Tài liệu ôn thi Đại học môn Ngữ văn. Tổng hợp những kiến thức cô đọng nhất về các tác giả tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11 và Ngữ văn 12. Những nội dung này có thể sử dụng cho tất cả các dạng đề phân tích tác giả, tác phẩm; đặc biệt hữu ích để viết phần mở bài, giới thiệu chung và kết bài.
Trang 1HAI ĐỨA TRẺ - THẠCH LAM
1 TÁC GIẢ
Thạch Lam là một nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ 30 -
45 Ông có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ, trong đó ông đặc biệt khẳng định chức năng cao quý của văn chương đối với cuộc sống
Thạch Lam có biệt tài về truyện ngắn
Là một nhà văn lãng mạn nhưng tác phẩm của ông lại giàu hiện thực, thấm đượm lòng nhân ái và xót thương những con người bất hạnh Mỗi tác phẩm của ông như một bài thơ trữ tình đượm buồn, trong đó chủ yếu miêu tả những trạng thái tâm lí con người và thể hiện cảm quan hiện thực sâu sắc
“Xúc cảm của Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở từ những chân
cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghèo… Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, luôn trân trọng sự sống của mọi người xung quanh” – Nguyễn Tuân
Trang 2miêu tả cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp đời tàn, cuộc sống lam lũ, quẩn quanh nơi phố huyện, nhất là diễn biến tâm trạng của Liên và việc 2 chị em đêm nào cũng phải cố thức đợi chuyến tàu đi qua, nhà văn bộc lộ
tấm lòng “êm mát và sâu kín” đối với con người, đối với quê hương
Bằng 1 truyện ngắn trữ tình không có cốt truyện, Thạch Lam đã thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quẩn quanh, tăm tối ở phố huyện nghèo đói trước CM Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng ước mơ đổi đời tuy còn mơ hồ của họ
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN
1 TÁC GIẢ
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại với những đóng góp xuất sắc trong cả 2 giai đoạn trước và sau năm 1945 Ông là một nghệ sĩ chân chính suốt đời đi tìm kiếm cái đẹp Nguyễn Tuân có phong cách nghệ thuật độc đáo, trong đó nổi bật nét tài hoa uyên bác, ông chủ yếu khám phá và miêu tả con người ở vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ
Ông góp phần không nhỏ “thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao ; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc ; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách tài hoa và độc đáo”
Năm 1996, Nguyễn Tuân được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT
Trang 3 Các tác phẩm chính: Một chuyến đi, Thiếu quê hương, Chiếc lư đồng mắt cua, Vang bóng một thời, Sông Đà, HN ta đánh Mĩ giỏi,…
2 TÁC PHẨM
CNTT là truyện ngắn đứng vào hàng kiệt tác của văn xuôi VN hiện đại Tác phẩm ra đời vào lúc văn xuôi đang hoàn tất quá trình hiện đại hóa, nó gieo vào lòng bạn đọc niềm tin vào tương lai của nền văn học nước nhà
CNTT được rút từ tập truyện ngắn Vang bóng một thời mà nghệ thuật viết văn đã đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ (Vũ Ngọc Phan)
VBMT là tác phẩm đầu tay và cũng là tập truyện ngắn tiêu biểu nhất, thể hiện đậm nét một phương diện chính yếu của tư tưởng và PCNT của Nguyễn Tuân trước CMT8 1945 VBMT gồm 11 truyện ngắn viết
về những vẻ đẹp của 1 thời đã qua mà nay chỉ còn vang bóng Nhân vật chính trong các truyện phần lớn là những nho sĩ tài hoa, bất đắc chí Gặp lúc Hán học suy vi, sống giữa buổi “Tây Tàu nhố nhăng”, những con người này tuy buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với XH đương thời, vẫn cố giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” Họ dường như cố ý lấy “cái tôi” tài hoa, ngông nghênh của mình để đối lập với XH phàm tục ; phô diễn lối sống đẹp, thanh cao như một thái độ phản ứng trật tự XH đương thời Trong số những con người tài hoa ấy, nổi bật lên hình tượng ông Huấn Cao trong CNTT, 1 nghệ sĩ thư pháp, một trang anh hùng, tuy chí lớn không thành nhưng vẫn hiên ngang, bất khuất
Bằng nghệ thuật dựng người, dựng cảnh và cách sử dụng ngôn ngữ
Trang 4điêu luyện, truyện ngắn CNTT đã ngợi ca Huấn Cao – 1 con người tài hoa, hiên ngang bất khuất và có “cái tâm” trong sáng
Qua đó, Nguyễn Tuân KĐ sự bất tử của cái đẹp, cái thiện và bộc lộ tấm lòng yêu nước thầm kín, thiết tha
HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA – VŨ TRỌNG PHỤNG
1 TÁC GIẢ
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn có tài năng và phong cách nghệ thuật độc đáo, là cây bút văn xuôi có sức sáng tạo dồi dào trong giai đoạn 30 – 45 Bằng sự nghiệp sáng tác phong phú về thể loại, đồ sộ về số lượng và đặc sắc về bút pháp nghệ thuật, Vũ Trọng Phụng đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại
Vũ Trọng Phụng viết nhiều thể loại nhưng đặc biệt thành công ở phóng sự
và tiểu thuyết – về phóng sự, ông được coi là ông vua phóng sự đất Bắc
Về tiểu thuyết, ông có những tiểu thuyết được coi là kiệt tác
2 TÁC PHẨM
Tiểu thuyết “Số đỏ” (1936) được coi là kiệt tác trào phúng của văn xuôi Việt Nam hiện đại, trong đó nhà văn đã sử dụng thành công nhiều thủ pháp nghệ thuật trào phúng từ văn hoá dân gian như phóng đại, hiểu nhầm, nói ngược kết hợp với bút pháp hiện đại như dùng giọng giễu nhại, mỉa mai, tạo những tình huống đối lập, xây dựng những tình huống phản diện mang tính chất biếm hoạ Nguyễn Khải đã xác định “Số đỏ là một cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học”
Trang 5 Đoạn trích thuộc chương 15 của tiểu thuyết “Số đỏ”, có nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – một đám ma gương mẫu” Thông qua mâu thuẫn trào phúng và những chân dung biếm hoạ của một đám ma gương mẫu, Vũ Trọng Phụng đã phê phán mạnh mẽ, sâu sắc bản chất lố lăng, tàn bạo của XH thượng lưu Việt Nam 1945
Mâu thuẫn trào phúng đã xuất hiện khi “hạnh phúc” xuất phát từ một tang gia với mối quan hệ nhân quả - đám tang mà nhộn nhịp, tưng bừng – đó là
sự trái tự nhiên, trái với lẽ thường, cũng là tình huống tạo nên tấn bi hài kịch của nhân tình, thế thái, của đạo lý luân thường khi cái chết trở thành đại hỉ, tang tóc trở thành niềm vui trong sự chờ đợi mong mỏi của đám con cháu đại bất hạnh Đó là niềm “hạnh phúc của một tang gia” vô phúc!
Bằng nghệ thuật trào phúng sắc bén, qua chương “Hạnh phúc của một tang gia”, Vũ Trọng Phụng đã phê phán mãnh liệt bản chất bất nhân, giả dối và sự lố lăng, đồi bại của XH “thượng lưu” ở thành thị những năm trước CM
CHÍ PHÈO – NAM CAO
1 TÁC GIẢ
Là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại với những đóng góp xuất sắc trong dòng văn học hiện thực phê phán 30 – 45 cũng như văn học cách mạng giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp
Trang 6 Ngòi bút của Nam Cao tỉnh táo sắc lạnh, nặng trĩu suy tư nhưng cũng đằm thắm tình thương yêu Đó là nguyên nhân tác phẩm của ông vừa thi vị vừa thấm đẫm phong vị trữ tình
Cuộc sống đói nghèo, tăm tối, số phận bi thảm và những phẩm chất đẹp
đẽ của người nông dân là một trong 2 đề tài chính trong sáng tác của Nam Cao trước 1945
2.2 NHAN ĐỀ
Lúc đầu tác phẩm có tên là “Cái lò gạch cũ”, một nhan đề gợi những liên tưởng chua xót về cái vòng luẩn quẩn bế tắc trong xã hội khi cái lò gạch cũ là nơi sinh ra Chí Phèo bố và cũng có thể tiếp tục là nơi sinh ra Chí Phèo con Sau khi đưa in, nhà xuất bản Đời Mới đổi thành “Đôi lứa xứng đôi”, với đôi chút bỡn cợt về mối tình chua xót, cảm động giữa Chí Phèo và Thị Nở Đến khi in lại trong tập “Luống cày” (1946), Nam Cao đặt tên mới là Chí Phèo – tên nhân vật chính mang ý nghĩa điển hình cho tính cách, số phận của một bộ phận nhân dân Việt Nam trước 1945
Trang 72.3 CHỦ ĐỀ, TƯ TƯỞNG:
Tác phẩm đã phản ánh chân thực bức tranh cuộc sống của làng quê Việt Nam trước cách mạng với những mâu thuẫn giai cấp gay gắt và tình trạng tha hóa khá phổ biến trong xã hội Tác phẩm cũng thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao khi nhà văn đi sâu khám phá và khẳng định bản chất lương thiện đẹp đẽ của người nông dân ngay cả khi bị vùi dập đến mất cả nhân hình
và nhân tính
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã làm sáng lên chuỗi ngày tăm tối của Chí
Phèo Tình yêu của người đàn bà khốn khổ này đã góp phần làm cho bản chất lương thiện trong Chí Phèo thức tỉnh Trong tuyệt vọng, bế tắc, Chí Phèo đã đâm chết BáKiến và tự kết liễu cuộc đời mình
Khắc họa sinh động quá trình thức tỉnh này bằng bút pháp miêu tả tâm
lí sắc sảo, Nam Cao đã KĐ mạnh mẽ bản chất tốt đẹp của người LĐ, ngay khi tưởng chừng họ đã bị XH tàn bạo biến thành quỷ dữ
ĐỜI THỪA – NAM CAO
1 TÁC GIẢ
Sáng tác của Nam Cao trước cách mạng thường xoay quanh 1 trăn trở về tình trạng con người bị huỷ hoại về nhân phẩm do sự chi phối của đói nghèo Niềm trăn trở ấy đặc biệt nhức nhối, sâu sắc trong mảng sáng tác về đời sống trí thức và bi kịch sống mòn Đây cũng là đề tài thấm thía sự trải nghiệm của nhà văn
2 TÁC PHẨM
Trang 8“Đời thừa” là 1 truyện ngắn tiêu biểu cho mảng sáng tác của Nam Cao về đời sống của người trí thức nghèo trước cách mạng, cũng là truyện ngắn thể hiện
rõ nét sở trường của Nam Cao trong nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật, nghệ thuật tạo lời văn giàu tính triết lý
Thông qua bi kịch của nhân vật Hộ, tác phẩm đã thể hiện lời tố cáo gay gắt cái xã hội phi nhân tính đã bóp chết mọi ước mơ, huỷ hoại ý nghĩa
Trang 9cuộc sống chân chính của con người, đầu độc tâm hồn con người và những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người
Không chỉ thể hiện niềm thương cảm với những bi kịch đau khổ của người trí thức nghèo, Nam Cao còn đem đến cho tác phẩm những giá trị nhân đạo sâu sắc khi bày tỏ niềm tin yêu, trân trọng với người trí thức trung thực, tự trọng, luôn bằng mọi cách chống lại sự tha hoá, luôn cố gắng giữ vững lẽ sống nhân đạo của mình
Trong truyện ngắn “Đời thừa”, thông qua nhân vật Hộ, Nam Cao cũng trực tiếp phát biểu những ý kiến tiến bộ, sâu sắc, mới mẻ về quan điểm nghệ thuật, quan điểm sáng tác khi đề cao ý nghĩa xã hội của văn chương, khi đưa ra chuẩn mực về 1 tác phẩm có giá trị, về phẩm chất của nhà văn
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI (TRÍCH “VŨ NHƯ TÔ”) – NGUYỄN HUY TƯỞNG
1 TÁC GIẢ
Nguyễn Huy Tưởng xuất thân từ một gia đình nhà nho, quê ở Bắc Ninh Ông tham gia CM và hoạt động văn hóa từ khi còn rất trẻ, có những đóng góp quan trọng cho văn học VN hiện đại
Văn phong của ông giản dị, trong sáng, giàu chất lãng mạn
NHT có thiên hướng rõ rệt về đề tài lịch sử, khao khát sáng tạo được
những tác phẩm có quy mô lớn, dựng được những hình tượng hoành tráng
Trang 10về lịch sử dân tộc Ông có nhiều thành công hơn ở thể loại tiểu thuyết và kịch
Các tác phẩm chính: các vở kịch Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Những người ở lại, Lũy hoa (kịch bản phim) ; các tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư, Sống mãi với Thủ đô ; kí Kí sự Cao – Lạng ; truyện thiếu nhi Tìm mẹ, Lá
đã chỉ ra và gợi cho các nhà văn cùng nhau thảo luận Con đường đó là
“Nghệ thuật vị nhân sinh” Do đó, nhiều tác phẩm của ông mặc dù có hạn chế về thời đại nhưng đã ánh lên những tư tưởng của quan điểm nghệ thuật tiến bộ này
Câu chuyện kịch được nhà văn khai thác trong quá khứ, lịch sử nước ta
Đó là sự kiện xảy ra dưới triều Lê, năm 1516 – 1517 (đầu thế kỷ 16)
Ý nghĩa chung của vở kịch: Vở kịch nêu lên 2 mâu thuẫn lớn:
Đời sống xa hoa, truỵ lạc của bọn tham quan, bạo chúa >< đời sống cơ cực, thống khổ của nhân dân…dẫn đến những cuộc bạo loạn, xã hội rối ren (Thể hiện ở những đoạn trước của vở kịch)
Trang 11 Niềm khao khát của người nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp >< lợi ích trực tiếp
và thiết thực của đời sống nhân dân (thể hiện rõ nhất ở hồi V, đoạn trích trong SGK)
“Vũ Như Tô” là bi kịch của người nghệ sĩ không giải quyết được đúng mối quan hệ giữa lí tưởng, khát vọng nghệ thuật và hiện thực
XH, giữa người nghệ sĩ và người công dân Qua đó, KĐ rằng nghệ thuật chân chính, có giá trị lâu dài phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân và lợi ích của dân tộc
Việc khai thác và phát triển 2 mâu thuẫn chính lồng vào nhau (mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân và tập đoàn thống trị, mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật và thực tế XH), qua ngôn ngữ và hành động nhân vật, đã làm nên kịch tính và sức hấp dẫn của tác phẩm
VỘI VÀNG – XUÂN DIỆU
1 TÁC GIẢ
Xuân Diệu là nhà thơ lớn của thi ca Việt Nam hiện đại trong giai đoạn
32 – 45 Ông được coi là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới Hoài Thanh từng nhận xét: “Xuân Diệu là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy… Xuân Diệu say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình.” Yêu cuộc sống, khao khát tận hưởng cuộc sống nhưng lại luôn hoài nghi, chán nản, lo
âu, luôn sợ thiếu thời gian cho tình yêu là nét đặc sắc trong cả tứ thơ Xuân Diệu
Nói đến Xuân Diệu là nói đến sự kết hợp giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại Nhưng trong đó đậm nét hơn là chất hiện đại Đây là ngòi bút
Trang 12đã đúc kết được tinh hoa của cả thơ phương Tây và thơ truyền thống trong tư tưởng và quan niệm thẩm mĩ
mới ít thấy trong thơ ca truyền thống Vội vàng là lời giục giã hãy sống
cao độ từng giây, từng phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ ; qua đó thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ của một hồn thơ “yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt” Tư tưởng đó được thể hiện qua giọng điệu thơ sôi nổi, nhịp thơ hăm hở và những hình ảnh táo bạo, đầy cảm giác
“Vội vàng” là lời giục giã hãy sống cao độ từng giây, từng phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ; qua đó thể hiện một quan niệm nhân sinh mới mẻ của một hồn thơ “yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt” Tư tưởng đó được thể hiện qua giọng điệu thơ sôi nổi, nhịp thơ hăm hở và những hình ảnh táo bạo, đầy cảm giác
ĐÂY THÔN VĨ DẠ - HÀN MẶC TỬ
1 TÁC GIẢ
Trang 13 Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới, tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, quê ở Quảng Bình, sinh ra trong một gia đình viên chức nghèo theo đạo Thiên Chúa
Hàn Mặc Tử có hai mươi tám tuổi đời và là thi sĩ hoạn nạn nơi trần thế nhưng ông là một tài năng thi ca độc đáo và có sức sáng tạo mãnh liệt nhất trong phong trào Thơ mới Thế giới thơ Hàn Mặc Tử đầy những bí
ẩn, phức tạp đan xen cả những gì thân thuộc trong sáng với những u ám, thê lương Thực ra đó đều là những sự phản ánh chân thực tâm hồn của một nhà thơ chan chứa yêu đời, yêu cuộc sống nhưng số phận lại quá bất hạnh và nghiệt ngã Vì thế trong thơ ông luôn tồn tại đồng thời cả tình yêu đời mãnh liệt cùng nỗi đau đớn quằn quại khi phải chia lìa xa cách với cuộc đời
Những tác phẩm chính: Gái quê, Thơ Điên (sau đổi tên là Đau thương), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên…
2 TÁC PHẨM
Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên là Ở đây thôn Vĩ Dạ) sáng tác năm 1938,
in trong tập Thơ Điên, là một tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử
và cũng là một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại
Thôn Vĩ Dạ nằm ở ngoại vi thành phố Huế, bên bờ sông Hương Làng có những ngôi nhà xinh xắn ẩn hiện giữa những vường cảnh, cây trái xum xuê và rất đẹp Theo tài liệu của một số nhà nghiên cứu, bài thơ Đây thôn
Vĩ Dạ được gợi cảm hứng từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử và một cô gái tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ Sở Đạc điền, người Huế Sau hai năm vào Sài Gòn làm báo, Hàn Mặc Tử trở lại Quy Nhơn thì Hoàng Cúc đã theo gia đình về ở Vĩ Dạ Một buổi kia, cô gái Huế do sự
Trang 14gợi ý của người em thúc bá (bạn của Hàn Mặc Tử) gửi vào cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp phong cảnh sông nước có thuyền và bến kèm theo mấy lời hỏi thăm để an ủi nhà thơ lúc này đã mắc căn bệnh hiểm nghèo Sau đó, Hoàng Thị Kim Cúc nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ do Hàn Mặc Tử tặng kèm theo mấy dòng cảm tạ chân thành Như vậy, tấm ảnh phong cảnh và lời thăm hỏi Hoàng Cúc đã gợi cảm hứng cho Hàn Mặc Tử viết bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, thể hiện tình yêu thầm kín và tâm trạng của mình trong cảnh ngộ éo le, bất hạnh
Bằng tình yêu tha thiết đối với cuộc đời, HMT để lại cho thơ ca một bức tranh đẹp và thơ mộng về xứ Huế qua những câu thơ tài hoa của “Đây thôn Vĩ Dạ” Bài thơ còn như 1 thông điệp của tâm hồn thi sĩ gửi đến người đời: Hãy cảm thông và chia sẻ nỗi đau thương với những linh hồn bất hạnh
TRÀNG GIANG – HUY CẬN
1 TÁC GIẢ
Huy Cận là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam hiện đại, là gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới 32 – 45 Thơ ông vừa phảng phất màu sắc Đường thi cổ điển vừa mang hình ảnh con người ảo não, cô đơn của văn học lãng mạn
Trước 1945, thơ Huy Cận luôn bị chi phối bởi cảm hứng vũ trụ với những khắc khoải của không gian và nỗi sầu nhân thế, đó là sự đối lập giữa thiên nhiên bao la, hoang vắng, buồn bã và những kiếp người nhỏ bé, cô đơn
2 TÁC PHẨM
Trang 152.1 XUẤT XỨ VÀ VỊ TRÍ
Tràng Giang là 1 trong những kiệt tác của thi ca hiện đại của thơ mới, cũng là kiệt tác của Huy Cận trước 45, được in trong tập “Lửa thiêng” (1940)
2.2 GIÁ TRỊ
Thông qua bức tranh thiên nhiên và thấp thoáng đâu đó hình ảnh cuộc sống con người trong 1 buổi chiều buồn ở 1 vùng bến bãi sông nước mênh mông, được thể hiện bằng 1 bút pháp nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại, Huy Cận đã thể hiện nỗi buồn ảo não cô đơn của mình trước cuộc đời, thiên nhiên và vũ trụ, cũng kín đáo bộc lộ tình yêu với quê hương, đất nước
2.3 NHAN ĐỀ: TRÀNG GIANG (SÔNG DÀI)
Vần “ang” điệp lại tạo không gian mênh mông, trải dài, vô cùng vô tận, gợi nỗi buồn cô đơn (Tràng Giang – sông dài, sông rộng)
Dòng sông không chỉ trôi chảy trong không gian mà còn trôi chảy trong dòng thời gian miên viễn, vĩnh hằng, xưa cũ vô cùng của thế giới cổ thi
nhan đề vừa gợi hình, vừa gợi cảm
“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Lẫn lộn giữa trạng thái, nỗi
buồn bã, những nuối tiếc, nhớ nhung, có nỗi nhớ từ cái rộng của bầu trời
và cái dài của sông không gian vô cùng vô tận
Vế thứ 2 là hình ảnh của không gian vô cùng vô tận, cái dài rộng mênh mông của đất trời, là nỗi nhớ dẫn đến nỗi cô đơn, buồn bã của Huy Cận
Thể hiện cảm hứng bao trùm của hồn thơ Huy Cận
Trang 16Bằng bài thơ “Tràng giang” vừa cổ điển, vừa hiện đại, Huy Cận đã thể hiện nỗi sầu nhân thế, nỗi buồn mênh mông trước vũ trụ rộng lớn, niềm khao khát gắn bó với cuộc đời và tình yêu đối với quê hương, đất nước
TƯƠNG TƯ – NGUYỄN BÍNH
1 TÁC GIẢ
Trong các nhà thơ mới, Nguyễn Bính được xem là tiếng thơ “quen nhất”,
vì thơ ông vừa là tiếng nói của thời đại mới, lại vừa như có sẵn đâu đó trong dân gian bao đời rồi
Theo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, Nguyễn Bính đã tích hợp và phát huy một cách xuất sắc những truyền thống dân gian trong sáng tạo thơ mới Trong phong trào Thơ mới 32 – 45, có một dòng “thơ quê” với
bộ tứ Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân và Nguyễn Bính nhưng mỗi
người một vẻ: Anh Thơ là nữ sĩ của cảnh quê, Đoàn Văn Cừ là thi sĩ của
nếp quê, Bàng Bá Lân là thi sĩ của đời quê, còn Nguyễn Bính là thi sĩ của hồn quê Hồn quê ấy hòa quyện từ nội dung đến hình thức, từ giọng điệu
đến lối nói, lời nói khiến thơ Nguyễn Bính vừa là tiếng nói của thời đại mới lại vừa như là của ngàn xưa
2 TÁC PHẨM
Bài thơ “Tương tư” rút trong tập “Lỡ bước sang ngang” (1940) rất tiêu biểu cho phong cách thơ “chân quê” của Nguyễn Bính Bài thơ được viết theo thể lục bát – thể thơ sở trường của Nguyễn Bính
Bằng tài hoa và tâm huyết với thơ ca dân gian, Nguyễn Bính là một trong số
ít các nhà thơ mới giữ được chút “hương đồng gió nội” cho thơ mình Sức
Trang 17hấp dẫn của bài Tương tư không chỉ là ở chuyện “tương tư” mà còn ở tấm lòng tha thiết của nhà thơ với quê hương, với người, với cảnh, ở sự nâng niu, trân trọng của nhà thơ đối với nghệ thuật dân tộc
NHẬT KÍ TRONG TÙ – CHIỀU TỐI (MỘ) – LAI TÂN – HỒ CHÍ MINH
1 TÁC GIẢ
Hồ Chí Minh là lãnh tụ CM vĩ đại, cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Năm 1990, Tổ chức UNESCO đã suy tôn Người là “anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn” Sự nghiệp văn chương Người để lại rất phong phú, đa dạng về thể loại, đặc sắc về phong cách nghệ thuật
2 TÁC PHẨM
2.1 TẬP “NHẬT KÍ TRONG TÙ”
HOÀN CẢNH SÁNG TÁC
Sau 30 năm hoạt động CM ở nước ngoài, tháng 2/1941, Nguyễn Ái Quốc
về nước, sống và hoạt động tại huyện Hà Quảng (Cao Bằng) Tháng 8/1942, lãnh tụ CM Nguyễn Ái Quốc lên đường sang Trung Quốc với danh nghĩa là đại biểu của VN Độc lập Đồng minh và Phân ban quốc tế phản xâm lược VN để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế Đến Túc Vinh (Quảng Tây), Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, bị giải
đi nhiều nhà tù trong tỉnh, chịu vô vàn khổ cực Gần 13 tháng ở trong tù (từ tháng 8/1942 đến tháng 9/1943), Hồ Chí Minh đã sáng tác 135 bài thơ bằng chữ Hán (kể cả bài “Tân xuất ngục, học đăng sơn”) hợp thành một tập thơ đặt tên là “Ngục trung nhật kí” (Nhật ký trong tù)
Trang 18 ĐỀ TÀI
NKTT trước hết là một tập nhật kí bằng thơ, vừa mang các đặc điểm của nhật kí vừa mang các đặc điểm của thơ trữ tình Xét về đề tài, tập thơ có bốn đề tài chính:
Những hiện tượng ngang trái trong XH và trong nhà tù
Nỗi niềm và tâm trạng của nhà thơ
Những giãi bày về nhiệm vụ sang Trung Quốc
Những bài thơ thù tiếp
Tập thơ vừa ghi lại nhiều sự việc, cảnh tượng cụ thể hằng ngày trong tù (cũng như trên đường chuyển lao) theo trình tự thời gian, không gian vừa
là tâm sự của nhà thơ Có nhiều bài tả thực, có nhiều bài bộc lộ cảm xúc,
tâm trạng nhưng nội dung chính của tập thơ là bức chân dung tinh thần tự
họa của tác giả Tập thơ được dịch ra tiếng Việt và in lần đầu năm 1960
Tập thơ cũng được dịch và in bằng nhiều thứ tiếng ở nhiều nước
2.2 CHIỀU TỐI (MỘ)
Chiều tối là bài thơ thứ 31 của tập thơ viết về thiên nhiên, được gợi cảm
hứng từ một buổi chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào một chiều cuối thu năm 1942 Cũng như đa số các bài thơ trong tập Nhật kí, Chiều tối được viết theo thể cổ điển, tính hàm súc cao
Bài “Mộ” thể hiện bản lĩnh và tâm hồn cao đẹp của người tù chiến sĩ – nhà thơ Hồ Chí Minh: tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên trên hoàn cảnh khổ cực của bản thân Bài thơ có vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại
2.3 LAI TÂN
Lai Tân là 1 bài thơ mang tên 1 địa phương mà lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trải qua trên con đường chuyển lao từ Thiên Giang đến Liễu Châu Đây là
Trang 19bài thứ 97 của tập thơ, cho thấy hiện trạng đen tối, thối nát của một XH
nhìn bề ngoài tưởng là “thái bình”
Lai Tân là 1 bài thơ tiêu biểu cho bút pháp châm biếm, đả kích của HCM
trong NKTT
TỪ ẤY – TỐ HỮU
1 TÁC GIẢ
Tố Hữu là nhà thơ lớn của nền thơ hiện đại Việt Nam Sự nghiệp thơ
ca của Tố Hữu gắn liền với sự nghiệp CM của Đảng, của dân tộc ta
Với 7 tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta – thơ ông được xem là biên niên sử bằng thơ của
CM VN Đối với Tố Hữu, con đường thơ ca cũng là con đường CM
Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho phong cách trữ tình – chính trị, thường viết
về lẽ sống, lí tưởng, tình cảm CM của con người VN hiện đại Thơ ông mang đậm chất dân tộc truyền thống (thể thơ cổ điển, dân gian ; ngôn ngữ quần chúng)
Ông được trao nhiều giải thưởng cao quý: Giải thưởng HCM về VHNT (1996), Giải thưởng văn học ASEAN,…
Trang 20ngôn nghệ thuật của một nhà thơ Từ đó cho đến khi “tạm biệt đời yêu quý nhất”, TH đã sống và sáng tác theo đúng định hướng ấy của bài thơ
TH được giác ngộ và bắt đầu hoạt động CM vào năm 1937 Tháng 7/1938 là thời điểm TH được kết nạp vào Đảng CS Đông Dương, “Từ ấy” chính là cái mốc đánh dấu thời điểm đó Sau này, trong bài “Câu chuyện về thơ”, TH viết: “Từ ấy là 1 tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh”
Bài thơ “Từ ấy” là tâm niệm của 1 người thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng CM Nó thể hiện niềm vui sướng, say mê mãnh liệt, những nhận thức và tình cảm mới của Tố Hữu khi có ánh sáng lí tưởng CM soi rọi Sự vận động ấy của tâm trạng nhà thơ được thể hiện bằng những hình ảnh tươi sáng, rực rỡ; các biện pháp tu từ và ngôn ngữ giàu nhạc điệu
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
Trang 21mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đọc bản TNĐL trước hàng chục vạn đồng bào
Đây cũng là lúc hoàn cảnh nước ta rất phức tạp Bọn thực dân đế quốc đang âm mưu xâu xé Việt Nam, nấp sau danh nghĩa quân Đồng minh vào tước khí giới quân Nhật Phía bắc là quân đội Quốc dân Đảng, tay sai của quân đội Mĩ đã trực sẵn ở biên giới chuẩn bị vào Việt Nam, tiến vào từ phía nam là quân đội Anh, phía sau là lính viễn chinh Pháp Thực dân Pháp để chuẩn bị cho cuộc xâm lược lần thứ 2 đã đưa ra 1 chiêu bài rất dễ đánh lừa công luận quốc tế: Pháp có công khai hoá Đông Dương, đây vốn
là đất bảo hộ của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng Đồng minh, Pháp đương nhiên có quyền trở lại Đông Dương thay thế quân đội Nhật
“Tuyên ngôn độc lập” của chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch
sử tuyên bố trước đồng bào trong nước và cả thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước VN mới
Tác phẩm là một áng văn chính luận mẫu mực: lập luận chặt chẽ, lí
lẽ đanh thép, ngôn ngữ hùng hồn, vừa tố cáo mạnh mẽ tội ác của
Trang 22thực dân Pháp, ngăn chặn âm mưu tái chiếm nước ta của các thế lực thù địch và các phe nhóm cơ hội quốc tế, vừa bộc lộ tình cảm yêu nước, thương dân và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của tác giả và toàn dân tộc
TÂY TIẾN – QUANG DŨNG
1 TÁC GIẢ
Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, viết văn, soạn nhạc… Nhưng hơn hết, ông vẫn là một nhà thơ xuất sắc của thi ca Việt Nam hiện đại, một nhà thơ trưởng thành từ trong kháng chiến chống Pháp, một hồn thơ phóng khoáng và tâm huyết, một tiếng thơ tinh tế mà lãng mạn
2 TÁC PHẨM
Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng, thể hiện tập trung những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ “Tây Tiến” cũng là một trong những bài thơ hay nhất về đề tài người lính trong thơ ca kháng chiến chống Pháp
Hoàn cảnh sáng tác:
Tây Tiến là một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, có nhiệm
vụ phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng quân Pháp ở Thượng Lào và miền Tây Bắc Bộ Việt Nam Địa bàn đóng quân và hoạt động của trung đoàn là miền rừng núi hiểm trở của biên giới Việt – Lào bao gồm các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa và Sầm Nưa Sau một thời gian hoạt động ở Lào, đoàn quân Tây Tiến đã trở về Hòa Bình, thành lập trung đoàn 52
Trang 23 Chiến sĩ “Tây Tiến” phần đông là học sinh, thanh niên Hà Nội nên tâm hồn mang đậm nét lãng mạn, hào hoa Bài thơ được viết trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đời sống của bộ đội còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt đơn vị Tây Tiến phải hiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội Tuy vậy họ vẫn rất lạc quan, chiến đấu rất dũng cảm với tinh thần: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh
Năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng của trung đoàn Tây Tiến, tới cuối năm 1948 ông được lệnh chuyển sang đơn vị khác Một thời gian sau, khi đang ở Phù Lưu Chanh – 1 làng thuộc tỉnh Hà Đông, nhớ đơn
vị cũ, Quang Dũng đã viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến” Năm 1957, khi in lại trong tập “Mây đầu ô”, tác giả đã đổi nhan đề bài thơ là “Tây Tiến” Hoàn cảnh sáng tác cho thấy rõ hơn nỗi nhớ da diết của nhà thơ với đơn
vị cũ và mảnh đất miền Tây đầy kỉ niệm Nỗi nhớ đã trở thành cảm xúc trữ tình xuyên suốt bài thơ Hoàn cảnh sáng tác cũng đồng thời giúp người đọc hiểu rõ hơn vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến, hiểu được nguyên nhân của bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn – những yếu tố làm nên tính bi tráng cho bài thơ
Bằng cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ của núi rừng miền Tây Người lính của một thời “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã đi vào bài thơ như một kỉ niệm đẹp của kháng chiến, một tiếng thơ bi tráng của một nền thơ