào nhà trường" [ 90,7] Ngược lại có nhiều ý kiến ghi nhận những đánh giá đúng mức hơn, khách quan hom vể các thời kỳ văn học, các trào lưu , về một số tác giả, tác phẩm văn học Theo dòng chảy của văn học dân tộc, SGK CCGD đã chọn, đã trích, đã đưa ra giảng dạy cho học sinh những tác phẩm sáng giá, những viên ngọc lấp lánh thực sự " Lấy Văn học lãng mạn (1930 - 1945) làm ví dụ: Chúng ta không còn phê phán một chiểu như trước kia mà đã nhìn nhận trào lưu văn học này
" chất văn trong SGK không chỉ được tập trung biểu hiện ở việc khai thác
cái hay, cái đẹp của nghệ thuật viết văn, của tư tưởng tình cảm cao đẹp ở các tác phẩm viết vế con người trong cuộc chiến đấu chống thù trong giặc ngoài,
mà chúng còn được biểu hiện ở việc công phu tuyển chọn vào đây rất nhiều
tác phẩm viết về những tình cảm, những rung động bình thường trong sáng
mà thấm đượm giá trị nhân văn" [ 85, 6 ]
Có ý kiến thắc mắc vể việc lựa chọn tác giả tác phẩm tiêu biểu với so sánh: " Hai nhà thơ được mệnh danh là chúa thơ tình: Đó là Xuân Diệu và Nguyễn Bính Một người tiêu biểu cho dòng thơ ảnh hưởng rất nhiều của phương tây, đặc biệt là Pháp - còn một người tiêu biểu cho hồn thơ chân quê, dân giã gần gũi với ca dao, dân ca Cả hai người đều có những thành tựu đáng trân trọng và đáng được học tập Trong chương trình Văn học 11; chúng cháu được học ba tác phẩm của Xuân Diệu và đọc thêm hai tác
phẩm Trong khi đó, chúng cháu Không được học một bài nào của Nguyễn
Tựu trung các ý kiến đểu bộc lộ một tinh thần xây dựng và mong muốn góp tiếng nói cho công cuộc cải cách giáo dục đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông trong thời đại mới
Trang 11Hai là: Các ỷ kiến vê những nhận định của SGK trong việc đánh giá
phần thơVNH Đ, các tác giả cũng như tác phẩm.
Một SỐ bài báo đã đề cập đến các luận điểm đánh giá của SGK về phần thơ VNHĐ và một số tác giả như Hồ Chí Minh, Xuân Diệu Các bài báo này tỏ ra không đồng tình với tác giả SGK ở một số vấn để như:
- Vị trí và tầm cỡ của nền Văn học Cách mạng Việt nam cũng như thành tựu thơ ca
- Cách đánh giá thơ văn Hồ Chí Minh
- Mục đích làm văn, làm thơ của Hồ Chí Minh
- Nhận đinh về Xuân Diệu trong SGK
Tiêu biểu cho luồng ý kiến này là các tác giả: Nguyễn Ngọc Châu, Trần Mạnh Hảo, Lê Đình M a i
Ngược lại, cũng có một số ý kiến ủng hộ các luận điểm của SGK, lên tiếng công kích các ý kiến kể trên Đó là các tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Đặng Lưu, Nguyễn Thị Lân Cuộc tranh luận đã chỉ ra những nhận định thiếu chuẩn xác về sự nghiệp thơ văn Hồ Chí Minh cũng như những điểm chưa ổn trong quan điểm của người soạn SGK, kết quả "nhà xuất bản giáo dục đã đẻnghị Bộ giáo dục- đào tạo cho phép sửa chữa những chỗ cần sửa để kịp incho năm học mới Bộ đã xin ý kiến Ban tư tưởng- Văn hoá trung ương, Đảng đoàn Hội nhà văn và đồng chí Nguyễn Đức Bình, uỷ viên Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về hướng sửa chữa cuốn
Văn 12, sau đó giao cho Nhà xuất bản giáo dục viết lại bài: Nguyễn Ái Quốc
- Hồ Chí Minh và bài: Khái quát về văn học Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đêh 1975 thay cho hai bài cùng tên trong SGK Văn 12 ở cả hai
miển Nam - Bắc và "SGK Văn 11, ban А, в và Vãn 12 ban C" [98,4]
Ba lổ : Các ỷ kiến thẩm định vê tibĩg tác phẩm thơ trong chươỉĩg trình.
Với 38 ý kiến chủ yếu các tác giả tập trung vào hai khía cạnh : Cảm thụ và chủ giải Hầu như, không có một tác phẩm nào không có ý kiến bàn luận, thậm chí cả các tác phẩm trong phần đọc thêm cũng được dư luận
Trang 12quan tâm Song các tác phẩm được dư luận quan tâm nhiều nhất phải kể
đến là Tống biệt hành (10 ý kiến), Đây Thôn V ĩ Giạ (5 ý kiến), Tây Tiến (5
ý kiến), Vãn Cảnh (4 ý kiến), Sóng (4 ý kiến), Đất nước (2 ý kiến), Tiếng hát
con tàu (2 ý kiến), Tương Tư (2 ý kiến) v.v
"£ã gọi là văn chương thì chữ nghĩa là điều rất quan trọng Nếu chú giải sai về chữ nghĩa thì ắt là sẽ hiểu sai, bình giảng sai Chỉ cần một chút chủ quan không tra cứu kỹ là có thể chú giải không đúng hoặc không đầy
đủ Cũng không nên nghĩ rằng thơ hiện đại thì ít phải quan tâm đến chú giải Tiếng việt ta có biết bao nhiêu chữ nghĩa có nguồn gốc phức tạp: các điển tích, các từ gốc Hán, các từ địa phương, các từ xuất phát từ tiếng Pháp Quả là có những từ mà ngay cả những thầy cô giáo kỳ cựu thông hiểu chữ Hán về văn chương vẫn phải bàn luận gay go, không thống nhất với nhau được Chẳng hạn chữ "áo bào" trong câu thơ " Áo bào thay chiếu anh về đất"
ở bài thơ Táy Tiến của Quang Dũng Chữ ’'sông" trong câu thơ "Sông không
hiểu nổi mình" ở bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.
Nhưng có lẽ, các ý kiến tập trung nhất vẫn nghiêng về việc cảm thụ và tiếp nhận tác phẩm Ai cũng hiểu, cảm nhận tác phẩm văn chương trong tính toàn cục của nó có thể và đương nhiên là có sự nông sâu, rộng hẹp với những mức độ tuỳ người thưởng thức Song việc phân tích, bình giảng thơ văn trong trường phổ thông có tình trạng cắt nghĩa khác nhau một câu thơ, một hình
ảnh, một tó thơ Chẳng hạn: Bài thơ nổi tiếng Đây thôn V ĩ Giạ của Hàn
Mạc Tử trong các số báo văn nghệ, số báo Người giáo viên nhân dân đầu những năm 90 đã bộc lộ "nhiều cách hiểu, cách cảm khác nhau" Có người hiểu sai một vài câu thơ, gắn cho Thôn Vĩ Giạ (một địa danh có thực ở Huế)
một "lý lịch” giả rất tội nghiệp Hay hiện tượng bài thơ Tống Biệt Hành,
một bài thơ hay nhưng rất khó giảng Đã có nhiều ý kiến của các nhà nghiên
cứu, nhà giáo đưa ra những cách hiểu, cách cảm rất khác nhau: Đầy hoàng
hôn trong mắt ơi (Hoàng Ngọc Hiến) Người ra đi là ai? (Trần Đình Sử), Trở ỉạỉ Tống biệt hành lần lại con đường thâm nhập bài thơ (Trần Đình Sử), Chớ nên ám ảnh vĩ mày chữ thà (Bùi Hiển), Một giọng thơ riêng (Vũ Quần
Trang 13Phương) V ề mấy tứ thơ (Mã Giang Lân), Tống Biệt Hành của Thâm Tâm (Phạm Xuân Nguyên) Hoặc về bài Vãn cảnh trong Nhật ký trong tù Điểm
nút để hiểu bài thơ này rơi vào câu thơ thứ hai "Hoa khai, hoa tạ lưỡng vô tình" Hầu như mọi rắc rối trong cách hiểu đều tập trung ở câu thơ này
tiển tài vật chất, biết gì cái đẹp của hoa, nên hoa bay vào kể bất bình với người tù" [166, 266] Nhà thơ Xuân Diệu thì cho là "không chỉ thiên hạ vô tình mà hơn nữa kia, tạo hoá vô tình" [13, 3] Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng chủ ngữ của vô tình là " ta, người tù" từ đó đi đến kết luận: "Nói hoa nở hoa tàn trong vô tình là nói người hữu tình vắng mặt Nói hương hoa bay vào trong ngục kể bất bình với người tù là nói người hữu tình đang bị giam, hữu tình mà hoá vô tình Bất bình vì vô tình đây cũng là bất bình vì mất tự do" [167, 5]
Nhìn chung, các ý kiến nhiều song phân tán Đứng từ góc độ chuyên môn và nghề nghiệp chúng tôi nhận thấy những đánh giá khác nhau nhưng chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu đánh giá đầy đủ về phần thơ Việt Nam hiện đại trong SGK văn CCGD cũng như sách giáo khoa chỉnh
lý hợp nhất năm 2000 Vì vậy với chút kiến thức còn hạn hẹp và mong muốn
hệ thống hoá lại các ý kiến cũng như có cái nhìn tương đối khách quan vể đối tượng phục vụ cho nhu cầu nghề nghiệp chúng tôi xin mạnh dạn đi sâu
nghiên cứu đề tài "Bước đầu tìm hiểu phần thơ Viêt Nam hiện đại trong
sách giáo khoa văn cải cách giáo dục bậc Trung học p h ổ thông hiện nay".
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
Phương pháp chủ yếu mà luận văn sử dụng là tiếp cận hệ thống, phương pháp này dựa trên cơ sở quan niệm đối tượng nghiên cứu là một hệ thống gồm các tương tác, tương phụ ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, đồng thời
có thể phân xuất hệ thống thành các phân hệ
Trang 14Vừa dành được độc lập từ năm 1945, năm 1946 đất nước lại bước vào
yi kỳ kháng chiến gian khổ suốt 9 năm, từ năm 1954 đến năm 1975 là
ộc đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất nước nhà, nhưng trong bộn các công việc chống trả ngoại xâm và xây dựng đất nước Đảng, Nhà nước
ng toàn xã hội vẫn luôn giành một sự quan tâm lớn đến sự nghiệp giáo
IC Luật Giáo dục ra ngày 2 tháng 12 năm 1998 xác định rõ : "Giáo dục và
io tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân"
3, 7] Vì vậy việc biên soạn sách giáo khoa đã trải qua nhiều lần đổi thay Ìằm đáp ứng nhu cầu chuẩn mực hoá nền giáo dục nước nhà
Sách giáo khoa môn Văn bậc THPT hiện nay là kết quả của các lần lên soạn và chỉnh lý chủ yếu sau đầy :
hống kê, phân loại theo 4 bảng khảo sát sau :
- Bảng I : Kỉìảo sát vê tác giả - tác phẩm được trích giảng.
- Bảng / / : Tông hợp, đôi chiếu sốỉượỉìg tác phẩm được chọn giảng.
- Bảng r v : Tông hợp, đối chiếu sô lượng tác phẩm thơ Ỉãỉìg mạn và tác pìiẩnt thơ yêu nước và cách mạng được chọn giảng.
(Xem chi tiết phần phục lục cuối luận án)
Trang 15bể các công việc chống trả ngoại xâm và xây dựng đất nước Đảng, Nhà nướccùng toàn xã hội vẫn luôn giành một sự quan tâm lớn đến sự nghiệp giáo dục Luật Giáo dục ra ngày 2 tháng 12 năm 1998 xác định rõ : "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiộp của Nhà nước và của toàn dân" [93, 7] Vì vậy việc biên soạn sách giáo khoa đã trải qua nhiều lần đổi thay nhằm đáp ứng nhu cầu chuẩn mực hoá nền giáo dục nước nhà.
Sách giáo khoa môn Văn bậc THPT hiện nay là kết quả của các lần biên soạn và chỉnh lý chủ yếu sau đây :
- Bảng I : Khảo sút về tác giả - tác phẩm được trích giảng.
- Bảng I I : Tổng ììỢỊì, đôi chiếu sô ỉươììg tác phẩm đươc chọn giáng.
- Bảng I I I : Tổng ỈÌỢỊ}, đổi chiếu sốỉượtig tác giả được chọn giảng.
tác phẩm thơ yêu nước và cách mạníỊ được chọn giáng.
(Xem chi tiết phần phục lục cuối luận án)
Trang 16Thực tế khảo sát cho thấy diện mạo thơ Việt Nam hiện đại trong
chương trình trung học phổ thông đã có những thay đổi quan trọng qua bốn
SỐ tác giả được giới thiệu chính thức trên lớp học là 14, bên cạnh đó số tác giả có tác phẩm được chọn đọc thêm là 6 Rõ ràng, diện mạo thơ Việt Nam
hiện đại ở đây được hình dung qua chương trình cụ thể, qua những bài khái
quát có tính chất văn học sử và việc học các tác giả, tác phẩm thơ cụ thể Như vậy, thước đo diện mạo thơ Việt Nam hiện đai trong sách giáo khoa văn THPT là thông qua những nhận định tổng hợp về thơ Việt Nam hiện đại
trong bài khái quát và ở việc chọn học một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu
(qua điểm hình dung ra diện)
1.2 Thơ Việt Nam hiện đại trong bộ sách giáo khoa đầu tiên sau hoà
bình (ban hành năm 1955 - 1956 và sử dụng đến hết năm 70)
Bộ sách giáo khoa văn bậc THPT hoàn chỉnh đầu tiên của nền giáo dục cách mạng được ban hành chính thức từ năm học 1956 - 1957 và được
sử dụng cho đến hết những năm 70 hầu như không kế thừa được những chương trình giáo dục trước đó như khoa cử hay giáo dục thời Pháp thuộc
Nó phải xây dựng mới hoàn toàn và được đánh giá là chương trình văn học
Trang 17tiến bộ nhất (bởi chương trình khoa cử chỉ học Tứ thư, Ngũ kinh, còn chương trình giáo dục Pháp thuộc chủ yếu truyển bá văn minh Âu tây và văn hoá Pháp) Tự thuở ban đầu, nó đã thâu góp được khá nhiểu tinh hoa của văn học Việt Nam và một phần nhỏ của văn học thế giới ; nhiểu thành tựu của khoa nghiên cứu văn học hiện đại cũng đã được thể hiện một cách nghiêm túc và thống nhất, bộ sách giáo khoa văn học cùng với một hệ thống sách hướng dẫn giảng dạy và sách tham khảo được lần lượt biên soạn và phát hành rộng rãi Song điểm ưu việt nhất của nền giáo dục cách mạng là việc đưa văn học hiện đại nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng vào chương trình đào tạo
Đó là những kiến thức mang tính chất lịch sử cập nhật có nội dung giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới Tuy nhiên không phải không có một vài hạn chế trong quá trình lựa chọn tác phẩm trích giảng
Với một mốc thời gian hẹp, lại gắn với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt vừa chống giặc ngoại xâm vừa xây dựng đất nước nên trong bộ sách giáo khoa
1956 - 1957 chỉ có 16 bài thơ và một tác giả thơ (Tố Hữu) được chọn trích giảng, hầu hết các tác phẩm thơ được chọn giảng đều thể hiện tập trung chủ
để yêu nước và cách mạng
Nhìn bao quát, chương trình của cả cấp học được cấu tạo theo trình tự thời gian tò cổ điển đến hiện đại, song mỗi một khối lớp lại đan xen các tác phẩm hiện đại khiến tiến trình lịch sử văn học sắp xếp theo trật tự thời gian dường như bị phá vỡ Cụ thể :
- Khôi lớp 8 (tức lớp 10 hiện nay), xen vào học hai bài thuộc phần thơ Việt Nam hiện đại với tiêu mục "Văn thơ hoà bình" : bài thơ Người con gái
Việt Nam của Tô Hữu và bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.
- Khôi lớp 9 (tức lớp 11 hiện nay), học kỳ II, theo đúng tiến trình lịch
sử văn học giai đoạn từ giữa thế kỷ XEX đến năm 1930 thuộc phân kỳ "Thời
cận đại" phần thơ được chọn lọc là bốn tác phẩm Tác giả Phan Bội Châw
bài Vì sao mất nước, và tiêu mục Văn chươììg yêu nước hai tác phẩm Bài ca
ỉitu biệt của Huỳnh Thúc Kháng, Chiêu hồn nước của Đông kinh nghĩa thục
Tiêu mục Nền quốc văn mới chọn học tác phẩm Thê non nước của Tản Đà.
Trang 18- Khối lớp 10 (tức lóp 12 hiện nay) ngoài những bài khái quát số tác
phẩm được chọn giảng là 11, trong đó, phần thơ lãng mạn mà cụ thể là Thơ
mới chỉ được học chung trong bài khái quát không một bài thơ mới nào được
chọn giảng ngoài một đoạn trích nhỏ trong tác phẩm "Dân biểu tranh nâng"
của Tú Mỡ thuộc loại hình thơ trào phúng Hoàn toàn vắng mặt thơ của Hồ
Chí Minh
Bộ sách giáo khoa THPT hoàn chỉnh đầu tiên chúng tôi chọn làm đối
tượng khảo sát được biên soạn lần thứ nhất (do nhóm tác giả : Đỗ Đức Hiểu -
Vũ Đình Liên - Lê Trí Viễn), chỉnh lý lần thứ tư (do nhóm tác giả : Tạ Phong
Châu - Phan Trọng Luận in lần thứ tám, Nhà xuất bản Giáo dục - Hà Nội,
1963) Lần đầu tiên trong sách giáo khoa Văn Tám có khái niệm "Văn thơ
hoà bình" Văn thơ là một khái niệm có tính chất tạm thời Sự giới thiệu
cũng sơ lược Chỉ chọn giảng hai bài thơ (ra đời năm 1958) chứ không có
phần giới thiệu khái quát Khái niệm thơ Việt Nam hiện đại chưa được sử
dụng để chỉ toàn bộ thơ Việt Nam thế kỷ XX
Văn học giai đoạn từ 1930 đến 1945 không đặt dưới tiêu đề văn học
"Thời kỳ cận đại" nhưng cũng không có tiêu đề văn học "Thời kỳ hiện đại"
kèm theo Giai đoạn văn học này được giới thiệu trọn vẹn trong học kỳ I lớp
10 theo bố cục bốn chương lớn:
Chương ỉ : Khái luận về giai đoạn vân học từ 1930 đến 1945
Chương I I : Văn học lãng mạn (1930 - 1945).
Chương I I I : Văn học hiện thực.
Chương IV : Phong trào văn học đấu tranh cách mạng.
Trong chương Khái luận, văn học được nhìn nhận đánh giá dưới nhãn
quan có tính hỗn hợp vừa theo phương pháp sáng tác vừa theo xu hướng tư
tưởng chính trị: Văn học lãng man, Văn ỈÌOC hiên thưc, Văn ỈIOC cách mang
Thậm chí nhìn nhận đánh giá theo đặc điểm lưu hành của văn học (như Văn
học ỈIỢỊ) pháp) Văn học hợp pháp được chia thành Văn học nô dịch, Văn học
Ỉãỉig mạn, hiện thực và vân nghiên cíãi.
Khi đánh giá hình thức của Văn học, Thơ được giành m ột phần
in đậm và được đánh giá trên hai khía cạnh : Sự phát triển của Thơ
Trang 19mới và đặc điểm của Thơ mới với nhận định sự thắng lợi của thơ mới xuất phát từ hai lý do cơ bản:
"a Nó hợp với nhu cầu của lớp độc giả mới (tư sản, tiểu tư sản, trí
thức), lớp người này có nếp sống, tâm hồn, nhu cẩu về tình cảm, nghệ thuật khác hẳn lớp trí thức phong kiến, họ không chịu nổi những khuôn khổ gò bố, cứng nhắc của thơ Đường Thơ mới có khả năng diễn đạt được đầy đủ ỷ nghĩ tình cảm của họ hơn.
b Thành trĩ của văn thơ phong kiến cũng suy yếu lắm rồi, ngay
cả những nhà thơ của lớp trước có nhiều hán học như Tản Đà cũng đã
"phá cách, vứt điệu luật và làm những bài thơ theo điệu riêng, hoàn toàn tự do của mình" [54, 21].
Đổng thời chương Khái luận cũng đưa ra những nhận định về đặc
điểm thơ mới ở phương diện hình thức Đó là, thơ mới không bắt buộc phải có số câu, vần, luật như thơ Đường Thơ mới sử dụng mạnh bạo lối ngắt câu mới và chú trọng vận dụng khả năng âm thanh và nhịp điệu của ngồn ngữ dân tộc để diễn đạt trung thành cảm xúc tác giả
Âm điệu thường linh hoạt uyển chuyển hơn thơ cũ Ngôn ngữ trong thơ mới không quá trang trọng với nhiều tiếng Hán Việt, điển cố, điển tích
mà chủ yếu là ngôn ngữ rút ra từ tiếng nói phổ thông thường ngày nên nhẹ nhàng trong sáng, dễ hiểu "Với những đặc điểm trên thơ mới phát triển rất nhanh chóng Chỉ trong khoảng năm bảy năm, thơ mới đã có
đủ loại: Thơ trữ tình (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân D iệu ), Thơ trào phúng (Tú Mỡ, Đỗ Phồn), Anh hùng ca (Phạm Huy Thông), Thơ đấu tranh (TỐ Hữu)” [54, 22]
Đặc biệt, trong chương П Khái quát văn học lãng mạn, sách giáo
khoa đã đưa ra bốn nhận đinh về tính chất của văn học lãng mạn với những dòng chữ in đậm :
” - Tính chất chống luân lý lễ giáo và nề nếp phong kiến.
- Tính chất cải lương.
- Tính chất trốn tránh tiêu cực.
- Tính chất cá nhân, hưởng lạc, đổi truy ”.
Trang 20Cụ thể, liên quan đến phần thơ, sách giáo khoa đã đưa ra những dẫn chứng và lý lẽ nhằm làm sáng tỏ những tính chất ấy trong các tác
phẩm, tác giả Biểu hiện rõ nhất ở trong thơ là "tính chất trốn tránh,
tiêu cực Tính chất cá nhân, hưởng lạc, đồi trụy" Sách giáo khoa cho rằng các nhà văn lãng mạn nói chung sống tách rời nhân dân, tâm hồn của họ lúc nào cũng thấy cô đơn, hiu quạnh Nỗi buồn tràn ngập, họ chỉ có thể giải quyết bằng cách đi trốn : trốn vào thiên nhiên mây gió, trăng (Xuân Diệu); trốn vào quá khứ, luyến tiếc một thời oanh liệt đã qua (Thế Lữ, Quách Tấn); trốn vào phiêu lãng, trốn vào cõi tiên cõi phật (Thế Lữ, Huy Cận, Hàn Mạc Tử); trốn vào nghệ thuật thuần tuý (nhóm Xuân Thu nhã tập) Đặc biệt là trốn vào tình yêu Không một nhà thơ lãng mạn nào khồng nói về tình yêu, nhất là Xuân Diệu
"Nhưng đây chỉ là tình yêu không gắn ỉiền với sản xuất, phần lớn là tình yêu phức tạp, vớ vẩn, phản trắc, điên loạn của những kẻ "nhàn cư", nhưng kẻ ngồi không, sống xa thực tế tách rời nhân dân" [54,
43] "Họ quan niệm "tôi là tôi là mục đích là cứu cánh" (Những
bước đường tư tưởng của tôi - Xuân Diệu) Họ ca tụng không chút dè
dặt, không chút ngượng mồm cái tôi, tôi yêu, tôi buồn, tôi thoát ly, tôi trụy lạc chủ nghĩa cá nhân trở thành trung tâm của văn học lãng mạn" [ 54, 43]
Bên cạnh đó, khi bàn về nghệ thuật của văn học lãng mạn, sách giáo khoa cũng đưa ra nhận định : "Một đặc điểm nữa của ngôn ngữ văn chương lãng mạn là có rất nhiều khả năng khêu gợi cảm giác, phần nhiều cảm giác
không lành mạnh ở những thanh niên lãng mạn, xa thực tế Văn thơ lãng mạn nguy hiểm một phần chính là ở chỗ đó" (Rất rõ ở trong thơ Xuân Diệu,
thơ Vũ Hoàng Chương ) [54, 48]
Từ những nhận định đánh giá về tính chất và đặc điểm nghệ thuật của
trong giai đoạn 1930-1945 thật là phức tạp Ta không thể gạt phăng giá trị của nó hoặc xêp nó cùng một loại với văn học nô dịch, nhưng cũng không thể xem nó có giá trị ngang với văn học hiện thực, càng không thể so sánh với văn học cách mạng Vì văn học lãng mạn có quá nhiều thiếu sót, có quá nhiều tính chất tiêu cực, thoát ly, đồi trụy, có hại cho thanh niên Văn học
Trang 21lãng mạn truyền cho người đọc rất nhanh chóng cái nọc độc cá nhân chủ
nghĩa, khoái lạc chủ nghĩa, cảm giác chủ nghĩa Nói chung phần tác dụng
tích cực của nó quá ít ỏi và chỉ là về hình thức Khách quan nó chỉ có lợi cho thực dân, vì nó ru ngủ, làm mềm yếu thanh niên, làm cho họ xa rời thực
tế đấu tranh dân tộc, tiếp thu chậm ánh sáng cách mạng của Đảng” [54, 49]
Chính vì những nhận định trên mà toàn bộ thơ ca lãng mạn Việt Nam
1930 - 1945 mà cụ thể là thơ mới đã không được chọn một tác phẩm nào, một tác giả nào vào chương trình học trong bộ sách giáo khoa đầu tiên của nển giáo dục cách mạng
Trên nển nhận thức ấy, toàn bộ học kỳ П của năm lớp 10 (lóp cuối cấp) sách giáo khoa giành cho việc học về văn học Việt Nam từ 1945 đến nay Một trong những nội dung quan trọng của bài khái quát giai đoạn là
nhận định "Sự lãnh đạo của Đảng frong ván học" [54, 25] nhấn mạnh
thành một mục lớn tương đương với một bài với các nội dung cụ thể : Sau cách mạng tháng 8, Đảng đã có điều kiện lãnh đạo văn nghệ một cách trực tiếp và toàn diện Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các nhà văn đã nỗ lực chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng, để có thể mang ngòi bút của mình ra phục vụ đắc lực cho công nông binh Nền vãn học của chúng ta là một nền văn học có tính chất dân tộc, hiện thực và nhân dân
Văn học đã làm nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ "Nhà văn không phải chỉ ghi chép lại cuộc đời mà còn tham gia cải biến cuộc đời theo đúng hướng của chủ nghĩa xã hội như bất cứ một chiến sỹ cách mạng nào khác" [54, 38]
Nhận định vê thơ từ 1945 đến nay [54, 39] cũng được giới thiệu trong
một tiết học (tương đương với một bài) Bài này đã đưa ra những ý kiến quan trọng : Thơ ca sau 1945 đã phát triển phong phú và mạnh mẽ, đổi mới đé tài, phản ánh những tình cảm lớn của thời đại mà chủ yếu vẫn là lòng yêu nước xuyên các thế hệ, tinh thần chiến đấu khắc phục khó khăn, tinh thần lạc quan tin tưởng Hình thức thơ ca sau cách mạng vẫn "tiếp tục phát triển những hình thức cổ truyền của dân tộc : ca dao, hò, vè, lối thơ lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn v.v được dùng để diễn tả những cảm nghĩ của thời đại Song không chỉ dừng ở các thể thơ truyền thống "Nội dung mới cũng đòi hỏi một
Trang 22hình thức mới Một thể thơ đặc biệt không gò bó trong số chữ, số câu, không
cứng nhắc trong vần điệu, đã được hình thành Những bài Hoan hô chiến
sĩ Điện Biên, Ta đi tới của Tố Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên là những thành
công tốt đẹp của thể thơ này" Bởi nó đủ phóng khoáng để chứa đựng một
nội dung tình cảm sôi nổi nhưng cũng vẫn giữ được cốt cách êm đềm của tiếng nói Việt Nam
Ngoài ra bài Nhận định về thơ từ 1945 đến nay cũng giành riêng một mục lớn để nêu lên "nhược điểm của thơ ca sau cách mạng ' Nhược điểm
được đề cập ở hai khía cạnh :
"Khuyết điểm chính là đa số các nhà thơ của chúng ta còn thiếu cái hơi thở lớn lao của thời đại Do thế mà còn thiếu chất lãng mạn cách mạng trong thơ để nâng cao tâm hồn người đọc còn thiếu những bản anh hùng
ca của thời đại Nhất là những ngày đầu cách mạng và kháng chiến trong thơ
ca còn nhiểu cái "rót" của tư tưởng tình cảm cũ, xa lạ với công nông, v ề sau
đã có nhiều tiến bộ rõ rệt nhưng thơ ca về con người công nhân hãy còn thưa thớt, vắng vẻ
Về hình thức vẫn còn thiếu cái nhuần nhuyễn về nghệ thuật cần được "tăng cường chất thơ, chất suy nghĩ, hình tượng, chất cảm xúc, chất nhạc điệu hơn nữa [54, 49]
Sau những đánh giá bao quát có năm tác phẩm thơ được chọn giảng:
Dọn về ỉàng của Nông Quốc Chấn sáng tác 1950, Thăm ỉúa của Trần Hữu
Thung sáng tác 1950, Đất nước của Nguyễn Đình Thi (1948 - 1955) và giới thiệu phân tích giá trị tập thơ Việt Bắc cũng như giảng văn bài thơ Việt Bắc
Trang 23của đất nước Song nó mới chỉ dừng lại ở việc đáp ứng mục tiêu giáo dục của
ở bộ sách trước đã có sự vượt xa
Vẻ chương trình, cấu tạo cũng tương tự như bộ SGK những năm 60 -
70 Nghĩa là cũng cấu tạo theo trật tự thời gian từ cổ điển đến hiện đại Song, trong mỗi khối lớp vẫn đan xen học những tác phẩm hiện đại khiến tiến trình lịch sử văn học sắp xếp theo trật tự thời gian vẫn bị phá vỡ
- Khối lớp 10 (tức lớp 8 cũ) học kỳ П chủ yếu học "Văn thơ hiện đại"
(chủ đề về cách mạng và kháng chiến chống Pháp), khồng có bài khái quát
chung chỉ chọn giảng 6 tác phẩm thơ : Cảnh rừng Việt Bắc của Hồ Chí Minh, Đi thuyền trên sông đáy của Hồ Chí Minh, Đồng chí của Chính Hữu,
Bao giờ trỏ ỉại của Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất của Hoàng Trung
Thông, Thăm lúa của Trần Hữu Thung.
- Khối lớp 11 (tức lớp 9 cũ), cuối học kỳ I, theo tiến trình lịch sử văn học, trong Chươtìg III - Văn học Việt Nam từ đầu th ế kỷ XX đến năm 1930,
khi đánh giá vể tình hình Văn học, SGK có đề câp đến việc đổi mới Văn học
trong giai đoạn này Song, nội dung đổi mới chỉ dừng ở việc nêu lên những
đánh giá bước đầu trên hai khía cạnh : "Trước hết là vấn đề quốc ngữ" - sự tiện lợi và vai trò của nó Chữ quốc ngữ gắn liền với văn xuôi song việc này còn gặp khó khăn vì việc sử dụng câu văn xuôi mới còn vụng về : "Câu văn
lê thê, thiếu rành mạch, hoặc nặng nề khó hiểu” Sau nữa là vấn đề loại thể Sách giáo khoa cho rằng : cần bổ sung các thể loại tiểu thuyết, nghiên cứu, phê bình nghị luận bằng tiếng Việt thay vì bằng chữ Hán và chữ Nôm, như
Trang 24trước kia Vì vậy cũng cần đổi mới phương pháp Bên cạnh đó, báo chí, dịch thuật được đánh giá là một phần quan trọng trong hoạt động văn học và có tác dụng lớn trong việc góp phần xây dựng nền văn học mới.
Khi đánh giá đặc điểm của văn học thời kỳ này, SGK vẫn giữ cách phân chia vãn học như bộ SGK những năm 60 - 70 "Văn học giai đoạn này
gồm ba bộ phận : Vân học nô dich, văn học bước đầu có xu hướng lăng
mạn hoặc xu hướng hiện thực phê phán ; văn học cách mạng" [82, 128].
Phần tuyển chọn các tác phẩm cụ thể có sự thay đổi đáng kể : Tác
phẩm Thề non nước của Tản Đà tiếp tục được chọn giảng Nhưng với tác gia Phan Bội Châu, tác phẩm Vì sao mất nước không được chọn giảng mà thay vào đó là Bài ca chúc Tết Thanh niên và ba tác phẩm đọc thêm : Lưu biệt khi
xuất dương, Cảm tác trong nhà tù Quảng Đông, Hải ngoại huyết thư Chiêu hồn nước của Đông Kinh nghĩa thục được chuyển từ giảng văn sang đọc
Mồ anh hoa nỏ của Thanh Hải, Đất quê ta mênh mông của Dương Hương
Ly, Người đi tìm hình của nước của Chế Lan Viên, Bác ơi của Tố Hữu, Đoàn
thuyền đánh cá của Huy Cận, Đườìig ra mặt trận của Chính Hữu.
- Khôi lớp 12 (tức lớp 10 cũ) Văn học Việt Nam được kết cấu thành hai
phần :
+ Phẩn thứ n h ấ t: Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -1945.
+ Phần thử h a i: Văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám đến nay.
Trong đó, phần văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 được chia làm bốn chương :
Trang 25Chương I : Khái quát
Chương n : Văn học ỉãng mạn được giới thiệu trong 7 trang có tính chất khái quát Ngoài hai phần giới thiệu về "các tổ chứ c' và đánh giá "ít
to trong mục n "Văn học lãng mạn Việt Nam căn bản là bạc nhược suy
đồi” [154,10] Không trích giảng một tác phẩm nào song có tuyển một bài
đọc thêm : Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ nhưng trong phần câu hỏi hướng
dẫn tiếp nhận tác phẩm, SGK lại yêu cầu "Hãy phân tích và phê phán" [154,16]
Chương III : Văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 được giới
thiệu trong 108 trang và đề cao giá trị của dòng văn học này trong
những dòng chữ in nghiêng : "Vân học hiện thực phê phán trong giơi
đoạn ỉ 930 - 1945, đã phản ánh được nhiều mặt và khá trung thành x ã hội thực dân nửa phong kiến và đ ã tố cáo, phê phán c h ế độ đó, Văn
phong kiến diễn tả nổi thống kh ổ của các tầng ỉớp, nhân dân lao động, ghi ỉạỉ ỏ một mức độ nhất định sự phản ứng của nhân dân ta, tinh thán đoàn kết đấu tranh của công nông bỉnh ." [154, 19, 20, 21]
Các tác phẩm được chọn giảng chủ yếu là văn xuôi, song có một bài
thơ trào phúng của Tú Mỡ được chọn giảng là Dân biểu tranh năng
(đoạn trích)
Chương IV - Văn học cách mọng ỉ 930 - 1945 được giới thiệu trong 66
trang Ngoài bài khái quát hai tiết với những đánh giá "Văn học cách mạng
về số lượng ít hơn văn học hiện thực phê phán và văn học lãng mạn, nhưng
về tư tưởng, giá trị của nó rất cao thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lê nin - nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa đã đưa vào văn học một nội dung
và một nghệ thuật mới không thể tìm thấy ở các dòng văn học khác của giai đoạn" [154, 130] phần giới thiệu tác phẩm được chia làm ba mảng lớn :
M ảng th ứ nhất - Tập thơ T ừ ấy của Tố Hữu được học khái quát
trong hai tiết, tiếp đó trích giảng hai bài thơ : Con cá chột nưa (1 tiết)
và Bà má Hậu Giang (2 tiết), đọc và bình chú năm tác phẩm : Từ ấ y,
Tiếng hát sông Hương, Trăng trố i, Đ i, Xiiân đến (1 tiết).
Trang 26M ảng th ứ hai - Tập thơ N hật kỷ trong tù của Hồ Chí Minh giảng
khái quát 2 tiết, trích giảng hai bài thơ : Bốn tháng rồi và Giải đi sớm trong hai tiết, đọc và bình chú 6 bài thơ: Ngắm trăng, Người bạn tù
thổi sáo, Ốm nặng, Học đánh cờ, M ới ra tù tập leo núi, Cảm tưởng đọc
"Thiên gia thỉ ” trong 1 tiết.
M ảng th ứ ba - Đọc và bình chú thêm về thơ văn cách mạng 1930
- 1945 (trong 2 tiết), sáu bài thơ : Bài ca cách m ạng, ca dao tố cáo tội
ác của thực dân (khuyết danh), Không giam được trí óc (Xuân Thủy),
Ý xuân (Lê Đức Thọ), Nhắn bạn (Hoàng Văn Thụ), Là thi s ĩ (Sóng
Hồng)
Phần Văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám đến nay được chia làm 6 chương- Trong đó, chương I Khái quát (toàn giai đoạn), chương II giới thiệu khái quát thơ ca từ cách mạng tháng Tám đến nay ( 2 tiết) Thơ T ố Hữu sau cách mạng tháng Tám (2 tiết ) và 7 tác phẩm chọn giảng trong 12 tiết gồm : Đ ất nước của Nguyễn Đình Thi (1 tiết),
Dọn về làng của Nông Quốc Chấn (1 tiết), Ngói mới của Xuân Diệu (1
tiết), T ổ quốc bao giờ đẹp th ế này chăng? của Chế Lan Viên (2 tiết),
Bài ca chim Chơ Rao của Thu Bồn (2 tiết), Việt Bắc của Tố Hữu (2
tiết), Bài ca Xuân 61 của Tô Hữu (2 tiết), Chào Xuân 67 của Tố Hữu (1 tiết) Phần đọc và bình chú (1 tiết) năm bài thơ : Đ i họp của Sóng Hồng, N hớ của Hồng Nguyên, Bàn tay ta năm ngón mở bình minh của Huy Cận, Nghe em vào Đại học của Giang Nam, Vui th ế hôm nay của TỐ Hữu Chương IV (thuộc về học kỳ II) giới thiệu sự nghiệp văn
thơ H ồ Chủ tịch Bài Khái quát được học trong 2 tiết Ngoài phần Văn
xuôi được chọn giảng trong 4 tiết, phần thơ chỉ giới thiệu trong mục đọc và bình chú 2 tiết cho 10 bài thơ chia làm 2 chùm : Chùm thơ chữ Hán, năm bài được Bác viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm
: Nguyên Tiêu, Thu dạ, Báo Tiệp, Tặng Bùi Công, Thất cửu và chùm thơ chúc Tết - gồm năm bài : Chúc năm mới (1947), Chúc Tết 1949, Mừng Xuân
1967, Mừng Xiiân 1968, Mừng xuân 1969 Khác với bộ sách giáo khoa
những năm 1960 - 1970, ở bộ sách giáo khoa những năm 80, thơ ca
Trang 27Hổ Chí M inh thuộc vể hai thời kỳ trước và sau cách m ạng tháng Tám 1945 đã được chọn giảng khá kỹ.
Nhìn chung, dù chiến tranh đã qua đi, đất nước đã thống nhất song các tác phẩm thơ ca được chọn giảng vẫn tập trung chủ yếu phản ánh cuộc sống chiến đấu chống giặc ngoại xâm gian khổ và hào hùng của dân tộc Nói cách khác, các tác phẩm thơ được chọn giảng vẫn chỉ tập trung phản ánh chủ đề yêu nước Yêu nước trong chiến đấu, trong lao động sản xuất - trong mọi hoàn cảnh sống Phải chăng cần có một thời gian cho sự tĩnh tâm để mọi hoạt động đi vào quỹ đạo của thời bình với những nhu cầu đời thường như yêu thương, lo lắng, giận hờn chứ không chỉ một chiều anh hùng trong suy nghĩ, trong hành động, trong chiến đấu, trong sản x u ấ t dù đó là phẩm chất đẹp nhất trong thời chiến
Nửa cuối những năm 80, khi đất nước đặt ra yêu cầu phải đổi mới vể mọi phương diện, công cuộc cải cách giáo dục được đặt ra và triển khai m ột cách khẩn trương, trong đó, có việc cải cách m ôn văn trong nhà trường phổ thông
1.4 Thơ Việt nam hiện đạỉ trong bộ sách giáo khoa trung học
phổ thông những năm 90 và bộ sách giáo khoa chỉnh lý
Vào đầu năm học 1990 - 1991, bộ sách giáo khoa lớp 10 CCGD chính thức được đưa vào giảng day và học tập trong nhà trường trung học phổ thông Liên tục trong ba năm học : 1990 - 1991, 1991 - 1992,
1992 - 1993 thầy và trò khối trung học phổ thông đã lần lượt đón nhận một hệ thống SGK văn có nhiều điều mới, khác so với hệ thống SGK văn đã có từ mấy chục năm về trước ;
Cái mới và khác được biểu hiện ở nhiều phương diện Trước hết là
mới, khác trong cách b ố trí chương trình tập trung Thơ Việt Nam hiện đại
trước đây được bố trí học rải rác trong cả cấp học nay chỉ tập trung ở học kỳ
n năm lớp 11 đến hết lớp 12 theo đúng trình tự văn học sử với kiểu phân kỳ rút gọn theo ba thời kỳ lớn : từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (gọi tắt là thời
Trang 28trung đại), từ đầu thế kỷ XX đến tháng 8/1945 (gọi tắt là thời hiện đại), từ tháng 8/1945 đến 1975 (gọi tắt là thòi đương đại).
Thứ hai, mới và khác ở cách bố trí hệ thống bài khái quát Nếu ở hai
bộ sách trước, riêng phần văn học hiện đại được giới thiệu trong sáu bài khái quát thì ở bộ sách này, theo phân kỳ mối chỉ có hai bài khái quát về giai
đoạn văn học là bài "Văn học Việt Nam từ đầu th ế kỷ XX đến tháng 811945"
và "Văn học Việt Nam từ tháng 8/1945 đến 1975".
T h ứ ba, mới khác ở cách bố trí học tác giả, tác phẩm Chương
trình cũ cũng như mới cải cách đều chia ra hai mức học : Ở mức tác gia thì có giới thiệu chung một đến hai tiết rồi mới học tác phẩm (của tác giả đó) Ở mức tác phẩm thì chỉ học tác phẩm cụ thể mà không giới thiệu chung ngoài lời tiểu dẫn đơn giản Xét trong toàn cấp học, số lượng tác giả, tác phẩm được chọn lọc giảm đáng kể so với bộ sách dùng trong những năm 1980 Chương trình mới, quỹ thời gian giành cho phần Văn học Việt Nam bị giảm đi khá nhiểu Tổng số giờ của cả cấp học trước đây là 254 tiết nay chỉ còn 198 tiết Trong chương trình
cũ số tiết giành cho môn Tiếng Việt - chỉ có 13 và môn Tiếng Việt cộng làm văn chiếm tỷ lệ hơn 1/3 tổng số tiết của chương trình thì nay chiếm 1/2 Cũng trong chương trình cũ, phần văn học nước ngoài chiếm tỷ lệ 19/254 tiết nay trong chương trình mới tỷ lệ là 46/198 tiết
SỐ lượng tác giả và tác phẩm thơ hiện đại được chọn lọc cũng có sự thay đổi đáng kể Ở bộ SGK những năm 1980 số tác phẩm chọn giảng văn là
28 thì nay còn 22, số tác phẩm chọn đọc thêm là 31 thì nay còn 20, số tác giả có tác phẩm được chọn giảng là 26/29 thì nay là 16/19, số tác giả được chọn học với tư cách tác giả là 3/29 thì nay là 3/19
Nhìn chung, thực hiện mục tiêu của công cuộc cải cách giáo dục
bộ môn Văn : "phấn đấu bền bỉ, liên tục để nâng cao tính nhân bản cùng tính đa dạng và đích thực của môn Văn [149, 9], SGK cải cách giáo dục đã kế thừa được bộ sách trước đó, giữ lại những tác giả tác phẩm văn học có giá trị nhân bản cao đẹp và giá trị Văn chương đích thực từ lâu đã được chọn lọc Bên cạnh đó lựa chọn và m ạnh dạn đưa
Trang 29vào chương trình những tác giả, tác phẩm thực sự tiêu biểu và có giá trị đáp ứng mục tiêu giáo dục thời đổi mới Rõ nét nhất có lẽ phải kể đến
bộ phận Thơ mới Nếu trước đây Thơ mới chỉ được giới thiệu trong bài
khái quát với những nhận định nặng nề, "cơ bản là suy đổi" thì nay trong chương trình mới nó được trả vể đúng vị trí - Là một bộ phận không thể thiếu của thơ V iệt Nam hiện đại - đánh dấu quá trình hiện đại hóa thi ca Việt Nam
Cũng theo sự thay đổi này, hai tác gia lớn là Hồ Chí Minh và Tố Hữu vẫn được chọn giảng với tư cách tác gia, nhưng Phan Bội Châu "đỉnh cao nhất của văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XXй, thì chỉ còn được chọn giảng vói tư cách tác phẩm Thay vào đó là Xuân Diệu - nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới Với một quỹ thời gian thu hẹp, có lẽ sự chọn lựa như vậy là tương đối hợp lý bởi nó đáp ứng được tính đa dạng của phong cách và thi pháp thơ hiện đại
Có thể nói bộ SGK cải cách giáo dục là bộ SGK hoàn chỉnh nhất tính cho đến những năm 90 Nhưng cũng có một thực tế là : SGK cải cách giáo dục được soạn và in thành hai bộ dùng cho hai miền Nam Bắc dựa trên một căn cứ chung là khung chương trình của bộ Song việc lựa chọn học các tác phẩm cụ thể lại có sự khác nhau Điều đó gây nên những băn khoăn trong dư luận xã hội- Đồng thời với hai bộ SGK cải cách giáo dục vào những năm 90 còn có hai bộ sách phân ban : Ban Khoa học xã hội và Ban Khoa học tự nhiên - kỹ thuật dùng cho nhưng trường thí điểm phân ban của bậc trung học phổ thông Những đóng góp của các bộ sách phân ban đã được ghi nhận đây
đó trong các hội thảo khoa học Song, hiện tượng quá tải cũng được dư luận
và những người có trách nhiệm lên tiếng Chính vì vậy chương trình phân ban đã phải tạm dừng công việc thí điểm
Bộ Sách giáo khoa chỉnh lý hợp nhất năm 2000, hiện nay được đưa vào sử dụng chung trong cả nước kể từ năm học 2000 - 2001 có một ý nghĩa quan trọng Nó đáp ứng sự mong mỏi của thầy cô giáo và học sinh của cấp học này cũng như dư luận xã hội
Trang 30v ề cơ bản nó bộc lộ đúng với tinh thần của bộ sách là hợp nhất hai bộ sách CCGD và chỉnh lý những sai sót đã được dư luận góp ý trong những năm qua.
Cụ thể về bài khái quát chính thức dùng bài к hái quát Văn học Việt
Nam từ 1945 đến 1975 và bài giới thiệu tác gia : Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh của Giáo sư Hà Minh Đức (như đã chỉnh lý ở bộ SGK CCGD vào cuối
những năm 90) Bài giới thiệu tác gia Xuân Diệu chọn tuyển bài của giáo sư
Hoàng Như Mai
v ề các tác phẩm cụ thể cũng có sự điều chỉnh trong việc lựa chọn giảng văn và đọc thêm Song với phần thơ Việt Nam hiện đại thì
sự điều chỉnh khổng lớn Chẳng hạn : Thời kỳ Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 :
- Các bài đọc thêm về thơ Phan Bội Châu không được chọn nữa thay
vào đó là hai bài thơ của Phan Châu Trinh : Côn ỉôn tức cảnh và Điếu Dươỉig
Trường Đình.
- Thơ Duyên của Xuân Diệu trong bộ SGK CCGD do trường Đại học
Sư phạm Hà Nội I biên soạn để trong phần đọc thêm nay chuyển sang Giảng văn
- Bài thơ Cây Đàn muôn điệu của Thế Lữ được đưa vào phần đọc
thêm
- Hai bài thơ Lên núi và Trên đường của Hồ Chí Minh trong phần đọc thêm được thay thế bằng bài thơ Đi đường của Người.
Thời kỳ Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 chỉ có Bài thơ Lên núi
của HỒ Chí Minh được bổ sung vào phần đọc thêm, còn tất cả các tác phẩm khác giữ nguyên
Chỉ có một điêu chúng tôi muốn lưu ý là sự chỉnh lý được bộc lộ
rõ nhất là ở việc điểu chỉnh các câu hỏi hướng dẫn học bài theo hướng tích cực, sát với trình độ của học sinh hơn và cũng phù hợp với quá trình tiếp nhận văn chương
Trang 31Tóm lại, tiếp xúc dù một lần hay có điểu kiện làm việc nhiều lần với các bộ SGK bậc THPT từ khi chúng ra đời đến nay không ai có thể phủ nhận được những đóng góp thực sự của bộ SGK cải cách giáo dục và những điểu chỉnh kịp thời của bộ SGK chỉnh lý hợp nhất năm 2000.
Trang 32Chương 2
TÌM HIỂU NHỮNG NHẬN ĐỊNH CHƯNG CỦA SÁCH GIÁO KHOA
VỂ THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
2.1 Quan đỉểm phân kỳ và phân dòng trong các bài khái quát
2.1.1 Quan điểm phân kỳ
Các thời kỳ văn học thuộc một trong những khái niệm về sự vận động
của lịch sử vãn học Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của văn học cũng như
khi tiếp nhận văn học người ta không thể không quan tâm tới khái niệm thời
kỳ vãn học
Trong sự phát triển của mình, nền văn học nào cũng có những cái
mốc lịch sử nhất định Những mốc này có thể trùng với điểm mốc trong lịch
sử xã hội nhưng cũng có thể không Thực tế cho thấy việc phân kỳ văn học
là một công việc không đơn giản Một số người phân chia lịch sử văn học
dựa vào cột mốc của lịch sử dân tộc Một số khác đòi hỏi phải tính đến đặc
trưng của văn học, đến vận động bên trong của sáng tác.Nhưng ai cũng hiểu
văn học có lịch sử riêng của mình- Lịch sử đó đồng hành với lịch sử chung
nhưng không trùng khít và có những nét riêng Vì vậy, mỗi thời kỳ văn học,
cho dù có trùng hay không trùng với lịch sử chung, cái chính là vẫn phải có
nội dung phát triển riêng đánh dấu sự phát triển hay một bước ngoặt trong tư
duy nghệ thuật, trong đời sống văn học hay đời sống tinh thần của xã hội
Cả hai hộ SGK trước cải cách đều thể hiện cách phân kỳ dựa trên các
mốc lịch sử xã hội Vì vậy lịch sử văn học viết Việt Nam được chia làm bốn
thời kỳ Cụ thể:
kiến thịnh trị nhất.
Trang 33- Thời kỳ thứ hai, từ th ế kỷ thứ XVI là lúc ch ế độ phong kiến bắt đầu
suy tàn cho đến năm 1958 là năm thực dân Pháp bắt đẩu xâm lược nước ta.
- Thời kỳ thứ ba, từ năm 1958 đến năm 1930 là năm thành lập Đảng
cộng sản Đông Dương.
- Thời kỳ thứ tư, từ năm 1930 đến nay.” [152,11]
Công cuộc đổi mới của đất nước đã khiến cho Hnh vực nghiên cứu lịch
sử văn học cũng có sự đổi mới rõ rệt Một quan điểm hợp lý trong phân kỳ văn học được các nhà nghiên cứu xem xét và công nhận Kể từ bộ SGK cải cách giáo dục đến bộ SGK chỉnh lý hợp nhất năm 2000 đều nêu rõ quan niệm và căn cứ để phân kỳ văn học Việt Nam Cả hai bộ SGK đều xác định:
“Lịch sử văn học gắn chắt với lịch sử xã hội, lịch sử chính trị của đất nước Tuy nhiên, không nên đồng nhất lịch sử văn học với lịch sử chính trị, xã hội Chỗ phân biệt ở đây là đối tượng khác nhau của mỗi bộ môn lịch sử: đối tượng của lịch sử chính trị, xã hội là những sự kiện chính trị xã hội, còn đối tượng của lịch sử văn học trước hết là các sự kiện văn học, tức là những áng văn, những nhà văn, những trào lưu văn học, và bao trùm hơn cả là tư tưởng thẩm mỹ chi phối hệ thống thi pháp chung của cả một thời kỳ lịch sử văn học” [25,5]
Theo quan điểm ấy, lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nay (tính đến năm 1975) được chia làm ba thời kỳ lớn:
1 Thời kỹ từ th ế kỷ Xđến hết th ế kỷ ХПС
2 Thời kỳ từ đầu thếkỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945.
3 Thời kỳ từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay.
Sự phân kỳ văn học không chỉ là những đơn vị đo thời gian tồn tại của vãn học mà còn là khái niệm nói lên sự vận động, phát triển của sáng tác và của tư duy nghệ thuật
Trang 34Việc cung cấp những kiến thức về sự phát triển của lịch sử văn học qua các thời kỳ dựa trên sự vận động nội tại của nó sẽ mang lại cho học sinh nhiều điếu bổ ích Nó trang bị cho các em một cách nhìn khoa học vào đối tượng Nó giúp các em hình dung văn học không phải như cái gì xác định lúc nào cũng như vậy, mà như một hiện tượng luôn luôn biến đổi và có lịch sử của chính mình Điều đó góp phần vào việc phát triển tư duy biện chứng đối với học sinh Bên cạnh đó, những kiến thức về các thời kỳ văn học theo quá trình vận động lịch sử của nó cũng giúp cho học sinh có cái nhìn chung về toàn bộ những tác giả, tác phẩm được học trong chương trình, góp phần bồi dưỡng tư duy, khái quát cho các em.
Do cách phân kỳ khác nhau, dựa trên những văn cứ khác nhau nên các
bộ SGK trước cải cách đưa ra nhiều tên gọi khác nhau để giới thiệu văn học
các giai đoạn thuộc nội hàm văn học Việt Nam th ể kỷ XX Chẳng hạn Văn thơ
từ ngày hoà bình [54,136] được dùng để chỉ một số sáng tác ra đời sau năm
1954, Văn thơ hiện đại (chủ đề về cách mạng và kháng chiến chống Pháp) [152,14], Văn thơ hiện đại (văn thơ chống mỹ cứu nước và xây dựng chủ
nghĩa xã hội) là những tiêu để, đề mục lớn trong các bộ sách giáo khoa Tất
cả các tiêu đề trên đều chỉ được đưa ra mà không có bài khái quát hay lời giải thích, giới thiệu kèm theo, do đó người tiếp nhận chỉ hiểu ở mức độ sơ lược
Đến bộ SGK cải cách và bộ SGK chỉnh lý hợp nhất năm 2000 thì khái niệm văn học Việt Nam hiện đại mới được xác đinh rõ " khái niệm hiện• • • • * • • • •
đại hoá được hiểu theo nghĩa: văn học thời kỳ này thoát ra khỏi hệ thống thi pháp của văn học thời phong kiến trung đại” (26, 64) Đặc biệt trong phần
kết luận bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu th ế kỷ XX đến 1945, SGK
đã đưa ra kết ỉuận: “cần thấy, nó đã kế thừa tinh hoa của truyền thống văn học dân tộc, khép lại sau lưng mình cả chín thế kỷ văn học để mở ra phía trước một thời kỳ mới với những thành tựu và kinh nghiệm sẽ còn ảnh hưởng
Trang 35lâu dài trong tương lai: thời kỳ văn học hiện đại trong quan hệ rộng rãi với
nhiểu nền văn hoá trên thế giới” [26, 80]
2.1.2 Quan điểm phân dỏng:
Khái niệm dòng văn học được sử dụng chủ yếu trong hai bộ SGK
trước cải cách xuất phát từ quan niệm phân kỳ và phân dòng gắn với đặc
điểm lịch sử xã hội có nhiều thay đổi, hai bộ SGK trước đây đã phân định rõ
các bộ phận văn học thành các dòng văn học ở bộ SGK những năm 60 - 70
nhận đinh văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1930 được sáng tác theo
ba xu hướng chính: xu hướng văn chương yêu nước, xu hướng lãng mạn, xu
hướng hiện thực; giai đoạn văn học Việt Nam từ 1930 đến 1945 đã được
phân biệt thành các dòng văn học : văn chương lãng mạn tiểu tư sản, văn học
cách mạng đi đôi với cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo và giữa
dòng văn học tư sản và văn học vô sản lại có dòng văn học hiện thực phê
bình Từ cách mạng tháng Tám trở đi, văn học vô sản ngày một phát triển
Bộ SGK những năm 80 chỉ phân loại dòng văn học ở giai đoạn 1930 -
1945 và sự phân loại này được in đậm trong một luận điểm thuộc phần đánh
giá tỉnh hỉnh vân học Việc phân rõ ba dòng văn học được SGK lý giải: “Văn
học giai đoạn này được chia làm ba dòng lớn, biểu hiện những ý thức giai
cấp khác nhau của những người đứng ở vị trí khác nhau trong cuộc đấu tranh
chống bọn thống trị
Dòng văn học cách mạng (hay đúng hơn là bộ phận văn học cách
mạng) là của các chiến sĩ và quần chúng cách mạng đứng ở mũi nhọn của
cuộc đấu tranh Nhà văn có ý thức “dùng bút làm đòn xoay chế độ” văn thơ
cách mạng là của giai cấp vô sản và có tác dụng mạnh mẽ đến quần chúng
tiến bộ
- Dòng văn học hiện thực phê phán phần lớn là của các nhà văn tiểu
tư sản lớp dưới Họ không đứng ở vị trí tiền tuyến, nhưng họ thông cảm với
nỗi khổ của quần chúng và biết oán ghét chế độ đương thời Tác phẩm của
Trang 36họ, tuỳ mức độ, có lợi cho phong trào đấu tranh chông áp bức bóc lột của
quần chúng tuy không tránh khỏi những hạn chế
- Dòng văn học ỉãng mạn là tiếng nói của ý thức tư sản và tiểu tư sản
Nhà văn không đề cập đến mâu thuẫn trung tâm của thời đại Tác phẩm của
họ nói chung không có lợi cho cuộc đấu tranh mà lại có hại” [154, 7]
Rõ ràng những nhận định trên xuất phát từ một quan niệm giai cấp và
lợi ích đấu tranh giai cấp cuả toàn dân tộc ta thời đó Điều mà SGK nhấn
mạnh khắc sâu cho học sinh chính là sự chi phối của tính giai cấp vào văn
học Văn học là tiếng nói của các giai cấp trong những vị trí đấu tranh khác
nhau Tính giai cấp ảnh hưởng trực tiếp vào sự phát triển văn học Tạo nên
những xu hướng, những dòng văn học
Đến bộ SGK CCGD và bộ SGK chỉnh lý hợp nhất năm 2000 thì quan
niệm về sự phân dòng văn học không còn in đậm nữa Khi đánh giá về đặc
điểm văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 trong luận điểm “Sự
phân hoá phức tạp thành nhiều xu hướng trong quá trình phát triển” [26, 71]
SGK đã tách văn học thành hai bộ phận để xem xét đánh giá Đó là “bộ phận
phát triển công khai, hợp pháp” trong đó nổi lên hai xu hướng chính: xu
hướng lãng mạn chủ nghĩa, xu hướng hiện thực chủ nghĩa và "bộ phận phát
triển hợp pháp hoặc nửa họp pháp” sản phẩm của những nhà văn - chiến sĩ
yêu nước - coi văn thơ trước hết là vũ khí đấu tranh cách mạng Dung lượng
của phần này cũng chỉ có 4 trang trên 16 trang của toàn bài khái quát
(Trong khi ở những bộ SGK trước đây thì mỗi dòng văn học ngoài phần giới
thiệu chung trong bài khái quát còn giành cả một chương viết cho mỗi
dòng)
CÓ lẽ, ngày nay, khi có sự hội nhập của văn học toàn thế kỷ theo một
quan niệm chung: Văn học hiện đại thì việc phân dòng, không còn đóng vai
trò quan trọng định hướng tư tưởng nữa Vì chúng ta quan niệm, văn học
Trang 37của toàn dân tộc trong thời buổi đau thương và ngặt nghèo đó Mỗi trang viết, mỗi câu thơ như “linh hồn dân tộc Việt Nam ta trong những truyền thổng đạo lý nhân bản được phát huy, trong từng cảnh vật bình dị, được mô
tả trong những phong tục ngàn xưa được tái hiện trong những gương mặt,
những dáng nét, những tính cách thân thuộc được khắc họa.” [26, 75]
Tình yêu quê hương đất nước là một nguồn thơ không bao giờ vơi cạn trong văn học Việt Nam ta Tùy theo hoàn cảnh lớn của lịch sử dân tộc và hoàn cảnh nhỏ của đời sống mỗi cá nhân mà có nội dung và sắc thái khác nhau Thơ ca Việt Nam hiện đại được viết ra chủ yếu trong những năm khói lửa chiến tranh ác liệt ở cả hai miền Nam Bắc, vì vậy tình yêu quê hương đất nước trong các sáng tác này vừa chân thật, sâu sắc, vừa có nội dung và sắc thái cụ thể, cá thể SGK văn học lớp 12 - tập 1 - sách chỉnh lý và hợp nhất
năm 2000 vẫn tiếp tục chọn giảng ba bài thơ Bên kia sông Đuốỉỉg của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, trích đoạn Đất nước trong trường ca
Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điểm Và cả ba tác phẩm trên thể
hiện rõ những đặc điểm đó
Ở tác phẩm của Hoàng Cầm, đất nước là quê hương Kinh Bắc cổ kính, tình đất nước là nỗi tiếc thương và căm giận trước những giá trị văn hóa của dân tộc, những cảnh sinh hoạt yên vui của nhân dân bị giặc tàn phá, là nỗi xót xa đau đớn trước những số phận bất hạnh của những con người đáng yêu, đáng quý trên quê hương mình
Ở tác phẩm của Nguyễn Đình Thi, tình đất nước gắn với tình cảm cách mạng với niềm vui giải phóng, với ý thức tự hào của người làm chủ và quyết tâm chiến đấu đến cùng bảo vệ quê hương đất nước mình
Bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm ra đời trong cao trào chống Mỹ cứu nước Trong cuộc đụng độ quyết liệt với tên trùm đế quốc này, tự nhiên buộc người ta phải suy nghĩ rất nhiều, rất mạnh vể con người Việt Nam, về lịch sử
Trang 38Việt Nam là một nển văn học thống nhất đat tới nhiều giá trị cao quý: giàu lòng yêu nước và đậm tinh thần nhân bản.
2.2 Những nhận định về các giá trị của thơ Việt Nam hiện đại
2,2.1 Thơ Việt Nam hiện đại vẫn tiếp tục truyền thống yêu nướcy
nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng:
Trong SGK Văn học 10 - tập 1- Sách chỉnh lý và hợp nhất năm 2000
có nêu lên nhận định: “nền văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷXIX có hai nội dung cốt lõi là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đao
Đó cũng là hai chủ đé lớn nhất và cũng là hai nguồn cảm hứng trữ tình lớn nhất của văn học dân tộc” [25, 86]
Khi đánh giá thành tựu văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng Tháng Tám năm 1945, SGK văn học 11 - tạp 1 - sách chỉnh lý hợp
nhất năm 2000 cũng có nhận định được in đậm: “Truyền thống tư tưởỉìg ỉớĩì
nhất và sâu sắc nhất của văn học ta ỉà lòng yêu nước, tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng” [26, 75].
Bao quát toàn chương trình văn học Việt Nam hiện đại và cụ thể trong phần thơ Việt Nam hiện đại (thuộc phạm vi thơ Việt Nam thế kỷ XX) chúng
ta cũng có thể rút ra được tinh thần đánh giá về thơ VNHĐ trong bộ SGK hiện nay Đó là thơ Việt Nam hiện đại vẫn tiếp tục truyền thống yêu nước, nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng
Trước hết, thơ VNHĐ đã kế thừa truyền thống yêu nước trong văn học dân tộc ta với những nội dung cơ bản: ý thức tự cường dân tộc, tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược, bảo vệ đến cùng non sông gấm vóc Việt Nam, chủ quyến Việt Nam, tình thương dân, lòng căm thù thù giặc, niểĩĩi tự hào vể lịch sử, giống nòi, về văn hoá dân tộc nhưng mặt khác nó cũng “đem đến cho truyền thống văn học những thế kỷ trước nội dung dân
Trang 39chủ sâu sắc” [26,75] Nó từ bỏ dần chủ nghĩa tôn quân mà xét cho cùng
chính là từ bỏ ý thức hệ phong kiến từng chi phối chủ nghĩa yêu nước trong
thời trung đại để gia nhập ảnh hưởng của ý thức hệ tư sản, và sau đó là ý thức hệ vô sản Phan Bội Châu quan niêm: “Dân là dân nước, nước là của dân” Và qua tác phẩm thơ ca của mình Phan Bội Châu cũng đã bộ lộ rõ tình yêu nước sâu nặng thắm thiết, lúc lạc quan, hào hùng trong một ý thức mới, một quan niệm mới:
"Non sồng đã chết sống thêm nhục
Hiền thành còn đâu học cũng hoài"
(Xuất Dương lưu biệt - Phan Bội Châu)
Khi xót xa, thiết tha, giục giã, sôi trào:
"Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trảng
Hai mươi năm lẻ đã từng bao chua với xót
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi.
Xếp bút nghiên mà tu dưỡĩig lấy tinh thần
Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn,
Dựng gan óc ỉên đánh tan sắt lửa
{Bài ca chúc tết thanh niên - Phan Bội Châu)
Bên cạnh những nội dung truyền thống đã thể hiện trong thơ ca yêu nước cách mạng theo xu hướng dân chủ cũ, một nét đặc trưng mới mẻ của sự thay đổi ý thức hệ (ý thức hệ vô sản) thay đổi lý tưởng chính trị xã hội ( lý tưởng xã hội chủ nghĩa) dựa trên một cơ sở triết học là chủ nghĩa Mác-Lênin,Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và các nhà văn vô sản đã gắn chủ nghĩa yêu nước với lý tưởng xã hội chủ nghĩa Khuynh hướng yêu nước này đã mang đến cho thơ ca nói riêng cũng như văn học nói chung một giọng điệu mới, một không khí lạc quan cách mạng mới, được coi là tiên quyết, là bển vững thậm chí có lúc, có người đã hổn nhiên, đơn giản nghĩ rằng văn học cách
Trang 40mạng vô sản thì không có cái bi mà chỉ có cái hùng Song cuộc đời sẽ điều chỉnh lại mọi điều cần điều chỉnh Nhưng sự thật đã một thời, chủ nghĩa yêu nước trong thơ ca cách mạng vô sản luôn tràn đầy không khí lạc quan phơi
phới Đáng nói hom ở đây là tinh thần lạc quan cách mạng đã gắn với ý thức
và lòng quyết tâm đấu tranh cách mạng và cuối cùng trở thành hiện thực chiến thắng chứ không chỉ là lãng mạn suông Những câu thơ kết thúc trong
bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng như những lời thề không nản lòng sòn chí
quyết tâm thực hiện đến cùng lý tưởng cách mạng của những người chiến sĩ
vệ quốc quân Cho nên dù đã ngã xuống trên đường hành quân, hồn thiêng (tinh thần của các anh) vẫn đi vùng đồng đội, vẫn sống trong lòng đồng đội:
“Tây Tiên người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
Chủ nghĩa yêu nước được thể hiện vô cùng rực rỡ trong thơ ca yêu
nước và cách mạng ở cả hai khuynh hướng (dân chủ tư sản cũ và dân chủ
mới) đồng thời nó cũng còn thể hiện một cách kín đáo hơn qua bộ phậu văn học hợp pháp Ngoài những nội dung tình cảm yêu nước theo quan niệm thông thường (đĩ nhiên mức độ biểu hiện có thấp hơn so với văn học trực tiếp
đấu tranh cách mạng), điều đáng nói là sự biểu hiện lòng yêu nước ở chính
việc sáng tạo văn học nghệ thuật Như một nhà nghiên cứu từng nói: “Một dân tộc mất chủ quyền thì còn có nhiều cơ hội giành lại chủ quyền Chứ đã mất đến cả nền văn hoá, nền văn học, mất đến cả tiếng nói mẹ đẻ thì hẳn là
sẽ mất vĩnh viễn” Phải chăng hiểu thấu điều đó, các nhà thơ thuộc bộ phận hợp pháp đã dồn tất cả tình yêu nước vào tình yêu tiếng Việt Vì vậy họ đã dồn hết tâm huyết của mình làm cho văn chương tiếng Việt hay thêm, tiếng Việt văn chương đẹp thêm Đó không chỉ là hành động văn chương đơn thuần mà còn là hành động yêu nước, cứu nước nằm trong sự trỗi dậy chung